Tổng hợp các mẫu hợp đồng
HỢP ĐỒNG NHẬP KHẨU MUA THIẾT BỊ ĐIỆN LẠNH
Số: [SO HD]
Ngày:[NGAY THANG NAM]
Giữa các bên:
Tên cơ quan (doanh nghiệp): [TEN DOANH NGHIEP]
Tel: [SO DT] Fax: [SO FAX]
Telex: [SO TELEX]
Đại diện bởi ông: [HO VA TEN] Chức vụ: [GIAM DOC HAY TONG GIAM DOC]
sau đây được gọi là Bên mua.
Tên cơ quan (doanh nghiệp): [TEN DOANH NGHIEP]
Tel: [SO DT] Fax: [SO FAX]
Telex: [SO TELEX]
Đại diện bởi ông: [HO VA TEN] Chức vụ: [GIAM DOC HAY TONG GIAM DOC]
Sau đây được gọi là Bên bán.
Hai bên đã nhất trí như sau:
Điều 1: Đối tượng của hợp đồng
Bên mua đồng ý mua và Bên bán đồng ý bán những trang thiết bị và phụ
tùng dưới đây với giá cả ghi trong Điều này với những điều kiện quy định trong
Điều 2 hay những quy định khác ở những điều khoản khác của hợp đồng này.
SỐ TT
MÔ TẢ CHI TIẾT
SỐ LƯỢNG
GIÁ USD/CIF
này.
3.3/ Việc lắp đăt thiết bị máy móc trên đây sẽ do bên mua thực hiện, tuân thủ theo
những hướng dẫn của bên bán và theo quy định trong tài liệu kỹ thuật do bên bán cung cấp.
Điều 4: Giao hàng, thông báo giao hàng và bảo hiểm
4.1/ Bên bán sẽ gửi cho bên mua qua hệ thống phát nhanh DHL Express
theo địa chỉ trên đây bốn (04) bộ đầy đủ tài liệu kỹ thuật như được trong Điều 2
hợp đồng này trong vòng một (01) tháng sau khi bên bán nhận được thư tín dụng
đã được tu chỉnh hoàn hảo.
4.2/ Những trang thiết bị như ghi trong phụ lục số 1 của hợp này sẽ được giao lên tàu
trong vòng bốn (04) tháng kể từ khi bên bán đã nhận được thư tín dụng đã được tu chỉnh hoàn
hảo.
* Mười ngày trước ngày giao hàng theo lịch định trước. Bên bán sẽ gửi cho bên mua
một thông báo trước khi giao hàng. Nội dung thông báo gồm: tên con tàu dự định chở hàng,
mô tả tổng quát về hàng hóa sẽ giao, tên cảng khởi hành.
* Ngay sau khi xếp hàng lên tàu hoặc chậm nhất là 02 ngày sau khi tàu khởi hành, bên
bán sẽ thông báo cho bên mua bằng telex/fax về những chi tiết của việc giao hàng ấy, bao
gồm: tên tàu, số vận đơn đường biển và ngày ký phát vận đơn, trị giá trên hóa đơn , số lượng
kiện và trọng lượng các kiện, dự định giờ tàu khởi hành, dự định giờ tàu cập cảng…
4.3/ Những trang thiết bị trên đây không được giao từng phần và chuyển tải.
- Cảng đi: [TEN CANG DI]
- Cảng đến: [TEN CANG DEN]
4.4/ Bên bán sẽ có trách nhiệm bảo hiểm lô hàng, điều kiện bảo hiểm mọi
rủi ro quy định trong bộ luật những điều kiện bảo hiểm Loyds’ Institute cargo
clause (A), không khấu trừ, cho 110% giá trị theo hóa đơn, quy định thêm rằng
nếu xảy ra thiệt hại thì tiền bồi thường có thể lãnh tại [DIA DIEM] - Việt Nam.
Điều 5: Bao gói và ký hiệu
6.2/ Tổng giá trị hợp đồng này [SO TIEN] USD CIF, sẽ được bên mua
thanh toán cho bên bán hàng bằng thư tín dụng không hủy ngang có thời hạn [SO
NGAY] ngày sau ngày ký phát vận đơn. Bên mua xin mở thư tín dụng này qua
ngân hàng [TEN NGAN HANG MO THU TIN DUNG] tùy sự lực chọn của bên
mua.
* [SO NGAY] ngày sau khi ký kết hợp đồng, bên mua sẽ làm thủ tục mở thư tín dụng,
nếu không hợp đồng này sẽ bị vô hiệu mà không đem lại sự bồi hoàn nào cả.
* Những chứng từ thanh toán cần thiết sau thư tín dụng gồm:
- Phiếu đóng gói chi tiết;
- Giấy chứng nhận xuất xứ lô hàng;
- Giấy chứng nhận chất lượng do nhà sản xuất ấn hành, với lời cam kết bảo hành [SO
THANG BAO HANH] tháng vận hành thiết bị trên, tính từ khi thiết bị này đạt được công suất
quy định trong quá trình chạy thử.
- Hợp đồng bảo hiểm
- Thông báo giao hàng bằng telex/fax
- Biên nhận đã gửi DHL một bản gốc vận đơn đường biển và hai bộ chứng từ không
chuyển nhượng được, gửi trong vòng [SO NGAY] ngày sau khi xếp hàng lên tàu.
- Biên nhận đã gửi qua DHL cho bên mua bốn (04) bộ tài liệu kỹ thuật trong vòng [SO
NGAY THANG] sau khi bên bán nhận được thư tín dụng đã tu chỉnh hoàn hảo.
- Biên nhận của thuyền phó nhận chuyển cho bên mua ở cảng đến hai (02) bộ chứng từ
không chuyển nhượng được.
Điều 7: Lắp đặt và chạy thử
7.1/ Hàng hóa được chuyên chở đến theo hợp đồng sẽ được mở thùng tại
xưởng của bên mua với sự hiện diện của đại diện bên bán và/hoặc với nhân viên
của VINACONTROL. Một bảng báo cáo tương ứng sẽ được lập vào cuối buổi
kiểm tra và được từng bên ký vào. Bất kỳ sự thiếu hụt hoặc hư hỏng nào do lỗi
của bên bán hoặc của bên sản xuất sẽ được ghi nhận và sự đền bù sẽ được thực
hư hỏng, người bán sẽ phải chịu bồi thường cho việc trì hoãn thời gian sản xuất, tiền bồi
thường này do 2 bên thỏa thuận.
Điều 9: Bất khả kháng
9.1/ Hợp đồng không ràng buộc người bán và người mua nếu sự thực hiện
hợp đồng là không thể được vì lý do bất khả kháng nó bao gồm nhưng không chỉ
giới hạn trong chiến tranh, đình công lớn, hạn chế nhập khẩu, hỏa hoạn, thiên tai.
9.2/ Một giấy chứng nhận do một tổ chức có thẩm quyền hoặc Phòng Thương mại tại
nước người bán hoặc người mua cấp sẽ là bằng chứng có giá trị trong trường hợp này.
9.3/ Bên nào gặp bất khả kháng phải thông báo ngay cho bên kia biết trong vòng 10
ngày kể từ ngày xảy ra bất khả kháng. Nếu bất khả kháng được chính thức xác nhận là kéo dài
2 tháng liên tục kể từ ngày xảy ra, hợp đồng sẽ bị hủy bỏ mà không có bất kỳ sự khiếu nại nào,
trừ phi hai bên đồng ý khác đi sau đó.
Điều 10: Giải quyết tranh chấp
Bất kỳ sự tranh chấp nào phát sinh từ hợp đồng này sẽ được giải quyết một
cách hữu nghị giữa hai bên. Nếu có tranh chấp nào không thể giải quyết được, sẽ
được đem ra tòa án, hay trọng tài ở Hague, Nertherlands, theo luật hòa giải và
xét xử của tòa án thương mại quốc tế hiện hành vào thời gian xét xử. Quyết định
phân xử là quyết định cuối cùng và có giá trị ràng buộc hai bên.
Điều 11: Các khoản khác
Bất kỳ sự thay đổi hoặc sửa chữa nào đối với hợp đồng này phải được làm
thành văn bản (bao gồm telex/fax) và chịu sự đồng ý của hai bên. Những sự thay
đổi và sửa chữa này được xem như là một phần của hợp đồng.
Hợp đồng này được làm thành 4 bản có giá trị tương đương. Hai bản do người mua
giữ và hai bản do người bán giữ.
THAY MẶT NGƯỜI MUA
THAY MẶT NGƯỜI BÁN
1. Thế nào hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế?
Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là sự thoả thuận ý chí giữa các thương nhân có trụ sở kinh
doanh đặt ở các quốc gia khác nhau, theo đó một bên gọi là Bên xuất khẩu có nghĩa vụ giao hàng và
chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho một bên khác gọi là Bên nhập khẩu và nhận thanh toán; và Bên
nhập khẩu có nghĩa vụ thanh toán cho Bên xuất khẩu, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa
thuận.
Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là hợp đồng song vụ: mỗi bên ký kết hợp đồng đều có
nghĩa vụ đối với nhau. Bên xuất khẩu có nghĩa vụ giao hàng cho Bên nhập khẩu còn Bên nhập khẩu có
nghĩa vụ thanh toán cho Bên xuất khẩu
Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là hợp đồng có đền bù: bên có nghĩa vụ thì cũng có quyền
lợi và ngược lại. Bên nhập khẩu được hưởng quyền lợi nhận hàng và đổi lại phải có nghĩa vụ trả tiền
cân xứng với giá trị đã được giao. Ngược lại, Bên xuất khẩu nhận được tiền phải có nghĩa vụ giao
hàng.
2. Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế có những đặc điểm gì?
So với hợp đồng mua bán trong nước, hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế có những đặc điểm
khái quát như sau:
- Bản chất của hợp đồng là sự thoả thuận ý chí của các Bên ký kết. Đây là đặc trưng rất cơ bản
của hợp đồng nói chung và hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế nói riêng.
- Chủ thể của hợp đồng, Bên xuất khẩu và Bên nhập khẩu, là các thương nhân có trụ sở kinh
doanh đặt tại các quốc gia khác nhau. Nếu các bên không có trụ sở kinh doanh thì sẽ dựa vào nơi cư trú
của họ, còn quốc tịch của cá nhân người đại diện của các bên không có ý nghĩa trong việc xác định yếu
tố quốc tế của hợp đồng. Hai người trực tiếp ký vào hợp đồng có thể đều mang quốc tịch Việt Nam,
nhưng họ đại diện cho các bên có trụ sở kinh doanh đặt tại các quốc gia khác nhau thì hợp đồng ký kết
giữa các bên này vẫn là hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế.
- Đối tượng của hợp đồng là hàng hoá di chuyển qua biên giới hải quan của một nước. Biên
giới hải quan được hiểu là tập hợp các cửa khẩu, các văn phòng hải quan nơi mà hàng hoá phải được
tiến hành các thủ tục hải quan xuất nhập khẩu theo các quy chế quản lý hàng hoá xuất nhập khẩu của
Chính phủ các nước. Thuật ngữ “biên giới hải quan” được sử dụng xuất phát từ thực tiễn sự hình thành
các kho ngoại quan, các khu chế xuất, các đặc khu kinh tế và những quy chế hải quan đặc biệt dành cho
sự hoạt động của các khu vực này làm cho biên giới lãnh thổ không thật chính xác để xác định ranh
phần cuối hợp đồng. Ví dụ: Hợp đồng được lập tại Đà Nẵng vào ngày 8 tháng 3 thành 4 bản có hiệu
lực pháp lý như nhau, mỗi bên giữ hai bản (The present contract was made in Danang on March 8th
2007 in quadruplicate of equal force, two of which are kept by each party). Địa điểm ký kết hợp đồng
có ý nghĩa góp phần xác định nguồn luật điều chỉnh hợp đồng nếu các bên không thoả thuận nguồn luật
điều chỉnh trong hợp đồng, đó là luật nơi ký kết hợp đồng. Thông thường nếu các bên không có thoả
thuận gì khác về thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng thì thời điểm này tính từ thời điểm các bên
ký kết hợp đồng.
- Các bên ký kết hợp đồng: tên các bên ký kết, địa chỉ, số tel, số fax, địa chỉ email, số tài khoản
và tên ngân hàng, người đại diện ký kết hợp đồng
- Những định nghĩa dùng trong hợp đồng. Những định nghĩa này có thể rất nhiều, ví dụ "hàng
hóa" có nghĩa là..., "Thiết kế" có nghĩa là... . Chí ít người ta cũng đưa ra định nghĩa sau đây:
Công ty ABC, địa chỉ..., số điện thoại..., đại diện bởi Ông... dưới đây gọi là Bên bán (ABC
company, address..., Tel...represented by Mr. ...hereinafter referred to as the Seller)
- Cơ sở pháp lý để ký kết hợp đồng. Đây có thể là hiệp định ký kết giữa các Chính phủ, cũng
có thể là Nghị định thư ký kết giữa các Bộ thuộc các quốc gia khác nhau. Chí ít, người ta cũng nêu ra
sự tự nguyện của các bên khi ký kết hợp đồng. Ví dụ:
Các bên đã cùng nhau thỏa thuận rằng Bên bán cam kết bán và Bên mua cam kết mua những
hàng hoá dưới đây theo các điều khoản và điều kiện sau (It has been mutually agreed that the Seller
commits to sell and the Buyer commits to buy the undermentioned goods on the following terms and
conditions).
Phần các điều khoản và điều kiện quy định hệ thống các điều kiện giao dịch thương mại do hai
bên thoả thuận như: các điều khoản về hàng hoá như tên hàng, số lượng, phẩm chất, bao bì đóng gói
hàng hóa, ký mã hiệu, điều kiện kiểm tra số lượng, chất lượng...; các điều khoản tài chính như giá cả,
thanh toán...; các điều khoản vận tải, giao nhận và bảo hiểm như điều kiện giao nhận hàng, điều kiện cơ
sở giao hàng, điều kiện vận tải, điều kiện bảo hiểm ...; và các điều khoản pháp lý như luật áp dụng vào
hợp đồng, bất khả kháng, thưởng phạt, khiếu nại, trọng tài... Đây là phần quan trọng nhất của hợp
đồng. Các bên thường dành thời gian và công sức nhiều nhất cho phần này khi đàm phán, thoả thuận và
ký kết hợp đồng.
Phần kết của hợp đồng quy định các nội dung như:
- Số bản hợp đồng và số lượng hợp đồng giữ lại của mỗi bên.
+ Doanh nghiệp phải có mức vốn lưu động tối thiểu tính bằng tiền Việt Nam tương đương 200
000 USD tại thời điểm đăng ký kinh doanh xuất nhập khẩu. Riêng đối với các doanh nghiệp thuộc các
tỉnh miền núi và các tỉnh có khó khăn về kinh tế, các doanh nghiệp kinh doanh những mặt hàng cần
khuyến khích xuất khẩu mà không đòi hỏi nhiều vốn, mức vốn lưu động nêu trên được quy định tương
đương 100 000 USD;
+ Có đội ngũ cán bộ đủ trình độ kinh doanh, ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán ngoại
thương.
Đối với doanh nghiệp sản xuất, muốn được cấp Giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu cần
phải:
+ Được thành lập theo đúng luật pháp;
+ Có cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu ổn định và có thị trường tiêu thụ ở nước ngoài;
+ Có đội ngũ cán bộ đủ trình độ kinh doanh, ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán ngoại
thương.
Nếu có đủ 3 điều kiện trên, các doanh nghiệp sản xuất được quyền trực tiếp xuất khẩu hàng
hoá do mình sản xuất và nhập khẩu vật tư nguyên liệu cần thiết cho sản xuất của chính doanh nghiệp.
Như vậy, theo quy định tại Nghị định này những doanh nghiệp chưa có Giấy phép kinh doanh
xuất nhập khẩu không phải là chủ thể của hợp đồng mua bán ngoại thương. Mọi hợp đồng mua bán
ngoại thương do các doanh nghiệp này ký đều không có hiệu lực vì chủ thể ký kết phía Việt Nam
không hợp pháp. Và thực tế ở Việt Nam trong một thời gian đã tồn tại những doanh nghiệp được quyền
kinh doanh xuất nhập khẩu và những doanh nghiệp không được quyền kinh doanh xuất nhập khẩu.
- Nghị định 57/1998/NĐ-CP có hiệu lực pháp lý từ ngày 1/9/1998 đã tạo bước đột phá trong
quy định về quyền kinh doanh xuất nhập khẩu đối với thương nhân. Theo đó, thương nhân là doanh
nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, thành lập theo quy định của pháp luật, được phép xuất khẩu, nhập
khẩu hàng hoá theo ngành nghề đã ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh sau khi đã đăng ký
mã số doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh, thành phố, không phải xin Giấy
phép kinh doanh xuất nhập khẩu tại Bộ thương mại. Và kể từ ngày Nghị định 57 có hiệu lực pháp lý,
các Giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu do Bộ thương mại đã cấp hết hiệu lực thi hành. Như vậy,
theo Nghị định 57, quyền kinh doanh xuất nhập khẩu đối với thương nhân đã được mở rộng cho tất cả
được phép mua bán theo qui định của pháp luật của nước bên mua và nước bên bán.
Theo qui định của pháp luật Việt Nam, thương nhân được xuất khẩu nhập khẩu hàng hóa
không phụ thuộc vào ngành nghề đăng ký kinh doanh trừ hàng hóa thuộc Danh mục cấm xuất khẩu,
tạm ngừng xuất khẩu, hàng hóa thuộc Danh mục cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu. Đối với hàng
hóa xuất nhập khẩu theo giấy phép, thương nhân muốn xuất nhập khẩu phải có giấy phép của Bộ
thương mại hoặc các Bộ quản lý chuyên ngành. (Điều 3,4 Nghị Định 12/2006/NĐ-CP). Danh mục
hàng hoá cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu; Danh mục hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép của
Bộ thương mại; Danh mục hàng hoá thuộc diện quản lý chuyên ngành theo quy định của Việt Nam
được quy định trong phụ lục số 01, 02 và 03 ban hành kèm theo Nghị định 12/2006/NĐ-CP ngày
23/01/2006.
5- Nội dung của hợp đồng phải hợp pháp. Nội dung của hợp đồng phải tuân thủ nguồn luật
điều chỉnh hợp đồng. Nguồn luật điều chỉnh hợp đồng có thể được các bên thoả thuận quy định trong
hợp đồng. Khi nguồn luật điều chỉnh hợp đồng không được quy định trong hợp đồng thì áp dụng theo
quy tắc luật xung đột: "luật nước người bán", "luật nơi xảy ra tranh chấp", "luật nơi ký kết hợp đồng",
"luật nơi thực hiện nghĩa vụ".
Pháp luật Việt Nam cũng đã có sửa đổi khá cơ bản về yêu cầu đối với nội dung của hợp đồng
theo hướng phù hợp hơn với pháp luật quốc tế. Cụ thể:
- Theo quy định của Luật thương mại năm 1997 đã hết hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/1/2006,
hợp đồng mua bán hàng hoá phải có các nội dung chủ yếu là: tên hàng; số lượng; quy cách, chất lượng;
giá cả; phương thức thanh toán; địa điểm và thời hạn giao nhận hàng. Việc quy định hợp đồng phải có
6 nội dung không thể thiếu như trên mâu thuẫn với nguyên lý cơ bản của pháp luật thương mại, theo đó
quy định các chủ thể tham gia kinh doanh được tự do thoả thuận mọi giao dịch của mình. Mâu thuẫn rõ
ràng là giữa việc các chủ thể cùng lúc phải tuân thủ quy định bắt buộc gồm sáu nội dung của hợp đồng
với việc pháp luật đã trao cho các chủ thể quyền tự do thoả thuận hợp đồng. Hơn nữa, Công ước của
Liên Hiệp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế (gọi tắt là Công ước Viên 1980) hiện có hơn
60 nước phê chuẩn quy định tối thiểu về các nội dung bắt buộc này, chỉ xoay quanh ba điều khoản: tên
hàng; số lượng và giá cả (Điều 14 Công ước Viên 1980).
- Vì những lý do trên, để phù hợp hơn với pháp luật quốc tế cũng như tôn trọng nguyên tắc tự
Tổng cục hải quan, (1998), Các văn bản hướng dẫn thi hành Nghị định số 57/1998/NĐ-CP ngày
31/7/1998 của Chính Phủ và các quy định liên quan đến cải cách thủ tục hải quan ở cửa khẩu,
Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội.
[8]
Trần Thị Hoà Bình, Trần Văn Nam (đồng chủ biên), (2005), Giáo trình luật thương mại quốc tế, Nhà
xuất bản Lao động – Xã hội, Hà Nội.
[9]
UNIDROIT, Principles of International Commercial Contracts (PICC 1994).
[10]
Vũ Hữu Tửu, (2002), Kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội.
Hợp đồng mua bán quốc tế
WEDNESDAY, 23. JANUARY 2008, 07:51:28
, LAW, ERROR! BOOKMARK NOT DEFINED.
Hợp đồng mua bán quốc tế
Sale Contract
I. Khái quát về hợp đồng mua bán quốc tế
1. Khái niệm
Hợp đồng mua bán quốc tế còn gọi là hợp đồng xuất nhập khẩu hoặc hợp đồng mua bán ngoại thương là sự thoả
thuận giữa các đương sự có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau, theo đó một bên gọi là bên xuất khẩu (Bên
bán) có nghĩa vụ chuyển vào quyền sở hữu của một bên khác gọi là bên nhập khẩu (Bên mua) một tài sản nhất
định, gọi là hàng hoá; bên mua có nghĩa vụ nhận hàng và trả tiền hàng.
Ðịnh nghĩa trên đây nêu rõ:
Bản chất của hợp đồng này là sự thoả thuận của các bên ký kết (các bên đương sự).
Chủ thể của hợp đồng là Bên bán (bên xuất khẩu) và bên mua (bên nhập khẩu). Họ có trụ sở kinh doanh ở các
nước khác nhau. Bên bán giao một giá trị nhất định, và để đổi lại, bên mua phải trả một đối giá (Counter value)
cân xứng với giá trị đã được giao (Contract with consideration).
- Ðịa điểm và thời gian giao nhận hàng.
Ngoài ra các bên có thể thoả thuận thêm những nội dung, những điều khoản cho hợp đồng.
Về điều kiện (d) hình thức hợp đồng phải là hình thức văn bản. Ðó có thể là bản hợp đồng (hoặc bản thoả thuận )
có chữ ký của hai bên, cũng có thể là những thư từ, điện tín, điện chữ, thư điện tử bao gồm:
Chào hàng + Chấp nhận chào hàng = Hợp đồng đã giao kết
Hoặc
Ðặt hàng + Xác nhận đặt hàng = Error! Bookmark not defined.
3. Nội dung chủ yếu của một hợp đồng mua bán quốc tế
Một hợp đồng mua bán quốc tế thường gồm có hai phần: Những điều trình bày (representations) và các điều
khoản và điều kiện (terms and conditions)
· Trong phần những điều trình bày, người ta ghi rõ:
a. Số hợp đồng (contract No.).
b. Ðịa điểm và ngày tháng ký kết hợp đồng. Ðiều này có thể được ghi ngay trên cùng như:
Hà Nội June 20th 2003
hoặc
“The present contract was made and entered into at Hanoi on this June 20th 2003 by and between”.
Cũng có nhiều trường hợp, người ta lại ghi địa điểm và ngày tháng ký kết ở phần cuối hợp đồng. Ví dụ:
The present contract was made at Hanoi on June 20th 2003 in quadruplicate of equal force, two of which are kept
by each party”.a. Tên và địa chỉ của các đương sự.
d. Những định nghĩa dùng trong hợp đồng. Những định nghĩa này có thể rất nhiều, ví dụ hàng hoá có nghĩa là
thiết kế có nghĩa là. Chí ít, người ta cũng đưa ra định nghĩa sau đây:
“ABC company, address…, Tel … represented by Mr. … herein-after referred to as the Seller (or the Buyer)”
e. Cơ sở pháp lý để ký kết hợp đồng. Ðây có thể là hiệp định chính phủ ký kết ngày tháng , cũng có thể là Nghị
định thư ký kết giữa Bộ nước với Bộ.. nước. Chí ít, người ta cũng nêu ra sự tự nguyện của hai bên khi ký kết hợp
đồng. Ví dụ:
“It has been mutually agreed that the Seller commits to sell and the Buyer commits to buy the undermentioned
goods on the following terms and conditions”.*Trong phần các điều khoản và điều kiện người ta ghi rõ các điều
khoản thương phẩm (như tên hàng, số lượng, phẩm chất, bao bì); Các điều khoản tài chính (như giá cả và cơ sở
của giá cả, thanh toán, trả tiền hàng, chứng từ thanh toán); Các điều khoản vận tải (như: điều kiện giao hàng, thời
gian và địa điểm giao hàng); Các điều khoản pháp lý (như: Luật áp dụng vào hợp đồng, khiếu nại, trường hợp bất
chắc hẳn vẫn còn là một xu hướng chủ đạo. Một vài doanh nghiệp lớn
của Việt Nam cũng đã và sẽ dùng nhượng quyền thương mại như một
công cụ hữu dụng để mở đường ra thế giới. Đặt trong bối cảnh đó, tạm
chấp nhận với những gì đang có của pháp luật Việt Nam dành cho hợp
đồng nhượng quyền thương mại nói chung để đi tìm khuôn khổ pháp lý
và chia sẻ vài suy nghĩ bước đầu về hợp đồng nhượng quyền thương mại
có yếu tố nước ngoài (International Franchise Agreement)[3] dưới giác
độ pháp luật Việt Nam chính là mục tiêu của bài viết này.
1. Đôi nét về hợp đồng nhượng quyền thương mại nói chung
Như “cây phải có gốc”, bàn luận về hợp đồng nhượng quyền thương mại
có yếu tố nước ngoài rõ ràng và dứt khoát phải trên cái nền hiểu biết về
hợp đồng nhượng quyền thương mại nói chung. Trong bối cảnh mà quan
niệm về nhượng quyền thương mại, hợp đồng nhượng quyền thương mại
ở Việt Nam vẫn còn nhiều khác biệt và mới mẻ thì lẽ dĩ nhiên cũng nên
khởi đầu bằng những suy nghĩ mang tính cốt lõi về loại hợp đồng này.
Với sự xuất hiện ở Mỹ từ những năm 1850 và bắt đầu lan rộng từ năm
1980 thì những định nghĩa về nhượng quyền thương mại, hợp đồng
nhượng quyền thương mại dĩ nhiên cũng hết sức đa dạng[4]. Trong khi
đó, cho dù nhượng quyền thương mại đã “chớm nở” từ năm 1990 ở Việt
Nam với sự xuất hiện thậm chí của những nhà nhượng quyền nội địa như
Cà phê Trung Nguyên (1996), AQ Silk (2002)... nhưng dưới góc độ pháp
lý thì phải sau một thời gian náu mình với cái tên “cấp phép đặc quyền
kinh doanh”[5] nhượng quyền thương mại mới chính thức được thừa
nhận trong Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 (LTMVN 2005). Đáng
tiếc rằng, dù Điều 285 LTMVN 2005 đã có được cái tên là “hợp đồng
nhượng quyền thương mại” và tại Nghị định 35/2006/NĐ-CP ngày
trí tuệ khác chứ không chỉ là một vài đối tượng được chỉ ra tại Điều 284.
Chẳng hạn, tại sao đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại
không thể gồm cả nhãn hiệu dịch vụ mà chỉ là nhãn hiệu hàng hóa?
Bỏ qua những hạn chế về quan niệm của pháp luật Việt Nam đối với hoạt
động nhượng quyền thương mại, hợp đồng nhượng quyền thương mại,
cũng cần nhận diện chủ thể, hình thức và nội dung của loại hợp đồng này
theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành. Về chủ thể của hợp
đồng nhượng quyền thương mại, quy định của LTMVN 2005 và Nghị
định 35 cho thấy để trở thành chủ thể của loại hợp đồng này thì trước hết
phải là thương nhân (thương nhân Việt Nam hoặc thương nhân nước
ngoài). Bên cạnh đó, pháp luật Việt Nam còn đòi hỏi các điều kiện kèm
theo đối với chủ thể nhượng quyền và nhận quyền. Cụ thể là thương
nhân nhượng quyền phải hội đủ các điều kiện như[6]: thứ nhất, hệ thống
kinh doanh dự định dùng để nhượng quyền đã hoạt động được ít nhất 01
năm (nếu thương nhân Việt Nam là bên nhận quyền sơ cấp từ bên
nhượng quyền nước ngoài, thương nhân Việt Nam đó phải kinh doanh
theo phương thức nhượng quyền thương mại ít nhất 01 năm ở Việt Nam
trước khi tiến hành cấp lại quyền thương mại); thứ hai, đã đăng ký hoạt
động nhượng quyền thương mại với cơ quan có thẩm quyền theo quy
định. Trong khi đó, điều kiện đối với bên nhận quyền là phải có đăng ký
ngành nghề kinh doanh phù hợp với hoạt động nhượng quyền thương
mại.
Về hình thức của hợp đồng nhượng quyền thương mại, Điều 285
LTMVN 2005 quy định hợp đồng nhượng quyền thương mại phải được
lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương
đương. Các hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương văn bản gồm
Trong đó, cần thấy rằng theo quy định của pháp luật Việt Nam thì không
phải bất kỳ loại hàng hóa, dịch vụ nào cũng được phép tiến hành nhượng
“quyền thương mại”. LTMVN 2005 và Nghị định 35 quy định hàng hóa,
dịch vụ được phép kinh doanh nhượng quyền thương mại phải là hàng
hóa, dịch vụ không thuộc Danh mục hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh.
Đối với hàng hoá, dịch vụ thuộc Danh mục hàng hoá, dịch vụ hạn chế
kinh doanh, Danh mục hàng hoá, dịch vụ kinh doanh có điều kiện, doanh
nghiệp chỉ được kinh doanh sau khi được cơ quan quản lý ngành cấp
Giấy phép kinh doanh, giấy tờ có giá trị tương đương hoặc có đủ điều
kiện kinh doanh.
2. Hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài
Tìm về nội hàm khái niệm hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố
nước ngoài
Khi mà định nghĩa về hợp đồng nhượng quyền thương mại nói chung
không tồn tại, thì đương nhiên việc pháp luật Việt Nam không chỉ rõ thế
nào là hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài cũng là
điều dễ hiểu! Đặt trong bối cảnh hợp đồng nhượng quyền thương mại là
một loại hợp đồng thương mại, Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005
(BLDSVN 2005) chính thức được xây dựng với vai trò là một “đạo luật
mẹ” bao trùm cả về thương mại, lao động, hôn nhân gia đình thì hoàn
toàn có thể vận dụng Điều 758 BLDSVN 2005 quy định về quan hệ dân
sự có yếu tố nước ngoài để làm rõ nội hàm khái niệm hợp đồng nhượng
quyền thương mại có yếu tố nước ngoài. Điều đầu tiên dễ nhận ra đó là
để trở thành một hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước
ngoài thì: thứ nhất, phải là hợp đồng nhượng quyền thương mại; và thứ
xuất phát từ việc đối tượng của nó có yếu tố nước ngoài. Như vậy, theo
quy định của pháp luật Việt Nam, một hợp đồng nhượng quyền thương
mại sẽ có yếu tố nước ngoài khi xuất hiện một trong các yếu tố sau: thứ
nhất, chủ thể của hợp đồng có sự tham gia của thương nhân nước ngoài;
thứ hai, khi sự kiện xác lập hoặc sự kiện thay đổi hoặc sự kiện chấm dứt
hợp đồng diễn ra ở nước ngoài.
Vấn đề chủ thể của hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước
ngoài
Xem xét về hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài
trước hết cần xác định chủ thể của nó cần thỏa mãn những điều kiện gì.
Điều này không hề đơn giản, bởi lẽ nó phụ thuộc vào từng hệ thống pháp
luật của mỗi nước. Theo pháp luật Việt Nam, vấn đề năng lực chủ thể
của hợp đồng nói chung được xác định theo Điều 761, Điều 762 (dành
cho cá nhân) và Điều 765 BLDSVN 2005 (dành cho pháp nhân). Tuy
nhiên, cần lưu ý là khác với hợp đồng nói chung, đối với năng lực chủ
thể của hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài thì
Nghị định 35 đã quy định rõ điều kiện dành cho thương nhân nhượng
quyền và thương nhân nhận quyền dù đó là thương nhân Việt Nam hay
thương nhân nước ngoài[10]. Theo đó thì chủ thể của hợp đồng nhượng
quyền thương mại có yếu tố nước ngoài cũng cần thỏa mãn các điều kiện
giống như chủ thể của hợp đồng nhượng quyền thương mại nói chung
(đã nói ở phần trên).
Hình thức của hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài
Do Nghị định 35 xác định đối tượng áp dụng là cả thương nhân Việt
định trực tiếp và cũng không đề cập đến luật áp dụng để điều chỉnh thì
việc xem xét luật áp dụng để điều chỉnh nội dung hợp đồng nhượng
quyền thương mại có yếu tố nước ngoài dĩ nhiên được vận dụng theo
trường hợp như hợp đồng dân sự nói chung - nghĩa là theo Điều 769
BLDSVN 2005[11]. Cụ thể là nội dung của hợp đồng sẽ được xác định
theo pháp luật của nước mà các bên chủ thể thỏa thuận áp dụng. Nếu các
bên chủ thể không thỏa thuận pháp luật áp dụng thì nội dung hợp đồng sẽ
được xác định theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng. Đặt tình
huống pháp luật được áp dụng để điều chỉnh nội dung hợp đồng nhượng
quyền thương mại là pháp luật Việt Nam thì với quy định của Điều 11
Nghị định 35 cho thấy rằng pháp luật Việt Nam cũng chỉ “gợi mở” một
số điều khoản nên đưa vào nội dung hợp đồng (như đã đề cập tại phần
hợp đồng nhượng quyền thương mại nói chung ở trên) mà không mang
tính bắt buộc các bên chủ thể. Căn cứ vào tinh thần của các Điều 4, Điều
122 BLDSVN 2005 thì theo pháp luật Việt Nam, nội dung hợp đồng
nhượng quyền thương mại nói chung, trong đó có hợp đồng nhượng
quyền thương mại có yếu tố nước ngoài sẽ được coi là hợp pháp nếu
không vi phạm các điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội
Việt Nam.
Vấn đề cơ quan giải quyết tranh chấp và luật áp dụng cho hợp đồng
nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài
Khác với hợp đồng nhượng quyền thương mại trong nước, hợp đồng
nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài hoàn toàn có thể được
giải quyết bởi cơ quan tài phán nước ngoài và hoàn toàn có khả năng bị
chi phối bởi hệ thống pháp luật nước ngoài và các điều ước quốc tế có
liên quan. Những gì đã bàn ở trên về chủ thể, hình thức hay nội dung của
ngay” pháp luật của nước có cơ quan tài phán thụ lý vụ việc cho thấy tầm
quan trọng lớn lao của việc chọn cơ quan giải quyết tranh chấp. Bởi lẽ nó
quyết định tới số phận của việc áp dụng pháp luật thực chất nước nào để
điều chỉnh hợp đồng. Pháp luật Việt Nam hiện hành không đưa tranh
chấp về hợp đồng nhượng quyền thương mại vào diện thuộc thẩm quyền
riêng biệt của tòa án Việt Nam. Do vậy, tranh chấp về hợp đồng này
hoàn toàn có thể được giải quyết bởi cơ quan trọng tài, tòa án nước
ngoài. Đây chính là điều đáng lưu tâm cho các thương nhân Việt Nam
khi thực hiện việc nhận hay nhượng quyền thương mại. Giải pháp dành
cho họ trong bối cảnh hiện nay và chắc hẳn còn cho nhiều năm tới nữa
chính là thỏa thuận rõ cơ quan tài phán phù hợp trong hợp đồng - hay
nhất có lẽ vẫn là trọng tài hoặc tòa án Việt Nam. Đó sẽ là sự thuận lợi
lớn cho các thương nhân Việt Nam khi phải đối mặt với các tranh chấp
xét trên hai phương diện cơ bản: chi phí và sự am hiểu luật pháp.
Đối với việc lựa chọn pháp luật áp dụng cho hợp đồng, về nguyên tắc các
bên chủ thể có quyền thỏa thuận những gì mà pháp luật không cấm. Như
đã nói ở trên, “pháp luật không cấm” ở đây sẽ là pháp luật của nước có
cơ quan tài phán thụ lý vụ việc nếu như không có điều ước quốc tế về
vấn đề này. Hiện nay, pháp luật Việt Nam cũng như hầu hết pháp luật
các nước trên thế giới và các điều ước quốc tế đều cho phép các bên chủ
thể của đa số hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài trong đó có hợp
đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài được quyền thoả
thuận luật áp dụng cho nội dung hợp đồng. Vì thế, pháp luật thực chất
được áp dụng để điều chỉnh nội dung hợp đồng nhượng quyền thương
mại sẽ không còn bị “lệ thuộc” vào sự lựa chọn cơ quan tài phán nếu như
các bên chủ thể đã thỏa thuận rõ trong hợp đồng về vấn đề này. Để minh
bạch hóa mọi nội dung của hợp đồng, tránh những tình huống pháp lý
tiết về chuyển giao công nghệ (Nghị định 11 này thay thế cho Nghị định
45 nói trên).
[6] xem Điều 5, 6 Nghị định 35.
[7] Điều 11 Nghị định 35.
[8] xem khoản 6 Điều 3 Nghị định 35.
[9] “Quyền thương mại chung” là quyền do Bên nhượng quyền trao cho
Bên nhượng quyền thứ cấp được phép cấp lại quyền thương mại cho các
Bên nhận quyền thứ cấp. Bên nhận quyền thứ cấp không được phép cấp
lại quyền thương mại chung đó nữa.
[10] Khoản 1 Điều 2 Nghị định 35 đã quy định về đối tượng áp dụng như
sau: “Nghị định này áp dụng đối với thương nhân Việt Nam và thương
nhân nước ngoài tham gia vào hoạt động nhượng quyền thương mại”.
[11] Dù rằng bài viết này xem xét hợp đồng nhượng quyền thương mại
có yếu tố nước ngoài dưới giác độ pháp luật Việt Nam, nhưng cũng cần
lưu ý rằng pháp luật Việt Nam chỉ được áp dụng nếu các Điều ước quốc
tế (ví dụ các Hiệp định tương trợ tư pháp) mà Việt Nam là thành viên
không có quy định khác về vấn đề này.
Hợp đồng franchise (Hợp đồng nhượng quyền thương mại)
Hợp đồng Franchise hầu hết là các hợp đồng kiểu "gia nhập", tức là các hợp đồng được soạn thảo sẵn bởi Bên bán, do vậy nội dung
của Hợp đồng luôn có khuynh hướng bảo vệ lợi ích của chủ thương hiệu. Trong trường hợp này, người mua Franchise nên thông qua
một văn phòng luật sư để tư vấn hoặc hỗ trợ đàm phán các hạng mục trong hợp đồng trước khi quyết định ký.
Hợp đồng Franchise là kết quả của cả quá trình đàm phán giữa Bên bán và Bên mua Franchise.
3. Quyền, nghĩa vụ của Bên nhận quyền
4. Giá cả, phí nhượng quyền định kỳ và phương thức thanh toán
5. Thời hạn hiệu lực của hợp đồng
6. Gia hạn, chấm dứt hợp đồng và giải quyết tranh chấp.
Trong nội dung của hợp đồng nhượng quyền thương mại, điều khoản về quyền và nghĩa vụ của các bên là những điều khoản rất quan
trọng, do vậy Luật Thương mại đã dành riêng 04 điều luật để quy định về vấn đề này.
Theo đó, thương nhân nhượng quyền có quyền:
1. Nhận tiền nhượng quyền
2. Tổ chức quảng cáo cho hệ thống nhượng quyền thương mại và mạng lưới nhượng quyền thương mại
3. Kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất hoạt động của bên nhận quyền nhằm bảo đảm sự thống nhất của hệ thống nhượng quyền thương
mại và sự ổn định về chất lượng hàng hoá, dịch vụ (Điều 286)