GVHD: Lưu Thanh Đức Hải Luận văn tốt nghiệp
PHẦN MỞ ĐẦU
*****
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Vấn đề tiêu thụ sản phẩm giữ vai trò quan trọng trong hoạt động kinh
doanh của một doanh nghiệp. Doanh nghiệp không chỉ quan tâm đến việc đưa ra
thị trường sản phẩm gì với giá bao nhiêu mà còn đưa sản phẩm ra thị trường theo
kênh tiêu thụ nào thích hợp để vừa có thể đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng
vừa mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Các kênh Marketing tạo nên lợi thế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong
vấn đề tiêu thụ sản phẩm, nếu doanh nghiệp nào có được một kênh phân phối tốt
sẽ chuyển tải được nhiều hàng hoá, ít tốn chi phí do đó lợi nhuận thu được sẽ cao
hơn so với doanh nghiệp không có kênh phân phối tốt. Phát triển các chiến lược
Marketing thành công trong môi trường cạnh tranh khốc liệt ngày nay là một công
việc khó khăn và phức tạp. Việc áp dụng các biện pháp về sản phẩm, quảng cáo,
khuyến mại, cắt giảm giá...chỉ có lợi thế trong ngắn hạn, bởi các doanh nghiệp
khác cũng nhanh chóng làm theo. Việc tập trung phát triển mạng lưới kênh tiêu
thụ sản phẩm giúp doanh nghiệp xây dựng và duy trì được lợi thế cạnh tranh lâu
dài, bởi kênh tiêu thụ sản phẩm là một tập hợp các quan hệ bên ngoài giữa các
doanh nghiệp độc lập trong kinh doanh. Tạo lập và phát triển hệ thống kênh
Marketing đòi hỏi thời gian, trí tuệ, tiền của, sức lực...nên không dễ dàng bị các
doanh nghiệp khác làm theo. Vì vậy các doanh nghiệp phải tìm ra kênh phân phối
chuyển tải được đa số lượng hàng hoá, tiết kiệm chi phí Marketing, rủi ro thấp.
Nhiều công ty đã thấy rằng để cạnh tranh thành công họ không chỉ cung
cấp sản phẩm và dịch vụ tốt hơn đối thủ mà còn phải làm cho chúng sẵn có ở
đúng thời gian, địa điểm và phương thức mà người tiêu dùng mong muốn. Vậy,
việc thiết lập kênh tiêu thụ thì rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh.
Nước ta là một nước nông nghiệp với cơ cấu tổng sản phẩm nông nghiệp là
39 % trong tổng sản phẩm trong nước. Trong đó, một trong những mặt hàng nông
nghiệp chủ lực của Việt Nam là lúa gạo (đứng thứ 2 thế giới sau Thái Lan về xuất
khẩu). Trong những năm gần đây, sản lượng gạo xuất khẩu luôn luôn tăng qua các
- Tìm hiểu về hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu thụ gạo nội địa của
tỉnh Đồng Tháp.
- Mô tả và phân tích kênh phân phối gạo nội địa của tỉnh Đồng Tháp nói
chung và của công ty nói riêng.
- Đưa ra giải pháp kênh phân phối hiệu quả cho công ty.
III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
SVTH: Lâm Minh Yến
2
GVHD: Lưu Thanh Đức Hải Luận văn tốt nghiệp
Để thực hiện đề tài cần sử dụng những phương pháp sau:
- Phương pháp thu thập số liệu:
Thu thập số liệu thứ cấp từ các báo cáo, tài liệu của cơ quan thực tập, niên
giám thống kê, các sở ban ngành, thông tin trên các báo, tạp chí nghiên cứu khoa
học, truyền hình, và internet...
Thu thập số liệu sơ cấp từ việc điều tra thực tế kênh phân phối gạo của tỉnh
Đồng Tháp. Thông qua việc phỏng vấn trực tiếp 30 thành viên trong kênh phân
phối như: nông dân, thương lái, doanh nghiệp chế biến. Tìm hiểu nhu cầu tiêu thụ
gạo của người dân qua việc thu thập số liệu sơ cấp, số liệu thu thập được gồm 30
mẫu phỏng vấn trực tiếp từ các cửa hàng bán gạo và được xử lý theo phương pháp
thống kê tần suất.
- Đề tài sử dụng mô hình lý thuyết về thiết kế kênh gồm 6 bước được trình
bày cụ thể trong phần cơ sở lý luận.
IV. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Do thời gian thực tập giới hạn trong 3 tháng nên đề tài chỉ nghiên cứu về
kênh phân phối của sản phẩm chủ lực của công ty đó là mặt hàng gạo trên địa bàn
Tỉnh Đồng Tháp.
Trong đề tài có thu thập số liệu sơ cấp, nhưng do giới hạn về thời gian nên
chỉ tiến hành phỏng vấn 30 mẫu đại diện từ những cửa hàng bán gạo để hiểu sơ
lược về nhu cầu của người tiêu dùng Đồng Tháp.
SVTH: Lâm Minh Yến
Như vậy, kênh Marketing là tập hợp các doanh nghiệp và cá nhân độc lập
và phụ thuộc lẫn nhau mà qua đó doanh nghiệp sản xuất thực hiện bán sản phẩm
SVTH: Lâm Minh Yến
4
GVHD: Lưu Thanh Đức Hải Luận văn tốt nghiệp
cho người sử dụng hoặc người tiêu dùng cuối cùng. Nói cách khác kênh
Marketing là hệ thống quan hệ của một nhóm các tổ chức và cá nhân tham gia vào
quá trình đưa hàng hoá từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng. Kênh
Marketing là một hệ thống các mối quan hệ tồn tại giữa các tổ chức liên quan
trong quá trình mua bán hàng hoá. Kênh Marketing là đối tượng để tố chức, quản
lý như một công cụ Marketing trọng yếu của các doanh nghiệp trên thị trường.
Đồng thời là đối tượng nghiên cứu để hoạch định các chính sách quản lý kinh tế
vĩ mô. Các kênh Marketing tạo nên một hệ thống thương mại phức tạp trên thị
trường.
Như vậy, phân phối qua hệ thống kênh Marketing liên quan tới giải quyết
vấn đề doanh nghiệp đưa sản phẩm ra thị trường như thế nào để đạt mục tiêu của
doanh nghiệp.
II. VAI TRÒ CỦA KÊNH PHÂN PHỐI
Phân phối có vai trò rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp:
- Là cầu nói giúp nhà sản xuất cung cấp sản phẩm cho khách hàng đúng
sản phẩm, thời điểm, đúng kênh, luồng hàng.
- Tập trung sản phẩm, điều hoà và phân phối sản phẩm.
- Làm tăng giá trị sản phẩm (thời gian, không gian, hình thể sản phẩm).
- Tổ chức điều hành vận chuyển tiết kiệm chi phí, hạn chế rủi ro và thiệt
hại.
III. CÁC DÒNG CHẢY TRONG KÊNH
Hệ thống kênh Marketing hoạt động thông qua các dòng chảy, khi một
kênh Marketing đã được phát triển, nhiều dòng chảy xuất hiện trong nó. Những
dòng chảy này cung cấp sự kết nối ràng buộc các thành viên trong kênh và các tổ
thông tin từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng là hai chiều. Tất cả các
thành viên đều tham gia vào dòng thông tin và các thông tin phải được chuyển qua
lại giữa từng cặp thành viên. Phần lớn các thông tin này liên quan đến mua bán và
xúc tiến, đến số lượng, chất lượng hàng hoá, thời gian, địa điểm giao hàng, thanh
toán...
5. Dòng xúc tiến
Dòng xúc tiến thể hiện sự hỗ trợ về thông tin sản phẩm của người sản xuất
cho tất cả các thành viên kênh dưới các hình thức quảng cáo, bán hàng cá nhân,
xúc tiến bán và quan hệ công chúng. Ở đây, có sự tham gia của các đại lý quảng
cáo cung cấp và thực hiện các dịch vụ quảng cáo. Người sản xuất và đại lý quảng
SVTH: Lâm Minh Yến
6
GVHD: Lưu Thanh Đức Hải Luận văn tốt nghiệp
cáo sẽ làm việc cùng nhau để phát triển các chiến lược xúc tiến hiệu quả trong
kênh.
Dòng sản Dòng đàm Dòng sở Dòng thông Dòng xúc
phẩm phán hữu tin tiến
Hình 1: Sơ đồ năm dòng chảy chính trong kênh Marketing
của một sản phẩm
SX: Sản xuất
BB: Bán buôn
BL: Buôn lẻ
TD: Tiêu dùng
CT: Công ty
ĐLQC: Đại lý quảng cáo
SVTH: Lâm Minh Yến
7
Người SX
Người BB
Người BL
lẫn quốc tế.
Bán hàng và giúp đỡ bán hàng bao gồm việc bán hàng cá nhân, quảng cáo
và các phương pháp Marketing khác nhau, liên quan đến cả việc xúc tiến sản
phẩm.
Xử lý đơn hàng thu thập chứng từ và lập hoá đơn là việc thu thập các chứng
từ và lập các hóa đơn trong việc mua bán hàng hóa cho khách hàng.
SVTH: Lâm Minh Yến
8
Chức năng của
phân phối
Xử lý đơn hàng thu thập
chứng từ và lập hoá đơn
Vận chuyển và
giao hàng hoá
Cung cấp tài chính tín
dụng và thu hồi tiền hàng
Tiếp cận người mua,
thông tin bán hàng
Tồn trữ lưu kho
Bán hàng và giúp
đỡ bán hàng
Phân chia và tạo ra các
phân cấp mặt hàng
GVHD: Lưu Thanh Đức Hải Luận văn tốt nghiệp
V. ĐỊNH NGHĨA CẤU TRÚC KÊNH
Các kênh Marketing có cấu trúc như các hệ thống mạng lưới do chúng bao
gồm các doanh nghiệp và cá nhân độc lập và phụ thuộc lẫn nhau. Kênh marketing
là một hệ thống các tổ chức liên quan với nhau và phụ thuộc vào nhau trong quá
trình tạo ra kết quả là sản phẩm được người tiêu dùng mua và sử dụng.
Vậy, cấu trúc kênh như là một nhóm các thành viên của kênh mà tập hợp
Vậy, tổ chức kênh Marketing là tất cả những hoạt động liên quan đến việc
phát triển những kênh Marketing mới ở những nơi trước đó nó chưa tồn tại hoặc
để cải tiến kênh hiện tại.
2. Những công việc phải thực hiện trong quá trình thiết kế kênh
Các doanh nghiệp chắc chắn phải làm các quyết định về tổ chức kênh
nhằm thiết lập kênh Marketing cho sản phẩm của mình trên thị trường. Các trường
hợp doanh nghiệp phải tổ chức kênh bao gồm cả cải tiến những kênh đang sử
dụng và thiết kế những kênh hoàn toàn mới. Tổ chức kênh là một quyết định có
tính chiến lược của doanh nghiệp, là hoạt động tích cực của người quản lý. Đây
cũng là công việc phức tạp, liên quan đến phân chia một cách tích cực các công
việc phân phối, nhằm tạo ra một cấu trúc kênh tối ưu.
Doanh nghiệp cần xác định khi nào nên thiết kế kênh, điều nầy rất quan
trọng, doanh nghiệp cần thiết kế kênh khi:
- Phát triển sản phẩm mới hoặc dòng sản phẩm mới. Nếu các kênh hiện có
cho các sản phẩm khác là không thích hợp với sản phẩm hoặc dòng sản phẩm mới,
kênh mới có thể cần được xây dựng hoặc các kênh hiện tại phải được sửa đổi cho
phù hợp.
- Đưa các sản phẩm hiện tại vào thị trường mục tiêu mới.
- Có sự thay đổi cơ bản trong một số biến số của Marketing – mix.
- Thiết lập công ty mới.
- Các trung gian thương mại hiện tại thay đổi chính sách của họ có ảnh
hưởng đến mục tiêu phân phối của công ty.
- Thay đổi khả năng sẵn sàng của các loại trung gian thương mại cụ thể.
- Mở các khu vực thị trường địa lý mới.
SVTH: Lâm Minh Yến
10
GVHD: Lưu Thanh Đức Hải Luận văn tốt nghiệp
- Xảy ra những sự thay đổi thị trường chủ yếu.
- Xảy ra xung đột hoặc các quá trình hành vi khác.
- Việc xem xét và đánh giá thường xuyên tới hoạt động của kênh trong thời
11
GVHD: Lưu Thanh Đức Hải Luận văn tốt nghiệp
* Ảnh hưởng của nhà trung gian:
- Khả năng cung cấp dịch vụ, phương tiện.
- Lợi ích mang lại từ họ.
- Mức độ cộng tác, quan điểm hợp tác.
* Bản thân doanh nghiệp:
- Quy mô
- Khả năng tài chính.
- Kinh nghiệm quản lý.
- Các mục tiêu và chiến lược.
(4) Xác định cấu trúc kênh tối ưu:
- Xác định chiều dài kênh.
- Xác định chiều rộng kênh.
- Xác định các loại trung gian tham gia vào kênh.
(5) Lựa chọn kênh phân phối hiệu quả
Dựa trên những tiêu chí sau:
- Kênh chuyển tải được đa số lượng hàng hoá.
- Có tương đối ít thành viên.
- Tiết kiệm chi phí Marketing.
- Tỷ lệ thiệt hại rủi ro thấp.
(6) Lựa chọn các thành viên kênh phân phối: Căn cứ vào
- Thâm niên, kinh nghiệm, khả năng am hiểu khách hàng.
- Nguồn vốn và cơ sở vật chất.
- Thành tích tăng trưởng về doanh số và lợi nhuận.
- Khả năng tổ chức kinh doanh và kinh nghiệm bán hàng.
- Khả năng trả nợ.
- Danh tiếng và uy tín trong kinh doanh.
- Pháp nhân kinh doanh và mối quan hệ với công chúng.
SVTH: Lâm Minh Yến
hệ thống giao thông đường thuỷ, hệ thống giao thông đường bộ bao gồm quốc lộ,
tỉnh lộ và đường liên xã đã được nâng cấp và mở rộng, nhất là giao thông nông
thôn góp phần phát triển kinh tế xã hội địa phương.
SVTH: Lâm Minh Yến
13
GVHD: Lưu Thanh Đức Hải Luận văn tốt nghiệp
Với địa hình đồng bằng bằng phẳng, có xu hướng thấp dần từ bắc xuống
nam, tây sang đông, Đồng Tháp nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, một năm có 2
mùa rõ rệt mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4
năm sau. Nhiệt độ trung bình hàng năm 27.04
o
C, lượng mưa trung bình hằng năm
là 1.174 – 1.518 mm, độ ẩm trung bình hằng năm khoảng 83 %.
(Nguồn: />3. Dân số và lao động
Theo điều tra dân số thời điểm 2005 Đồng Tháp có 1.654.680 người.
Trong đó, nam: 806.281 người, nữ: 848.399 người; thành thị: 285.606 người,
nông thôn: 1.369.374 người. Mấy năm qua tốc độ đô thị hoá diễn ra khá mạnh.
Tình hình dân tộc, người kinh chiếm 99,4 % còn lại là người Hoa ,
Khơmer, Tày, Mường...Có 20,14 % dân số là tín đồ các tôn giáo. Trong đó, đạo
Hoà Hảo chiếm 11,46 %, đạo Cao Đài: 3,35 % và đạo Thiên Chúa: 2,25 %.
Mật độ dân số: 489 người/km
2
. Tỷ lệ sinh: 1,822 %; tỷ lệ chết: 0,569 %; tỷ
lệ tăng tự nhiên: 1,251 %.
Nguồn lao động dồi dào chiếm 52 % dân số của tỉnh, lao động được đào
tạo khoảng 9,5 % dân số. Cơ cấu lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế:
nông nghiệp chiếm khoảng 82,71 %, công nghiệp xây dựng chiếm khoảng 6,05 %;
dịch vụ chiếm khoảng 11,24 % ( Nguồn: Cục thống kê tỉnh Đồng Tháp)
4. Tài nguyên thiên nhiên:
Đồng Tháp có nguồn nước ngọt dồi dào. Hệ thống kênh rạch khá hoàn
lực của tỉnh Đồng Tháp, được sự tín nhiệm của Tỉnh Uỷ, Uỷ Ban Nhân Dân Tỉnh,
các cơ quan, ban ngành và là đối tác uy tín của khách hàng trong và ngoài nước.
Đến năm 2005 tổng số vốn công ty đã có: 30,8 tỷ, trong đó:
Tài sản cố định: 7,2 tỷ đồng; Tài sản lưu động: 23,6 tỷ đồng
2. Lĩnh vực kinh doanh:
Kể từ ngày được quyết định thành lập, công ty thực hiện các chức năng
kinh doanh như sau:
- Kinh doanh hàng bách hoá, vải sợi, điện máy, xe đạp, xe máy, vật liệu
xây dựng, chất đốt, nông sản, thực phẩm, xuất khẩu các loại nông, lâm, thuỷ hải
sản chế biến, đông lạnh.
- Nhập khẩu vật tư, phân bón, nguyên liệu máy móc, thiết bị, phụ tùng,
phục vụ sản xuất công nông nghiệp, xây dựng và hàng tiêu dùng thiết yếu để tiêu
thụ trong nước và xuất khẩu.
SVTH: Lâm Minh Yến
15
GVHD: Lưu Thanh Đức Hải Luận văn tốt nghiệp
- Kinh doanh mặt hàng gỗ tròn và gỗ xẻ các loại, sản xuất kinh doanh thức
ăn gia súc. Nuôi cá nước ngọt, nước mặn, nước lợ. Chế biến, bảo quản thủy hải
sản. Khai thác cát đá, xây dựng công trình, hạng mục công trình. San lấp mặt
bằng, kinh doanh bất động sản.
3. Cơ cấu tổ chức
Hình 4: Sơ đồ cơ cấu tổ chức
(Nguồn: Từ phòng tổ chức cán bộ)
4. Chức năng và nhiêm vụ:
* Phòng tổ chức cán bộ quản trị hành chánh (TCCBHCQT)
Phòng tổ chức cán bộ quản trị hành chánh có nhiêm vụ quản lí, sắp xếp
nhân sự, theo dõi đào tạo, bổ nhiệm, điều động và đề bạt cán bộ, tham mưu cho
giám đốc phụ trách những công việc mang tính phục vụ, tiếp khách, tiếp nhận
công văn, thư từ của công ty và phát công văn đi một cách nhanh chóng và kịp
thời. Ngoài ra, còn đảm nhận công tác đảng và công đoàn.
Phòng kế hoạch có nhiệm vụ tiếp xúc đàm phán với các đơn vị, công ty, các
thương nhân trong và ngoài nước trong phạm vi kinh doanh xuất nhập khẩu của
công ty nhằm mục đích tìm kiếm nguồn nguyên liệu và thị trường tiệu thụ cho sản
phẩm của công ty. Ngoài ra, phòng kế hoạch còn có nhiệm vụ dự thảo và đề ra
phương hướng thực hiện kế hoạch xuất nhập khẩu.
* Phòng kế toán tài vụ (KTTV)
Tổ chức công tác kế toán, thống kê, phù hợp với hoạt động kinh doanh của
công ty theo yêu cầu của đơn vị chế độ quản lý và không ngừng cải tiến bộ máy kế
toán.
Tổ chức ghi chép tính toán phản ánh chính xác trung thực kịp thời đầy đủ
toàn bộ hoạt động kinh doanh của công ty. Tổ chức kiểm tra xét duyệt báo cáo, tổ
chức hướng dẫn thi hành kịp thời các chế độ, thể lệ tài chính kế toán của nhà nước
và các quy định của cấp trên.
Có nhiệm vụ giải quyết mối quan hệ tài chính trong nội bộ công ty, mối
quan hệ với các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh doanh đảm bảo tiến hành các hoạt
động kinh doanh được liên tục, phân phối vốn hợp lí, có hiệu quả nhằm tiết kiệm
chi phí và tăng lợi nhuận cho công ty.
* Phòng hợp tác đầu tư (HTĐT)
Tiếp thu các nghị quyết, các chương trình, kế hoạch của công ty, tổ chức
phổ biến và triển khai các kế hoạch, giải pháp thực hiện đáp ứng yêu cầu của công
ty.
* Chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM)
Hỗ trợ công việc xúc tiến thương mại và đầu tư của công ty. Đại diện công ty
tiếp xúc thượng lượng với khách hàng, ký kết các hợp đồng trong và ngoài nước
theo sự uỷ nhiệm của công ty.
* Các xí nghiệp chế biến lương thực xuất khẩu (XNCBLTXK)
Chế biến, dự trữ tồn kho các loại gạo theo nhu cầu của thị trường để đáp
ứng yêu cầu xuất khẩu.
Ký kết các hợp đồng mua bán gạo nguyên liệu, gạo thành phẩm các loại
phụ phẩm và các hợp đồng dịch vụ khác.
SVTH: Lâm Minh Yến
18
GVHD: Lưu Thanh Đức Hải Luận văn tốt nghiệp
Bảng 1: SỐ LƯỢNG, TRÌNH ĐỘ NHÂN VIÊN CÔNG TY
TRONG CÁC BỘ PHẬN
Phòng ban
Số lao
động
Thạc
sĩ
Đại
Học
Cao
đẳng
Trun
g cấp
Sơ
cấp
Khác
Ban giám đốc 5 1 4
Phòng TCCBHCQT 13 5 8
Phòng KTTV 8 4 3 1
Phòng KHKD 9 7 1 1
Phòng HTĐT 6 1 4 1
Chi nhánh tại TPHCM 9 7 1 1
XN CBTSXK 48 36 5 4 1 2
XN KDVTNN 13 5 4 4
XN CBLTXK I 17 1 1 7 8
XN CBLTXK II 26 5 10 11
XN CBLTXK III 20 3 6 11
ĐVT: 1.000 USD
(Nguồn:Phòng kế hoạch kinh doanh)
Kết quả ở bảng 2 cho thấy, trong những mặt hàng trên thì gạo là mặt hàng
xuất khẩu nhiều nhất thu được nhiều ngoại tệ cho công ty , kim ngạch xuất khẩu
(KNXK) qua các năm đều tăng, nhất là năm 2005 là 32.334.350 USD, so với năm
2004 tăng 12.852.500 USD, tăng 66 % so với năm 2004
Các loại gạo mà công ty xuất khẩu: gạo hạt dài Việt Nam 5 % tấm, 10
% tấm, 15 % tấm, 20 % tấm, 25 % tấm và 100 % tấm.
Các loại gạo mà công ty xuất khẩu là ở dạng thô, phải qua các trung gian
nước ngoài nên lợi nhuận còn thấp. Ngoài ra công ty còn thực hiện uỷ thác xuất
khẩu.
Về mặt hàng thuỷ sản thì đến năm 2003 doanh nghiệp mới bắt đầu xuất
khẩu, tuy nhiên kim ngạch xuất khẩu (KNXK) cũng liên tục tăng. Năm 2004 tăng
2.902.800 USD so với năm 2003, tương ứng với tỷ lệ là 460 %. Đến năm 2005
tăng 14.306.000 USD so với năm 2004, tăng 405 % so với năm 2004
SVTH: Lâm Minh Yến
Chỉ Tiêu
Năm
2003
Năm
2004
Năm
2005
Chênh lệch
(2004/2003)
Chênh lệch
(2005/2004)
Giá trị
tỷ lệ
%
140.000
2001 2002 2003 2004 2005
Năm
Hình 5: Biểu đồ sản lượng gạo xuất khẩu của công ty từ 2001 đến 2005
Qua biểu đồ trên cho ta thấy sản lượng gạo xuất khẩu của công ty qua các
năm không ổn định, nhưng đến năm 2004 thì sản lượng xuất khẩu bắt đầu tăng,
đáng kể là năm 2005 đạt 123.598 (tấn). Nguyên nhân là do công ty có được những
khách hàng mới do giá gạo xuất khẩu của công ty tương đối thấp so với các nước
xuất khẩu khác nên những khách hàng này chuyển sang mua gạo của công ty.
Các thị trường xuất khẩu gạo chủ yếu của công ty là Châu Phi, Indonesia,
Philipin, Irăn, Irắc, Nga, Thổ Nhĩ Kì, Cuba.
SVTH: Lâm Minh Yến
21
(Tấn)
GVHD: Lưu Thanh Đức Hải Luận văn tốt nghiệp
38%
25%7%
7%
7%
6%
6%
3%
Philippin
Châu Phi
Indonesia
Iran
Irac
TNK
Cuba
108,876 tỷ đồng, giảm so với năm 2003 là 1,824 tỷ đồng. Đến năm 2005 chỉ còn
25.930 (tấn), giảm so với năm 2004 là 6.722 (tấn), tương đương với tỷ lệ 20,6 %,
với doanh thu thu được là 97,336 tỷ đồng, giảm 11,54 tỷ đồng so với năm 2004
Nguyên nhân là do việc bán gạo nội địa của công ty phụ thuộc nhiều vào
việc thiếu hụt gạo của các doanh nghiệp khác, vì công ty chỉ bán gạo cho các
doanh nghiệp để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu và tiêu thụ nội địa của các doanh
nghiệp khác. Hiện nay, công ty chưa quan tâm nhiều đến việc tiêu thụ gạo nội địa.
2. Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh:
Bảng 4: KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY TỪ
NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005
TT Diễn Giải Đơn vị
tính
Năm
2001
Năm
2002
Năm
2003
Năm
2004
Năm
2005
1 Tổng doanh thu
-Trong đó: Doanh thu
tiêu thụ gạo nội địa
Tỷ đồng
Tỷ đồng
390,020
92,400
639,000
- Có đội ngủ cán bộ nhân viên trẻ, có năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo
đức tốt, nhạy bén năng động, có đủ năng lực quản lý sản xuất và kinh doanh.
- Được sự tín nhiệm của tỉnh uỷ, Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh, các cơ ngành hửu
quan và là đối tác uy tín của khách hàng trong và ngoài nước, được lãnh đạo tỉnh
tập trung đầu tư.
- Là khách hàng có uy tín và lớn nhất của chi nhánh ngân hàng công
thương tỉnh Đồng Tháp, Quỹ hổ trợ phát triển tỉnh Đồng Tháp.
- Docimexco là doanh nghiệp có danh tiếng được nhiều khách hàng biết
đến. Có một số khách hàng quen thuộc ở các thị trường như: Yemen, Ivory,
Mozambique, Geogria, Kenya...
- Đồng thời Docimexco được tỉnh nhà tạo điệu kiện cho xí nghiệp chế biến
thuỷ sản 2 vùng nuôi thuỷ sản, nhằm đảm bảo từ 30 % đến 50 % cá nguyên liệu
hàng năm, để ổn định và nâng cao chất lượng sản phẩm.
- Công ty có 3 xí nghiệp chế biến lương thực có năng suất cao, có khả năng
đáp ứng tốt nhu cầu khách hàng.
3.2. Khó khăn
- Thiếu vốn đầu tư hoạt động, đa số vốn hiện nay của công ty là vốn vay
- Chưa có vùng qui hoạch lúa ổn định, nên chưa làm ra được sản phẩm giá
trị gia tăng.
- Thị trường tiêu thụ gạo nội địa không ổn định, chủ yếu là bán lại cho các
doanh nghiệp, công ty không thực hiện bán lẻ.
- Công ty xuất khẩu sản phẩm ra nước ngoài dưới dạng thô qua trung gian
nên dễ bị ép giá làm ảnh hưởng đến lơi nhuận.
III. ĐỊNH HƯỚNG TƯƠNG LAI
- Khai thác tối đa lợi thế nguồn hàng trong tỉnh theo hướng xuất khẩu, nhập
khẩu máy móc vật tư phục vụ sản xuất, phát triển sản xuất kinh doanh phù hợp
với kế hoạch chuyển đổi cơ cấu kinh tế của tỉnh từ đó hoạch định kế hoạch phát
triển sản xuất kinh doanh trước mắt và lâu dài.
- Xây dựng trang bị các thiết bị hiện đại cho các xí nghiệp, mở rộng các
kho chứa hàng, thành lập và tạo vùng nguyên liệu ổn định cho công ty.