LỜI NÓI ĐẦU
Trong điều kiện hiện nay, hoạt động giao tiếp quốc gia trên thế giới
trong lĩnh vực kinh tế thương mại ngày càng phát triển mở rộng, mang tính
khu vực hóa và toàn cầu hóa một cách mạnh mẽ, đặc biệt là sự hình thành, tồn
tại và phát triển và phát triển các liên minh kinh tế thương mại khu vực và của
các công ty xuyên quốc gia, trong các thập kỷ qua đã đánh dấu một bước tiến
quan trọng trong lịch sử phát triển của quan hệ kinh tế-thương mại quốc tế.
Tình hình này làm cho các quốc gia không chỉ bó hẹp hoạt động kinh tế-
thương mại trong phạm vi quốc gia mà phải tham gia vào các hoạt động kinh
tế-thương mại trong khu vực hoặc toàn cầu nhằm tận dụng lợi thế so sánh của
nhau. Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp trong nước phải có những chuẩn bị
một nền tảng vững chắc cho mình khi đi vào con đường hội nhập. Doanh
nghiệp vấp phải sự cạnh tranh nghiệt ngã của thị trường về chất lượng, giá cả
và mẫu mã sản phẩm. Do vậy, vấn đề đặt ra là một doanh nghiệp sản xuất hay
kinh doanh hàng xuất nhập khẩu muốn hoạt động có hiệu quả phải có tiềm lực
về đội ngũ cán bộ nhân viên đủ khả năng và trình độ, có thế mạnh về tài chính
và tạo lập được uy tín trên thương trường, lập chiến lược kinh doanh hợp lý
và tối ưu nhất…
Nhập khẩu từ lâu đã được thừa nhận là một mặt hoạt động cơ bản của
kinh tế đối ngoại, là một phương tiện quan trọng để phát triển kinh tế. Nó cho
phép khai thác các tiềm năng thế mạnh của đất nước trên thế giới, bổ sung
cho các sản phẩm trong nước chưa sản xuất hoặc sản xuất chưa đáp ứng đủ
nhu cầu. Bên cạnh đó, nhập khẩu còn có tác dụng thúc đẩy quá trình sản xuất
trong nước ngày càng phát triển.
Việc nghiên cứu và tìm hiểu hoạt động nhập khẩu cụ thể của từng
doanh nghiệp là điều hết sức cần thiết. Với lý do trên tôi đã chọn đề tài:”
1
Thúc đẩy hoạt động nhập khẩu của công ty cổ phần xuất nhập khẩu tổng hợp
Hà Nội GELEXIMCO”. Nội dung của đề tài gồm 3 chương:
Chương I: Lý luận về hoạt động nhập khẩu trong cơ chế thị trường.
Chương II: Phân tích hoạt động nhập khẩu của công ty cổ phần xuất
cứu thị trường đến khâu sản xuất-kinh doanh, phân phối lưu thông-tiêu dùng
và cuối cùng lại tiếp tục tái diễn với quy mô và tốc độ lớn hơn. Còn với tư
cách là một ngành kinh tế thì thương mại quốc tế là một lĩnh vực chuyên môn
3
hóa, có tổ chức, có phân công và hợp tác, có cơ sở vật chất kỹ thuật, lao động,
vốn, vật tư, hàng hóa … là một hoạt động chuyên mua bán, trao đổi hàng hóa,
dịch vụ với nước ngoài nhằm mục đích kinh tế.
Không thể phủ nhận vai trò cần thiết của thương mại quốc tế đối với sự phát
triển kinh tế của các nước hiện nay. Có thể nói rằng thương mại quốc tế có ý
nghĩa sống còn đối với các nước tham gia vì nó cho phép các quốc gia tiêu
dùng các mặt hàng với số lượng nhiều hơn và chủng loại phong phú hơn mức
có thể tiêu dùng với ranh giới của đường giới hạn khả năng sản xuất trong
điều kiện đóng của nền kinh tế của nước đó. Hay nói cách khác là thương mại
quốc tế giúp mở rộng khả năng tiêu dùng của một nước. Bên cạnh đó, nó cũng
cho phép các quốc gia thay đổi cơ cấu các ngành nghề kinh tế, cơ cấu vật chất
của sản phẩm theo hướng phù hợp với đặc điểm sản xuất của mình hơn.
Vì vậy, không ngừng đẩy mạnh trao đổi hàng hoá, tăng cường các hoạt
động thương mại quốc tế mà nhập khẩu là một bộ phận, một nhu cầu không
thể thiếu được của đời sống kinh tế và là một tất yếu khách quan của thời đại
dù đó là nước lớn hay nhỏ, nước công nghiệp phát triển hay kém phát triển,
nước tư bản chủ nghĩa hay nước xã hội chủ nghĩa.
Từ sau đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam toàn quốc lần thứ VI, chính
sách mở cửa nền kinh tế đã đưa Việt Nam đi vào con đường cải cách triệt để,
thoát khỏi cơ chế kế hoạch hoá tập trung cứng nhắc. Với nhận thức về một
đất nước có tiềm năng to lớn về lao động và tài nguyên chỉ thông qua con
đường phát triển thương mại quốc tế, Việt Nam mới có thể phát huy được lợi
thế so sánh của mình, góp phần nhanh chóng thực hiện được quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá.
2. Khái niệm và vai trò kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp:
Xuất nhập khẩu nói chung, nhập khẩu nói riêng là hoạt động kinh doanh
- Trước hết, nhập khẩu là cơ hội để bổ sung hàng hoá trong nước không sản
xuất được hoặc sản xuất không đáp ứng đủ nhu cầu. Nhập khẩu còn là để thay
5
thế những hàng hoá mà sản xuất không có lợi bằng nhập khẩu. Nhờ nhập
khẩu đời sống nhân dân được cải thiện và nâng cao, có điều kiện tiêu dùng
nhiều loại hàng hoá phong phú và đa dạng, phù hợp với thị hiếu.
- Nhập khẩu có tác động chuyển dịch cơ cấu kinh tế :
+ Nhập khẩu đòi hỏi sự đồng bộ về kỹ thuật sẽ tạo ra dây chuyền hiện
đại, kéo theo sự đổi mới trong đội ngũ cán bộ kỹ thuật quản lý, tạo ra kỷ luật
lao động chặt chẽ trong đội ngũ công nhân, gây dựng ý thức lao động hiệu
quả góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước.
+ Nhập khẩu góp phần phát triển các ngành có mối quan hệ bổ sung với
ngành hàng được công nghệ hoá nhờ nhập khẩu.
- Nhập khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất
quyết tình trạng thiếu nguyên liệu và nâng cao năng lực sản xuất trong nước.
Đồng thời thông qua nhập khẩu,các doanh nghiệp trong nước phải không
ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, thúc đẩy sự phát triển của nền
kinh tế.
- Nhập khẩu có vai trò tích cực đến thúc đẩy xuất khẩu : việc nhập khẩu các
máy móc thiết bị với công nghệ tiên tiến và hiện đại sẽ nâng cao chất lượng
hàng hoá bảo đảm các tiêu chuẩn quốc tế để xuất khẩu, đồng thời giảm bớt
các hao phí tiết kiệm nguyên liệu đầu vào giảm giá thành phẩm và nâng cao
sức cạnh tranh trên thương trường
Ngoài ra nhập khẩu còn thể hiện ưu thế trên những mặt sau :
+ Kinh doanh hàng nhập khẩu đặc biệt là các loại vật tư nguyên liệu thúc đẩy
cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xuất nhập khẩu cũng như các doanh nghiệp
sản xuất trong nước, tạo ra sự kiểm soát theo dõi chặt chẽ lẫn nhau. Nhờ sự
cạnh tranh này mà chất lượng hàng hoá trong nước được nâng cao, môi
trường cạnh tranh được cải thiện hơn.
+ Nhập khẩu trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần còn dẫn
hàng hóa tồn kho, để quyết định lượng hàng hóa cần nhập khẩu theo công
thức:
Yêu cầu hàng = Nhu cầu hàng hóa + Nhu cầu dự trữ hàng
hóa nhập khẩu của khách hàng - hóa của DNTM
Yêu cầu các mặt hàng cần nhập khẩu sẽ là căn cứ để lý hợp đồng nhập khẩu
với nước ngoài.
2. Nghiên cứu thị trường nước ngoài, chọn đối tác kinh doanh:
Một loại hàng hóa nào đó sẽ có nhiều thị trường(các nước) khác nhau cùng
sản xuất, mỗi nước lại có nhiều hãng, ở mỗi hạng có thể sản xuất, kinh doanh
nhiều loại sản phẩm, mà kết quả kinh doanh lại phụ thuộc vào từng đối tác cụ
thể. Bởi vậy, doanh nghiệp phải nắm được không chỉ khái quát về từng thị
trường mà còn thông hiểu địa vị pháp lý, sức mạnh tài chính, quan điểm, triết
lý kinh doanh và các sản phẩm hàng đầu của hãng để đặt hàng.
3. Tiến hành giao dịch, đàm phán và ký kết hợp đồng nhập khẩu hàng
hóa:
Muốn tiết kiệm chi phí đi lại, thăm dò khảo sát thị trường nước ngoài, doanh
nghiệp phải lập kế hoạch giao dịch, tìm hình thức và biện pháp đàm phán phù
hợp để ký hợp đồng nhập khẩu hàng hóa.
Trình tự giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường quốc tế .
Người mua: Hỏi giá đặt hàng Hoàn giá Chấp Xác
Người bán: Chào hàng (mặc cả) nhận nhận
Bước xác nhận cần thiết cho những thương vụ đàm phán kéo dài và để phân
biệt thỏa thuận cuối cùng với những thỏa thuận trước đó, làm tăng tính chắc
chắn.
Hợp đồng có thể được ký thông qua các hình thức đàm phán:
- Qua thư từ
- Qua điện thoại, điện báo
8
- Gặp gỡ trực tiếp
Do khác nhau về ngôn ngữ, phong tục tập quán và luật pháp giữa các quốc
Các chỉ tiêu thường được dùng để so sánh, đánh giá hoạt động là:
- Số lượng thực hiện nhập khẩu so với đơn hàng
- Chủng loại mặt hàng thực hiện so với kế hoạch
- Tiến độ nhập hàng so với hợp đồng đã ký
- Doanh số mua và bán hàng hóa
- Chi phí kinh doanh
- Lợi nhuận đạt được so với kế hoạch và cùng kỳ năm trước
III. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu.
1. Các chế độ chính sách, luật pháp trong nước và quốc tế.
Đây là những yếu tố mà các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu
buộc phải nắm rõ, tuân thủ một cách vô điều kiện.Hoạt động nhập khẩu được
tiến hành giữa các chủ thể ở các quốc gia khác nhau bởi vậy nó chịu tác động
của các chính sách, chế độ, luật pháp ở mỗi quốc gia. Bên cạnh đó, nó cũng
phải tuân theo những quy định luật pháp quốc tế chung. Luật pháp quốc tế
buộc các nước vì lợi ích chung phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm và nghĩa vụ
của mình trong hoạt động nhập khẩu. Do đó tạo được sự tin tưởng trong quan
hệ thương mại quốc tế.
2. Tỷ giá hối đoái.
Nhân tố này quyết định trong việc xác định mặt hàng, bạn hàng, phương án
kinh doanh, quan hệ kinh doanh của không chỉ một doanh nghiệp xuất nhập khẩu mà
tới tất cả các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu nói chung. Sự biến đổi của
nhân tố này sẽ gây ra những biến đổi lớn trong tỷ trọng giữa xuất khẩu và nhập khẩu.
10
3. Nền sản xuất ,kinh doanh thương mại của các doanh nghiệp trong
và ngoài nước.
Sự phát triển sản xuất của những doanh nghiệp sản xuất trong nước tạo
ra sự cạnh tranh mạnh mẽ với sản phẩm nhập khẩu. Nếu như sản xuất kém
phát triển, không sản xuất được những mặt hàng đòi hỏi kỹ thuật cao thì nhu
cầu về hàng nhập khẩu tăng lên do đó ảnh hưởng tới hoạt động nhập khẩu.
Ngược lại sự phát triển của nền sản xuất ở nước ngoài làm tăng khả
thành phần kinh tế nào bởi vai trò rất to lớn của nó trong quản lý, cung cấp
vốn, đảm trách việc thanh toán một cách thuận tiện, nhanh chóng, chính xác
cho các doanh nghiệp. Hoạt động nhập khẩu sẽ không được thực hiện nếu
không có sự phát triển của hệ thống ngân hàng, dựa trên các quan hệ, uy tín
nghiệp vụ thanh toán. Nên ngân hàng tạo điều kiện thuận tiện cho các doanh
nghiệp tham gia hoạt động nhập khẩu, đảm bảo cho họ về mặt lợi ích. Và
cũng nhiều trường hợp do có lòng tin với ngân hàng mà các doanh nghiệp
kinh doanh xuất nhập khẩu có thể được ngân hàng đứng ra bảo lãnh hay cho
vay với số lượng vốn lớn, kịp thời tạo kiều kiện cho doanh nghiệp nắm bắt
được những cơ hội
6. Các nhân tố thuộc môi trường kinh doanh của doanh nghiệp.
Mỗi doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường đều có một môi
trường kinh doanh nhất định, nó tạo ra những tiền đề thuận lợi cho việc kinh
doanh đồng thời nó cũng có những tác động xấu đến hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp.
Hoạt động kinh doanh nhập khẩu là một hoạt động phức tạp với sự chi
phối của nhiều yếu tố cũng như với nhiều hình thức, nghiệp vụ đa dạng, vì
vậy cần có một đội ngũ cán bộ có năng lực thực sự để tiến hành hoạt động
này. Những người làm công tác nhập khẩu phải là những người có chuyên
12
môn được đào tạo bài bản, có kinh nghiệm và sự hiểu biết sâu rộng về các
lĩnh vực có liên quan.
Bên cạnh đó là tình hình tài chính của doanh nghiệp. Đây là một trong
những nhân tố có ảnh hưởng lớn nhất đến hoạt động nhập khẩu. Một doanh
nghiệp có vốn lớn thì sẽ có thể nhập khẩu những lô hàng lớn, những máy móc
thiết bị công nghệ hiện đại, điều mà chắc chắn các doanh nghiệp có vốn nhỏ
không thực hiện được.
Hiện nay Nhà nước ta đã đa dạng hoá thành phần kinh tế, tự do buôn
bán kinh doanh xuất nhập khẩu trong khuôn khổ pháp luật. Một đơn vị kinh
doanh xuất nhập khẩu phải cạnh tranh với các đơn vị kinh tế thuộc mọi thành
- Quyết định thành lập số: 84/QĐ-UB ngày 09/01/1993 của
UBND TP Hà Nội.
- Giấy phép kinh doanh số: 0103016728 do sở kế hoạch và đầu
tư TP Hà Nội cấp ngày 13/4/2007(chuyển đổi từ công ty TNHH
XNK tổng hợp GCN ĐKKD số 040684 do sở kế hoạch đầu tư
Hà Nội cấp ngày 14/1/1993).
- Vốn điều lệ: 1.230.000.000.000 đồng.
- Loại hình doanh nghiệp công ty cổ phần.
1.2 Ngành nghề kinh doanh chính:
1.2.1 Xuất nhập khẩu trực tiếp:
- Xuất khẩu: Hàng công nghiệp, nông sản, lâm sản, thủy sản,
khoáng sản, hàng tiểu thủ công nghiệp và công nghệ phẩm.
14
-Nhập khẩu: Vật tư máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và
hàng tiêu dung.
1.2.2 Sản xuất, đầu tư:
- Sản xuất chế biến thu mua khoáng sản, nông lâm sản, sản xuất
dược liệu.
- Sản xuất lắp ráp máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và
hàng điện tử.
1.2.3 Đại lý, dịch vụ:
- Ủy thác xuất nhập khẩu.
- Đại lý mua bán ký gửi hàng hóa, vật liệu xây dựng, xăng dầu,
trang trí nội thất.
- Tư vấn trong ngành công nghiệp, tài chính thương mại.
- Dịch vụ thương mại và du lịch.
1.3. Giới thiệu chung về doanh nghiệp :
Công ty xuất nhập khẩu tổng hợp Hà Nội được thành lập theo quyết
định số 84 QĐ-UB ngày 09/01/1993 của UBND TP Hà Nội với số vốn điều lệ
2.5 tỷ đồng . Qua nhiều lần bổ sung ngành nghề kinh doanh , vốn điều lệ của
tiện cho văn phòng cao cấp , Tổng diện tích 26.000 m2 mặt bằng . Tổng vốn
đầu tư là 220 Tỷ đồng . Đây sẽ là khu văn phòng cho tập đoàn Geleximco vào
năm 2008 .
- Khu đô thị thành phố giao lưu Hà Nội :
Được xây dựng theo quy hoạch của thành phố , thuận tiện giao thông
đường bộ và hàng không . Khu đô thị có diện tích 100ha , tổng vốn đầu tư
1600 tỷ đồng Geleximco là cổ đông sáng lập . Đây sẽ là thành phố mới tại
Tây Bắc thủ đô Hà Nội .
- Khu đô thị Lê Trọng Tấn – Hà Tây :
16
Khu đô thị Lê Trọng Tấn – Tây Bắc của Hà Nội cách trung tâm 12km ,
diện tích 165ha bao gồm : nhà đa chức năng , siêu thị , sân tập golf , trường
học , phòng khám đa khoa , khu tổ hợp thể dục thể thao , nhà ở , biệt thự ,
chung cư , Vốn đầu tư : 3000 tỷ đồng .
- Tổ hợp đô thị sân golf Phú Mãn – Hà Tây :
Khu đô thị sinh thái , dịch vụ du lịch và sân golf 18 Phú Mãn – Huyện
Quốc Oai – Tỉnh Hà Tây . Diện tích 230 ha , nơi đây sẽ là khu du lịch , resert
cao cấp với tiêu chuẩn quốc tế 5 sao .
- Khu đô thị mới Hòa Bình – Hòa bình :
Khu đô thị Hòa Bình nằm ở cửa ngõ Tây Bắc của thủ đô , rộng 1200 ha
với sân golf 36 lỗ , khu công nghệ sạch , Geleximco là chủ đầu tư với số vốn
đầu tư lên tới 6000 tỷ đồng .
- Khu nghỉ dưỡng cao cấp Vạn Cảnh :
Bao gồm một khu du lịch sinh thái , nghỉ dưỡng cao cấp , casino và một
sân bay quốc tế với diện tích 1800ha trên đảo Vạn Cảnh , nằm giữa Vịnh Bái
Tử Long , huyện Vân Đồn tỉnh Quảng Ninh . Với vốn đầu tư giai đoạn I dự
kiến : 250 triệu USD , giai đoạn II lên đến hàng tỷ USD , hiện nay đã hoàn
thành việc giải phóng mặt bằng đang trong giai đoạn hoàn thiện các thủ tục
xin cấp phép đầu tư .
C . Sản xuất công nghiệp , thương mại – dịch vụ :
Hình thành trên cơ sở liên doanh giữa viện quản lý toàn cầu Nhật Bản và
Geleximco.
- Công ty cổ phần tập đoàn công nghệ CMC :
Máy tính phần mềm hệ thống mạng phấn đấu trở thành tập đoàn công
nghệ hàng đầu tại Việt Nam CMC với vốn điều lệ 300 tỷ VND , trong đó
geleximco là cổ đông chiến lược .
Do đạt được nhiều thành tích trong sản xuất kinh doanh , ổn định đời
sống người lao động và đóng góp đầy đủ các nghĩa vụ về kinh tế xã hội với
đất nước công ty đã vinh dự được nhận nhiều giải thưởng , bằng khen trong
18
sản xuất kinh doanh của chủ tịch nước , thủ tướng chính phủ , UBND TP Hà
Nội , Hội liên hiệp thanh niên Việt Nam …
Với thành tích đã đạt được trong hoạt động sản xuất kinh doanh , Công
ty đã vinh dự được tặng nhiều bằng , giấy khen của các cấp hội đoàn thể như :
- 02 Huân chương lao động hạng III của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam năm 2003 cho công ty và cá nhân Tổng giám đốc .
- Bằng khen của thủ tướng chính phủ năm 1999 – về thành tích xuất sắc
trong hoạt động sản xuất kinh doanh – năng động sáng tạo .
- Bằng khen của UBND TP năm 2000 – Về xây dựng và phát triển doanh
nghiệp góp phần thực hiện mục tiêu kinh tế xã hội Thanhg phố năm 2000.
- Bằng khen của UBND TP năm 2001 – Về thành tích hoạt động hội
doanh nghiệp trẻ góp phần thực hiện mục tiêu kinh tế xã hội .
- Giải thưởng Sao Vàng đất Việt của hội đồng các doanh nghiệp trẻ Việt
Nam và bộ Thương mại năm 2003 – 2007 .
- Huy chương “ vì thế hệ trẻ “ – Về thành tích đóng góp vào sự nghiệp
giáo dục thế hệ trẻ và xây dựng tổ chức Đoàn .
- Giải thưởng Doanh nhân Thăng Long năm 2003.
Cùng nhiều giấy khen của các cấp các ngành khác.
19
2. Hệ thống tổ chức, chức năng nhiệm vụ của các phòng ban, bộ phận
2.1.2 Nhiệm vụ :
- Lập và trình lãnh đạo công ty phê duyệt kế hoạch triển khai xây dựng
định hướng và chiến lược công ty ( chiến lược công ty , chiến lược sản phẩm
…) .
- Lập và trình lãnh đạo công ty phê duyệt kế hoạch nghiên cứu phát triển
thị trường trên cơ sở chiến lược phát triển của công ty , kế hoạch xây dựng dự
án và phối hợp với các , ban bộ phận có liên quan triển khai thực hiện các dự
án đầu tư theo quyết định của tổng giám đốc , lãnh đạo công ty .
- Xây dựng cơ sở dữ liệu , lưu trữ và quản lý thông tin , thường xuyên
cập nhật thông tin có liên quan và đảm bảo cung cấp đầy đủ , kịp thời , chính
xác thông tin phục vụ công tác quản lý , hoạch định chiến lược và ra quyết
định của lãnh đạo công ty .
- Cung cấp thông tin cần thiết cho các phòng ban , bộ phận khác có liên
quan trong phạm vị được phép .
- Chuẩn bị hồ sơ tài liệu liên quan đến quản lý thực hiện các dự án đầu tư
.
- Tham gia vào các hội đồng thẩm định , đánh giá , phê duyệt xét duyệt
đầu tư , đấu thầu của công ty , các công ty con và chi nhánh có liên quan …
- Theo dõi quá trình xây dựng và thực hiện chiến lược đã đề ra , quá trình
nghiên cứu thị trường và triển khai thực hiện các dự án .
21
- Lập các báo cáo phân tích đánh giá tình hình và kết quả thực hiện các
mục tiêu chiến lược , các chỉ tiêu kinh doanh chủ yếu , kết quả nghiên cứu và
phát triển thị trường , kết quả thực hiện các dự án đầu tư …
- Đề xuất các giải pháp để lãnh đạo công ty lựa chọn và ra quyết định
trong các lĩnh vực chiến lược kinh doanh , phát triển thị trường , lựa chọn và
thực hiện các dự án đầu tư .
- Hướng dẫn các đơn vị khác ( các công ty con , công ty liên doanh , liên
kết , chi nhánh …) trong xây dựng chiến lược , nghiên cứu phát triển thị
trường và thực hiện các dự án đầu tư …
với các phòng ban khác và giữa ban giám đốc với các công ty con . Điều phối
các công việc chung liên quan đến tất cả các phòng ban trong việc nhận , triển
khai các nhiệm vụ , thông báo mới đến các phòng ban khác và các công ty
con .
- Đảm bảo phương tiện ( xe ôtô) phục vụ cho công tác của lãnh đạo và
hoạt động của công ty ( dự trù phương tiện , sửa chữa tổ chức điều động …)
đảm bảo phục vụ theo yêu cầu , đúng quy định .
+ Nhiệm vụ về tổ chức nhân sự :
- Lập và trình lãnh đạo công ty phê duyệt kế hoạch chung về các mặt
công tác liên quan đến hoàn thiện bộ máy tổ chức và cơ cấu quản lý về nhân
sự trong công ty .
- Xây dựng và triển khai thực hiện các chính sách ( quy định , quy chế
…) về các mặt công tác có liên quan trong phạm vi của ban nhân sự như
tuyển chọn , đào tạo , sắp xếp bố trí lao động , công tác tiền lương tiền thưởng
và phúc lợi xã hội …
23
- Xây dựng quy trình công tác liên quan đến tổ chức nhân sự , quản lý hồ
sơ , các văn bản tài liệu liên quan , thường xuyên cập nhật bổ sung và lưu trữ
thông tin … trong lĩnh vực về tổ chức và nhân sự của công ty .
- Lập các báo cáo thường xuyên và đột xuất (khi có yêu cầu ) về tổ chức
bộ máy quản lý và nhân sự trong công ty . Cập nhật các số liệu thống kê trong
công ty và các công ty con đề cung cấp kịp thời theo yêu cầu của BGĐ.
- Tư vấn về công tác tổ chức và nhân sự cho các ban , bộ phận , đơn vị
khác khi có nhu cầu .
- Thực hiện các nhiệm vụ công tác khác về tổ chức nhân sự theo sự phân
công của lãnh đạo công ty .
+ Nhiệm vụ công nghệ thông tin :
- Lập kế hoạch và trình lãnh đạo công ty phê duyệt về xây dựng , lắp
đặt , vận hành hệ thống công nghệ thông tin trong công ty ( phần cứng phần
mềm , hệ thống , thiết bị ngoại vi …)
- Thực hiện các nhiệm vụ có liên quan khác.
+ Nhiệm vụ văn thư lưu trữ :
- Xây dựng và thực hiện đầy đủ các quy trình và thủ tục hành chính , tổ
chức quản lý do các đơn vị đề xuất và dự thảo văn bản thuộc phạm vi phân
công .
- Tổ chức thực hiện tốt công tác văn thư của công ty , đảm bảo kịp thời
và không để thất lạc (công văn đến ,công văn đi , phân phối , theo dõi việc
thực hiện , lưu trữ công văn đầy đủ và theo thứ tự để việc khai thác tài liệu
lưu trữ được nhanh theo yêu cầu ) . Đảm bảo lưu chuyển thông tin , các văn
bản đến đi của công ty được thông suốt ..
- Dự thảo công văn chỉ thị .. của công ty theo yêu cầu của BGĐ . Tổ chức
sao chép , đánh máy tài liệu phục vụ cho công tác và hội nghị . Tổ chức
hướng dẫn và kiểm tra quy cách các văn bản ở các phòng ban và các công ty
con theo đúng tiêu chuẩn .
25