VẤN đề CON NGƯỜI TRONG TRIẾT học mác LÊNIN - Pdf 32

VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
Vấn đề con người, theo nghĩa rộng, bao gồm toàn bộ nội dung nghiên cứu
các khoa học xã hội và nhân văn. Chủ nghĩa Mác - Lêrlin thực chất là học thuyết
về giải phóng c()n người và xã hội loài người. Vấn đê con người là nội dung cơ
bản của chủ nghĩa Mác - Lê nin nói chung, triết học Mác - Lê nin nói riêng.
Con người từ đâu sinh ra? ý nghĩa cuộc sống con người là gì ? Trong mỗi
thời đại lịch sử, con nga.lời quan hệ với tự nhiên và với đồng loại như thế nào?
Vì đây ở mỗi con người, mỗi cộng (rông người có những nét độc đáo về tư
tưởng, tình cảm, tâm lý, tính cách, nghị lực, tài năng? Con người có thể làm chủ
tự nhiên, xã hội và bản thân mì.nh hay không? Con người phải làm gì để có cuộc
sống xứng đáng với con người ?
Đó là những vấn đê chung nhất, cơ bản nhất mà các học thuyết triết học từ
cổ đại đến nay đã đặt ra và giải đáp bằng những cách khác nhau. với sự ra đời
của quan điểm duy vật về lịch sử. Ran (đâu tiên vấn đê con người có dược vị trí
mà nó cần phải có; ran đâu tiên vấn đê con người được nhận thức một cách thật
sự khoa học.
I) NGUỒN GỐC VA BẢN CHẤT CON NGƯỜI
Trong lịch sử tư tưởng nhân loại đã từng tồn tại rất nhiều quan điểm khác
nhau xung quanh vấn đê nguồn gốc và bản chất con người. Trước C.Mác, vấn đê
bản chất con người vẫn chưa được giải đáp một cách thực sự khoa học.
Không những chủ nghĩa duy tâm mà cả chủ nghĩa duy vật trực quan, siêu
hình cũng không nhận thức đúng bản chất con người. Đã từng có những ý kiến
cho rằng, triết học Mác - L'ênin coi nhẹ vấn đê con người. Ngược lại chủ nghĩa
Mác - Lê nin nói chung, triết học Mác - Lê nin nói riêng xem vấn đê con người
là trung tâm của mọi khoa học xã hội và nhân văn. Chủ nghĩa Mác - Lê nin ra
đời xuất phát từ con nuôi và mục đích cuối cùng của nó là soi sáng sự nghiệp
giải phóng cho mỗi con người và cho cả loài người.
Từ buổi sơ khai của mình, do hạn chế về nhận thức, con người đã không
hiểu được những sức mạnh của thiên nhiên. Thiên nhiên vừa nuôi dưỡng con




thiện của Mạnh Từ thì con nuôi phải được dẫn' dắt bằng đạo đức. Còn theo quan
điểm tính ác của Tuân Tử, thì phải lấy pháp lllạt mà ngủn chặn cái ác.
Trong triết học duy tâm của phương Đông còn có thuyết coi trời và người
cùng hòa hợp với nhau (thiên nhân hà nhất tư tưởng này khá phổ biến. Thuyết
này cho rằng trời và người tác động lẫn nhau theo cùng một tính chất. Tuy nhiên
cũng có tư tưởng ngược lại, đó là quan niệm thiên nhân bất tương quan của
Tuân Tử, ÔNG chủ trương về phương diện sinh dưỡng thì người mang ơn của
trời, nhưng về phương diện trị loạn, thịnh suy thì đạo trời không quan hệ gì đến
đạo người, trời không thể làm hại được người, mà cả trời cũng không thể giúp
được người. Tư tưởng triết học có mầm mống duy vật ấy của Tuân Tứ có tác
dụng khắc phục thái độ bị động của con người, khuyến khích con người có tinh
thần tích cực, dáln tự mình giải quyết những vấn đê của mình.
Trong lịch sử triết học ở cả phương Tây và phương Đông, thời nào cũng
có tư tường duy vật, gùn liền với thực tiễn xa hội. Tuy nhiên, bàn về nguồn gốc,
bản chất con người, tư tưởng thống trị trong thời cổ đại và trung đại, vẫn là quan
điểm duy tâm. Thời cận đai, nhận thức về nguồn gốc và bản chất con nuôi có
một bước tiến đáng kê. Triết học duy vật và duy tâm đêu phản ánh nhưng vấn đê
mới mẻ do thời đại đặt ra. Các nhà duy vật Pháp thế kỷ XVIII và Phoiơbắc, nhà
duy vật lớn trong triết học cổ điển Đức, đêu phê phán mạnh mẽ quan điểm duy
tâm, thần bí và tìm cách giải thích nguồn gốc bản chất con người theo quan điểm
du~t vật. VớI sự ra ĐỜI thuyết tiến hóa các loài của Đácuyn, các nhà triết học
duy vật nói trên đã có căn cứ khoa học đê chỉ ra nguồn gốc phi thần thánh của
con người. ''I hông phải chúa đã tạo ra con người theo hình ảnh cửa chúa mà
chính con người đã tạo ra chúa theo hình ảnh của con nuôi''. Lời nói sắc sảo này
của Phoiơbắc đã được CMÁC và PH:ĂNG GHEN đánh giá cao khi _chai ông
nói về vai trò. của các nhà đuy vật trong việc phê phan những quan điểm duy
tâm thần .bí _về nguồn gốc và bản chất của con người.
Phê phán chủ nghĩa duy tâm của Hê ghen, Phoiơbắc đã đạt tới chủ nghĩa
duy vật khi khẳng định rằng ý thức cũng như tư duy của con người chỉ là sản

ấy''l.
Trước hết Mác thừa nhận con nuôi là một động vật cao cấp nhất, sản
phẩm của sự tiến hóa lâu dài của giới sinh vật như tiến hóa luận của Đácuyn đã


khẳng định. Như mọi động vật khác, con người là lột bộ phận của thiên nhiên,
tìm thức ăn, nước uống... từ trong thiên nhiên. Như mọi động vật khác, con
người phải ''đấu tranh'l để tồn tại, ăn uống, sinh con đẻ cái... Tuy nhiên, C.Mác
không thừa nhận quan điểm cho rằng: cái duy nhất tạo nên bản chất con người là
đặc tính sinh học, là bản năng sinh vật của con người. Con người vốn là một
sinh vật có đây đủ nhưng đặc trưng của sinh vật, nhưng lại có nhiều điểm phân
biệt với các sinh vật khác. Vậy con người khác đọng vật ở chỗ nào? Trước
C.Mác và cùng thời đã có nhiều nhà tư sản lớn đã đưa ra nhưng tiêu chí phân
biệt người và động vật có sức thuyết phục, chẳng hạn như Phranklin cho rằng
con người khác con vật ở chỗ con người biết sử dụng công cụ lao động, Arixtốt
đã gọi con người là ''một động vật có tính xã hội'', Pascal nhấn mạnh đặc điểm
của corl người và sức mạnh của con người là ở chỗ rón người biết suy nghĩ (con
người là ''một cây sậy, nhưng là một cây sậy biết suy nghĩ''). Các nhận định trên
đêu đúng khi nêu Lên một khía cạnh về bản chất cửa con người, nhưng nhưng
nhận định đó đêu phiến diện, không nói lên được nguồn gốc của những đặc điểm
ấy và mối quan hệ biện chứng giữa chúng với nhau.
Triết học Mác nhìn nhận vấn đề bản chất- con người một cách toàn diện,
cụ thể, xem xét bản chất con người không phải một cách chung chung, trừu
tượng mà trong tính hiện thực, cụ tì lể của nó, trong 'quá trình phát triển của nó.
CMÁC và PH.ĂNG GHEN đã phân tích vai trò của lao động sản xuất ở con
người như sau: ''Có thể phân biệt con người với súc vật, bằng ý thức, bằng tôn
giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được. Bản thân con người bắt đâu bằng
tự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đâu sản xuất ra những tư liệu
sinh hoạt của mình - đó là một bước tiến do tổ chức cơ thể của con người; quy
định. Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như thế con người đã gián

Nói tóm lại, con người khác con vật về bản chết ở cả ba mặt: quan hệ với
thiên nhiên, quan hệ với xã hội, quan hệ với bản thân. Cả ba mối quan hệ đó đêu
mang tính xã hội, trong đó quan hệ xã hội là quan hệ bản chất nhất, bao quát
nhất trong mòi hoạt động của con người, cả trong lao động, sinh con đẻ cái và
trong tư duy.
Khi CMÁC nói: ''Trong tính hiện t.hực của nó, bản chất con người là tổng
hòa những quan hệ xã hội''l' thì ta hiểu những quan hệ ấy thể hiện trong toàn bộ


hoạt động cụ thể cửa con người. Không có con người trừu tượng mà chỉ có
những con người sống, hoạt động trong một xã hội nhất định, một thời đại nhất
định, trong những điều kiện lịch sử nhất định, nghĩa là những con người cùng
với xã hội mình khai thác thiên nhiên, sinh hoạt xã hội, phát triển ý thức. Chỉ
trong toàn bộ những quan hệ xã hội cụ thể đó con người mới bộc lộ và thực hiện
được bản chất thật sự của mình. Xét về bản chất của một con n~ơười cũng như
của một dân tộc phải xuất phát từ toàn bộ những quan hệ xã hội ấy.
Tính xã hội của con người phát triển từ thấp đến cao, từ hoạt động bản
năng đến hoạt động có ý thức, cũng như bản thân ý thức.
Con người không chỉ có bản năng sinh học, mà còn có bản năng xã hội.
Cái bản năng xã hội đã bắt đấu nhen nhóm trong những tập đoàn động vật, đặc
biệt là tập đoàn khỉ, nó tạo nên tính xã hội của những động vật ấy. Cách đây
hàng triệu năm trong sự tiến hóa của một số loài khỉ thì cái bản năng xã hội hay
tính xã hội phát triển và bao trùm từng bước cái bản năng sinh học. Vì vậy, l'bản
năng xã hội là một trong những đòn bẩy quan trọng nhất cửa sự phát triển của
con người từ khỉ''l, bản năng xã hội của con nuôi là bản năng có ý thức.
Trong Hê tu thưởng Đức, khi bàn và buổi dầu của ý thức con người ở thời
khởi nguyên, C.Mác và PH.ĂNG GHEN đã nhận định: ''Đó là một ý thức quần
cư đơn thuần, và trong trường hợp này, con người khác với con cừu chỉ là ở chỗ
trong con người, ý thức thay thế bản năng hoặc bản năng của con người là bản
năng đã được ý thức''2.

Khi C.Mác chỉ ra rằng bản chất con người, trong tính hiện thực của nó, là
tổng hòa các quan hệ xã hội thì ông không dừng lại ở bản năng sinh vật của con
người. C.Mác nói đến con người là nói đến con người hiện thực, nói đến bản
năng xã hội của con người trong mọi quan hệ của đời sống.
II) QUAN HỆ GIỮA CÁ NHÂN VÀ XÃ HỘI
Quan hệ giữa cá nhân và xã hội là vấn đề có vị trí quan trọng đặc biệt
trong học thuyết Mác. Các tác phẩm của các nhà kinh điển Mác – Lê nin đã đề
cập đến vấn đề này một cách toàn diện, sâu sắc có hệ thống trên cơ sở chủ nghĩa
duy vật lịch sử.


Khái niệm cá nhân chỉ con người cụ thể sống trong một xã hội nhất định
với tư cách một cá thể, một thành viên của xã hội ấy; do những đặc điểm riêng
biệt của mình mà phân biệt với những thành viên khác của xã hội. Xã hội bao
giờ cũng do các cá nhân hợp thành. Những cá nhân này sống và hoạt động trong
những nhóm, cộng đồng, tập đoàn xã hội khác nhau do điều kiện lịch sử cụ thể
quy định. Bất cứ xã hội nào cũng được cấu thành không phải bởi những con
người trừu tượng mà bởi những con người cụ thể, những cá nhân sống. Mỗi cá
nhân là một cái đơn nhất mang những đặc điểm riêng phân biệt với các cá nhân
khác không chỉ về mặt sinh học mà chủ yếu về mặt những quan hệ xã hội,
những quan hệ này vô cùng phức tạp, rất cụ thể và có tính lịch sử, Mỗi cá nhân
có đời sống riêng, có những “quan hệ xã hội” của riêng mình không hoàn toàn
giống quan hệ xã hội của các cá nhân khác, có kinh nghiệm riêng, có nhu cầu,
lợi ích, nguyện vọng riêng.
Tuy nhiên các cá nhân trong một xã hội nhất định dù khác biệt nhau đến
đâu, đều mang cái chung; họ đều là thành viên của xã hội, đều mang bản chất xã
hội, không thể sống ngoài xã hội. Trong xã hội có giai cấp, mỗi giai cấp đều do
các cá nhân - thành viên của giai cấp - hợp thành. Mỗi cá nhân trong một giai
cấp, vừa mang bản chất chung của con người và loài người, vừa mang bản chất
một giai cấp nhất định, đồng thời có những đặc điểm riêng làm cho cá nhân này

cá nhân..., thực chất là nói đến cá nhân tư sản. C. Mác và Ănghen đã chỉ rõ,
trong lao động làm thuê, người vô sản mất hết cá tính. Lợi ích của giai cấp công
nhân và lợi ích cá nhân người công nhân. Chủ nghĩa tư bản càng phát triển càng
làm cho con người bị tha hóa. Người công nhân gánh chịu mọi hậu quả nặng nề
của sự tha hóa. Kết quả hoạt động của con người, của người công nhân, ngày
càng biến thành một lực lượng thoát ra khỏi con người, xa lạ với con người,
thống trị lại con người, thù địch với con người, lực lượng đó là tư bản. Các điều
kiện lao động của người công nhân đối lập lại nga.tời công nhân. Trong những
điều kiện đó, tự do của người lao động chỉ mang tính hình thức, cá nhân con
người không thể có sự phát triển hài hòa và toàn diện. Điều kiện sống và làm
việc của công nhân càng tồi tệ hơn khi họ mất việc làm; khi đó người lao động
càng không thể khẳng định mình với tư cách cá nhân. Chỉ khi nào các đối kháng
giai cấp toàn xã hội đã bị loại bỏ, khi nguôi lao động thực sự làm chủ các điều
kiện vật chất cua người lao động, họ mới thật sự trở thành người lao động tự do.
Và cá nhãn người lao động, với tư cách con người mới được khẳng định. Chủ


nghĩa xã hội không ''thủ tiêu cá nhân'' như giai cấp tư sản nói, trái lại tạo những
điều kiện xã hội cần thiết cho sự phát triển toàn diện của mỗi cá nhân, làm cho
mỗi cá nhân phát huy cao độ năng lực của mình, bản sắc cửa mình trong cuộc
sống riêng tư cũng như trong xây dựng một xã hội mới nhân bản, công bằng,
văn minh, một xã hội trong đó lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội không đối lập
nhau mà thống nhất với nhau, là tiền đê và điều kiện của nhau.
Mục tiêu cách mạng của Đảng ta và nhân dân ta là đem lại ấm no, tự do,
hạnh phúc cho cả cộng đông và mỗi thành viên của cộng (công với tư cách cá
nhân. Trong quá trình đổi mới, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, Đảng ta, Nhà nước ta thực hiện các chủ trương, giải pháp kinh tế, chính
trị, văn hóa, xã hội phục vụ lợi ích của toàn xã hội, của cộng đông. Báo vệ vững
chắc độc lập dân tộc. phát triển mạnh mẽ vững chắc kinh tế, văn hóa, từng bước
thực hiện công bằng xã hội đó là lợi ích cơ bản của nhân dân ta. Lợi ích chung

chỉ là lịch sử phát triển cá nhân cửa họ...l,2' Xã hội càng phát triển thì những yêu
cầu, nguyện vọng, khuynh hướng phát triển của cá nhân càng đa dạng. Không
quan tâm giải quyết những vẫn đê đó thì chẳng những làm suy yếu động lực của
sự phát triển xã hội mà còn làm cho đời sống xã hội trở thành nghèo nàn, đơn
điệu, không phù hợp với bản chất của chủ nghĩa xã hội.


Câu hỏi: Anh (chị) hãy trình bày vai trò của quần chúng và cá nhân trong lịch
sử
DÀN Ý:
- Khái niệm quần chúng nhân dân bao giờ cũng được dùng để chỉ một
khối đông đảo người trong xã hội. Tuỳ theo từng chế độ xã hội và tuỳ trừng sự
kiện lịch sử khác nhau mà trong khái niệm quần chúng nhân dân bao hàm những
thành phần người và những tầng lớp xã hội khác nhau. Nhưng nói chung, quần
chúng nhân dân là tất cả nhân dân lao động và các lực lượng tiến bộ trong xã hội
mà thông ua hoạt động của họ lịch sử sẽ biến đổi.
- Con người sáng tạo ra lịch sử của mình. Song vai trò quyết định đối với
sự phát triển xã hội là ở một cá nhân đặc biệt hay quần chúng nhân dân đông
đảo? Trước khi chủ nghĩa Mác ra đời, triết học duy tâm và triết học duy vật đều
không hiểu đúng đắn vai trò của quần chúng và mối quan hệ giữa quần chúng và
cá nhân trong lịch sử.
- Tư tưởng tôn giáo cho rằng mọi sự thay đổi trong xã hội là do ý chí của
đấng tối cao, là do “mệnh trời”, ý chí đó được các cá nhân thực hiện. Triết học
duy tâm cho rằng lịch sử nhân loại là lịch sử của các bậc vua chúa, anh hùng hào
kiệt, thiên tài lỗi lạc. Còn quần chúng nhân dân chỉ là “lực lượng tiêu cực”, là
“phương tiện” mà các vĩ nhân cần đến để đạt mục đích của mình. Những nhà
duy vật trước Mác, tuy không tin vào Thượng đế, thần linh, nhưng cũng không
hiểu được vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử. Họ cũng cho rằng nhân
tố quyết định sự phát triển của xã hội là tư tưởng, đạo đức, là các vĩ nhân sớm
nhận thức được chân lý vĩnh cửu.

định hoạt động sản xuất của quần chúng, là điều kiện cơ bản để quyết định sự
tồn tại và phát triển của xã hội, do đó, quần chúng nhân dân là người sáng tạo
chân chính ra lịch sử.


2) Quần chúng nhân dân là động lực cơ bản của mọi cuộc cách mạng
xã hội
- Trong xã hội có giai cấp, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ
sản xuất biểu hiện thành mâu thuẫn giữa các giai cấp đối kháng, giữa giai cấp
thống trị và giai cấp lao động, bị trị. Khi quan hệ sản xuất đã trở thành xiềng
xích của lực lượng sản xuất thì cần có các cuộc cách mạng xã hội để xóa bỏ
quan hệ sản xuất cũ, thiết lập quan hệ sản xuất mới, giải phóng lực lượng sản
xuất, hình thành phương thức sản xuất mới cao hơn. Quần chúng nhân dân bao
giờ cũng là lực lượng cơ bản của cách mạng, đóng vai trò quyết định thắng lợi
của các cuộc cách mạng. Trong các cuộc cách mạng vĩ đại làm thay đổi hình
thái kinh tế - xã hội, quần chúng nhân dân tham gia đông đảo, tự giác, tích cực
thì cách mạng mới có thể giành thắng lợi. Cách mạng là ngày hội của quần
chúng, là sự nghiệp của quần chúng chứ không phải sự nghiệp riêng của một số
cá nhân.
3) Quần chúng nhân dân có vai trò to lớn, không thể thay thế, trong
sản xuất tinh thần
- Quần chúng nhân dân chẳng những đóng vai trò quyết định trong sản
xuất vật chất, trong cách mạng xã hội mà còn đóng vai trò vô cùng to lớn trong
sự nghiệp phát triển văn học, nghệ thuật, khoa học v.v... Nói về vai trò quần
chúng trong sáng tạo nghệ thuật, Hồ Chí Minh nhận định: Quần chúng là những
người sáng tạo, công nông là những người sáng tạo. Nhưng, quần chúng không
phải chỉ sáng tạo ra những của cải vật chất cho xã hội. Quần chúng còn là người
sáng tác nữa... Những sáng tác ấy là những hòn ngọc quý. Những nền văn học
nghệ thuật lớn đều bắt nguồn từ văn học nghệ thuật dân gian. Mác viết: “Thần
thoại Hy Lạp không những cấu thành kho tàng của nghệ thuật Hy Lạp mà còn là

bắt nguồn từ quần chúng nhân dân.
4) Vai trò của vĩ nhân và mối quan hệ giữa vĩ nhân và quần chúng
nhân dân
- Lãnh tụ có vai trò vô cùng quan trọng đối với phong trào quần chúng.
Lãnh tụ sáng suốt, đức độ, tài năng xuất hiện đúng lúc bao giờ chúng có tác
dụng thúc đẩy phong trào quần chúng phát triển mạnh mẽ, chắc chắn, đúng


hướng, ít sai lầm và do đó giúp cho phong trào quần chúng đạt tới những thành
qủa tốt đẹp nhất, to lớn nhất. Những phong trào quần chúng to lớn không thể
thiếu người lãnh đạo có tầm nhìn xa, thấy rộng, có năng lực tổ chức tập hợp,
đoàn kết quần chúng. V.I. Lê nin viết: “Trong lịch sử, chưa hề có giai cấp nào
giành được quyền thống trị, nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của
mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiên phong có đủ khả năng tổ chức
và lãnh đạo phong trào”. Sự xuất hiện của những lãnh tụ, cá nhân kiệt xuất tiêu
biểu cho thời đại không phải hoàn toàn ngẫu nhiên mà mang tính tất yếu.
- Các nhà sáng lập chủ nghĩa duy vật lịch sử không hề coi nhẹ mà ngược
lại các ông đã đánh giá rất cao vai trò cửa cá nhân kiệt xuất, lãnh tụ sáng suốt.
Trong bài diễn văn vĩnh biệt C. Mác, Ănghen nhận định rằng: C. Mác là “nhà tư
tưởng vĩ đại nhất trong số những nhà tư tưởng hiện đại”, “Con người đó mất đi
là một tổn thất không sao lường hết được đối với giai cấp vô sản đang đấu
tranh ở châu Âu và châu Mỹ, đối với khoa học lịch sử...” Ănghen khẳng định vai
trò quyết định của Mác trong sự nghiệp xây dựng học thuyết soi sáng cho sự
nghiệp cách mạng giải phóng xã hội loài người. Ông nói rõ: “ở đây cho phép tôi
giải thích một điều có liên quan đến cá nhân tôi. Gần đây, người ta đã nhiều lần
nói đến cái phần tham gia của tôi trong việc xây dựng học thuyết đó và vì vậy,
tôi buộc phải nói vài lời để giải quyết dứt khoát vấn đề. Tôi không thể phủ nhận
rằng trước khi cộng tác với Mác và trong 40 năm cộng tác với Mác, tôi đã góp
một phần của riêng mình vào việc xây dựng, nhất là vào việc phát triển học
thuyết ấy. Nhưng đại bộ phận những tư tưởng chỉ đạo cơ bản, nhất là trong các

Nhà nước. Tệ sùng bái cá nhân thường dẫn đến bè phái, mất đoàn kết trong
Đảng và trong nhân dân, tạo ra tình trạng mất lòng tin của cán bộ và quần
chúng.
- Tệ sùng bái cá nhân tạo ra nhiều hiện tượng tiêu cực như thái độ xu
nịnh, quan liêu, gia trưởng, hành động tham nhũng, cũng như mọi tệ hại khác.
Nó phá hoại nghiêm trọng các thành quả cách mạng của Đảng và Nhân dân.
- Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê nin luôn luôn coi sùng bái cá
nhân là hiện tượng hoàn toàn xa lạ với hệ tư tưởng của giai cấp vô sản. Năm
1891 để từ chối mọi chương trình chuẩn bị cho ngày sinh của mình do Hiệp hội
văn hóa cộng sản công nhân Luân Đôn đứng ra tổ chức, Ănghen đã bộc lộ quan


điểm rõ ràng và ông lập luận như sau: Mác và tôi bao giờ cũng chống lại những
cuộc biểu dương công khai chào mừng những cá nhân đặc biệt; chúng chỉ được
phép nếu như chúng phục vụ để đạt tới mục đích quan trọng.
- C. Mác, Ănghen, LêNin trong cả cuộc đời mình, luôn luôn là những con
người khiêm tốn, chân thành, không hề tách ra khỏi quần chúng nhân dân, mặc
dù họ là những con người, những nhà lãnh tụ tài giỏi, được quần chúng yêu
mến, tôn kính. Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc ta suốt đời đã gắn bó
với quần chúng nhân dân. Lòng yêu thương vô hạn của Người đối với quần
chúng gắn liền với lòng tin vô hạn đối với lực lượng và trí tuệ của quần chúng.
Người luôn khuyên bảo cán bộ, đảng viên phải gắn bó với quần chúng, học hỏi
quần chúng, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành
của nhân dân.
Câu hỏi: Quần chúng nhân dân là gì? Tại sao nói quần chúng nhân dân là người
quyết định lịch sử? Và như vậy có phải là coi nhẹ vai trò của vĩ nhân hay
không?
TRẢ LỜI:
1) Khái niệm quần chúng nhân dân:
- Khái niệm quần chúng nhân dân bao giờ cũng được dùng để chỉ một

và phát triển của xã hội mà đó chính là hoạt động của quần chúng nhân
dân, những người lao động trong mọi chế độ xã hội, mọi thời đại khác
nhau. Mọi sự biến đổi của lịch sử trên mọi mặt của đời sống xã hội,
suy đến cùng là do sự vận động của lực lượng sản xuất xã hội quy định
mà chính quần chúng nhân dân, những người lao động bao giờ cũng là
lực lượng sản xuất hàng đầu và cơ bản của xã hội.
• Quần chúng nhân dân là lực lượng tham gia chủ yếu và động lực cơ
bản của mọi cuộc cách mạng xã hội. Cách mạng xã hội chính là ngày
hội của quần chúng nhân dân, những người bị áp bức, bị bóc lột trong
các xã hội phân chia thành giai cấp. Không lúc nào quần chúng nhân
dân có thể tỏ ra là người sáng tạo trật tự xã hội mới tích cực như trong
thời kỳ cách mạng. Trong những thời kỳ như thế thì nhân dân có thể


làm được những kỳ công. Hồ chủ tịch cũng khẳng định: “Cách mạng
là sự nghiệp của quần chúng”
• Mọi giá trị văn hoá, tinh thần của xã hội đều bắt nguồn từ đời sống
tinh thần và hoạt động sáng tạo của quần chúng nhân dân, kể cả trong
những xã hội có sự phân chia thành lao động trí óc và lao động chân
tay, có sự tách rời giữa sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần. Nếu xét
theo bản chất, theo nội dung bên trong chứ không phải xét ở những
hiện tượng, hình thức bên ngoài thì chính quần chúng nhân dân là
người đã tạo ra một cách trực tiếp hay gián tiếp những sản phẩm văn
hoá, những giá trị tinh thần cho xã hội. Như vậy, xét trên mọi mặt, mọi
lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội thì quần chúng nhân dân bao
giờ cũng là người quyết định lịch sử, người sáng tạo ra lịch sử. Song
việc thực hiện vai trò đó của quần chúng nhân dân đến mức nào, phạm
vi nào, tính chất ra sao còn tuỳ thuộc vào từng phương thức sản xuất,
từng chế độ xã hội và tuỳ thuộc vào trình độ tri thức, tính tổ chức và ý
thức giác ngộ của quần chúng. Bởi vậy, trong lịch sử phát triển của

khả năng nắm bắt được chính xác những quy luật, những xu hướng
vận động tất yếu khách quan của lịch sử, biết tạo ra những điều kiện và
chọn đúng thời cơ cho việc thực hiện những quy luật và xu hướng đó.
Vì vậy, vĩ nhân không chỉ có vai trò thúc đẩy tiến trình của lịch sử mà
còn quy định cả sắc thái, bộ mặt, con đường ... của tiến trình lịch sử
đó.
• Tuy vĩ nhân có vai trò rất to lớn, rất quan trọng như vậy đối với tiến
trình lịch sử, họ để lại những dấu ấn rất đậm nét trong trang sử của mỗi
dân tộc và mỗi quốc gia, song nguồn gốc sức mạnh của vĩ nhân là sức
mạnh của quần chúng nhân dân và chính quần chúng nhân dân tạo nền
tảng, cơ sở, tiền đề cho vai trò của vĩ nhân được thực hiện. Bởi vậy,
Chủ nghĩa Mác-Lênin cũng kiên quyết đấu tranh chống tệ sùng bái cá
nhân. Tệ sùng bái cá nhân là biểu hiện quan điểm duy tâm về lịch sử
của giai cấp thống trị nhằm hạn chế hoặc phủ nhận vai trò của quần
chúng nhân dân
4) Ý nghĩa thực tiễn:


Quần chúng quyết định sự phát triển của lịch sử vì thế phải có quan điểm
quần chúng một cách sâu sắc và triệt để trong mọi chủ trương, chính sách và
biện pháp đối với hoạt động thực tiễn. Ở đâu mà không có quan điểm quần
chúng thì ở đó lịch sử sẽ trì trệ. Các nhân lãnh tụ dù có tài giỏi đến đâu mà
không huy động tập hợp được sức mạnh của quần chúng thì ở đó khó phát huy
được tài năng của mình.
Quan điểm quần chúng đòi hỏi phải coi trọng quần chúng, thương yêu,
phát huy quyền làm chủ của quần chúng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Do đó phải quán triệt quan điểm cách mạng là sự nghiệp của toàn dân, do dân và
vì dân. Sự nghiệp cách mạng phải do quần chúng trực tiếp thực hiện, không ai
có thể thay thế; mọi thắng lợi và thất bại đều do quần chúng; là động lực trực
tiếp và quyết định trong sự nghiệp đổi mới hiện nay.

chúng phải tuyệt đối trung thành với lãnh tụ trong mọi hoàn cảnh; đồng thời
kiên quyết chống tệ sùng bái cá nhân dẫn đến tước bỏ quyền làm chủ của quần
chúng, làm cho họ thiếu tin vào sức mạnh của bản thân, phục tùng lãnh tụ một
cách mù quáng. Hoạt động của lãnh tụ phải có tính giáo dục, nêu gương để quần
chúng học tập và làm theo.
Đảng ta luôn quan niệm rằng để đảm đương được vai trò lãnh đạo cách
mạng, Đảng phải luôn liên hệ mật thiết với quần chúng nhân dân. Bài học này
đã được rút ra ở Đại hội lần thứ VI của Đảng: “trong toàn bộ hoạt động của
mính, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy
quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động”. Quan điểm này tiếp tục được các
đại hội lần thứ VII và VIII phát triển toàn diện hơn: “xây dựng cơ chế cụ thể để
thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đối với các
chủ trương chính sách lớn của Đảng và Nhà nước”.
Tuy nhiên, trong những năm qua, bệnh quan liêu, hách dịch, cửa quyền,
sự suy thoái về đạo đức và lối sống của một bộ phận cán bộ lãnh đạo là nỗi nhức
nhối của toàn Đảng, toàn dân; làm xói mòn lòng tin của dân đối với Đảng. Hâu
quả đó làm cho tính tích cực hoạt động của quần chúng nhân dân bị hạn chế, làm
cho sức mạnh lãnh đạo của Đảng bị suy yếu. Vì vậy học tập quán triệt chủ nghĩa
Mác Lênin, thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và quan điểm về quần
chúng và lãnh tụ nói riêng có ý nghĩa quan trọng hơn bao giờ hết của mỗi cán bộ


đảng viên, nhằm hoàn thành mục tiêu của cách mạng nước ta là xây dựng một
nước Việt Nam: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status