ĐỒ ÁN QTTB GVHD: TRẦN VĂN NGHỆ
SVTH :TRẦN ĐÌNH HIỂN
CHƯƠNG I:
LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN VÀ VAI TRÒ CỦA
NGÀNH KỸ THUẬT LẠNH ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ
VIỆT NAM
I.LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN NGÀNH LẠNH:
Con người đã biết làm lạnh và sử dụng lạnh cách đây rất lâu. Những nhà khảo cổ
học đã phát hiện ra những hang động có mạch nước ngầm nhiệt độ rất thấp dùng để chứa
thực phẩm và lương thực từ 5000 năm trước.
Cách đây 2500 năm ở Ai Cập, người ta làm mát không khí bằng cách quạt các bình
xốp cho nước bay hơi. Cách đây 2000 năm người Ấn Độ và Trung Quốc biết trộn muối
vào nước để tạo nhiệt độ thấp hơn.
Tuy vậy, kỹ thuật lạnh hiện đại bắt đầu từ khi giáo sư Black tìm ra nhiệt ẩn hoá hơi
và nhiệt ẩn nóng chảy vào năm 1761 - 1764. Con người đã biết làm lạnh bằng cách cho
bay hơi ở áp suất thấp.
Sau đó là một phát hiện quan trọng không kém, Clouet và Monge lần đầu tiên hóa
lỏng được SO
2
vào năm 1780. Từ 1781 Cavallo bắt đầu nghiên cứu hiện tượng bay hơi một
cách có hệ thống hơn.
Kỹ thuật lạnh phát triển mạnh mẽ nhất là vào thế kỉ 19. Năm 1823 Faraday bắt đầu
công bố những công trình về hoá lỏng khí SO
2
, H
2
S, CO
2
, N
2
O, C
2
và tách bằng chưng cất, K.Onnes (Hà Lan) hoá lỏng được Heli.
Năm 1834 J.Perkinh (Anh) đã đăng kí bằng phát minh đầu tiên về máy lạnh nén hơi
với các thiết bò đầy đủ như một máy lạnh nén hơi hiện đại, bao gồm : máy nén, giàn
ngưng tụ, giàn bay hơi và van tiết lưu. Đến cuối thế kỉ 19 nhờ sự cải tiến của Linde (Đức)
với việc sử dụng NH
3
làm môi chất lạnh cho máy nén hơi, viếc chế tạo máy lạnh nén hơi
mới phát triển rộng rãi trong hầu hết các ngành kinh tế quốc dân.
Năm 1810 Leslie (Pháp) đưa ra máy lạnh hấp thụ đầu tiên, là loại máy lạnh hấp thụ
chu kì với cặp môi chất là H
2
O/H
2
SO
4
. Đến giữa thế kỉ 19, nó được phát triển một cách
rầm rộ nhờ kỹ sư Carré (Pháp) với hàng loạt bằng phát minh và máy lạnh hấp thụ chu kỳ
và liên tục với các cặp môi chất khác nhau.
Năm 1899 Geppert (Đức) đăng kí bằng phát minh máy lạnh khuếch tán hoàn toàn
không có chi tiết chuyển động, sau đó đựơc Platon và Munters (Thụy Điển) hoàn thiện
vào năm 1922 nó vẫn có vò trí quan trọng cho tới ngày nay.
Đưa vào kết quả nghiên cứu của các nhà lý thuyết bác só người Mỹ Gorrie đã thiết
kế chế tạo thành công máy lạnh nén khí dùng để điều tiết không khí cho trạm xá chữa
bệnh sốt cao của ông.
- 1 -
ĐỒ ÁN QTTB GVHD: TRẦN VĂN NGHỆ
SVTH :TRẦN ĐÌNH HIỂN
Máy lạnh Ejector hơi nước đầu tiên do Leiblanc chế tạo năm 1910. Đây là một sự
kiện có ý nghóa trọng đại, bởi vì nó đơn giản. Năng lượng tiêu tốn cho nó là nhiệt năng, do
các hệ thống lạnh và máy lạnh tăng lên rõ rệt, những thiết bò lạnh tự động hoá hoàn toàn
bằng điện tử và vi điện tử, dần dần thay thế các thiết bò thao tác bằng tay.
II.VAI TRÒ KỸ THUẬT LẠNH ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM:
Ở Việt Nam, mặc dù đã trãi qua nhiều năm chiến tranh, nhưng nhà nước đã có
những chú ý đúng mức về việc phát triển kỹ thuật lạnh. Từ chỗ Miền Bắc chỉ có vài trạm
nhỏ, nay đã có hàng trăm cơ sở, có những cơ sở trang bò máy lạnhvới công suất hàng triệu
Kcal/h, kể cả mạng lưới trong toàn quốc, thì nước ta đã có tới trên 400 cơ sở lạnh lớn nhỏ.
Trên mặt đất cũng như dưới nước (các tàu đánh bắt). Tổng cộng tất cả các trạm lạnh ở
nước ta thì công suất đạt được tới 40 triệu Kcal/h.
Nước ta có điều kiện đòa lý thuận lợi với bờ biển trãi dài 3000 cây số, rất thuận lợi
cho việc phát triển ngành lạnh đi đôi với ngành đánh bắt, nuôi trồng thuỷ hải sản.
Những năm gần đây ở nước ta nhu cầu làm lạnh ngày càng tăng nhanh. Đã có hàng
triệu phân xưởng đông lạnh thực phẩm xuất khẩu như : tôm, cá, thòt, rau, quả,… đựơc xây
dựng trên khắp mọi miền đất nước. Kỹ thuật lạnh đã thâm nhập hơn 60 ngành kinh tế
khác nhau. Với sự mở cửa liên doanh với nước ngoài, các dòch vụ thương mại, du lòch phát
triển mạnh với sự hình thành các trung tâm văn hoá, giao dòch quốc tế, đòi hỏi sử dụng rất
nhiều kỹ thuật lạnh. Hơn nữanước ta có khí hậu nhiệt đới quanh năm nóng bức, độ ẩm lại
cao, cho nên việc điều hoà không khí, bảo quản thực phẩm và giải khát bằng nước đá là
nhu cầu bức thiết hiện nay.
Tuy vậy trình độ khoa học kỹ thuật của nước ta còn non yếu, ngành lạnh ở Việt Nam
chúng ta hiện nay là quá nhỏ bé, chúng ta chỉ chế tạo được các loại máy lạnh NH
3
nhỏ,
chưa chế tạo được các loại máy lạnh cỡ lớn, máy lạnh Freôn hay các thiết bò tự động hoá.
Phần lớn thiết bò sử dụng hiện nay với công suất lớn đều nhập từ nước ngoài.
- 2 -
ĐỒ ÁN QTTB GVHD: TRẦN VĂN NGHỆ
SVTH :TRẦN ĐÌNH HIỂN
Do vậy việc nghiên cứu và tổ chức phát triển ngành lạnh ở nước ta là sự cần thiết.
Và chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả kinh tế to lớn cho đất nước.
4 – 5 đến tháng 10 – 11. Lượng mưa bình quân 2000 ml/năm.
+ Nhiệt độ trung bình 27
0
C.
+ Nhiệt độ tối đa 40
0
C.
+ Nhiệt độ thấp nhất 15,8
0
C.
- Giao thông vận tải : Do quận Tân Bình nằm gần cử ngõ thành phố, nên có
những nút giao thông quan trọng.
+ Bến xe Tây Ninh.
+ Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất.
Giao thông thuận tiện với những đại lộ Hoàng Văn Thụ, Cách Mạng Tháng Tám,
Lý Thừơng Kiệt, u Cơ, phân bố vào các quận giáp biên và 2 trung tâm thành phố.
Qua những lập luận trên cho thấy quận Tân Bình là nơi tốt nhất để xây dựng
phân xưởng sản xuất nước đá tinh khiết có hiệu quả kinh tế cao.
- 3 -
ĐỒ ÁN QTTB GVHD: TRẦN VĂN NGHỆ
SVTH :TRẦN ĐÌNH HIỂN
II. MẶT BẰNG PHÂN XƯỞNG :
Do vò trí xây dựng ở thành phố Hồ Chí Minh. Phân xưởng sản xuất nước đá, cần
biết tận dụng tối đa các mặt bằng cho phép. Điều này không nằm ngoài mục đích giảm
chi phí ban đầu. Mặc dù việc dự trữ đất để mở rộng phát triển mở rộng phân xưởng là
điều cần thiết nhưng điều ấy chỉ phù hợp với những nơi có mặt bằng rộng lớn, giá rẻ. Ở
đây phân xưởng sản xuất nước đá đang thiết kế được xây dựng với tổng diện tích dự
toán là : 42*33 = 1386 m
2
. Bao gồm các bộ phận : Phòng hành chánh, phòng kỹ thuật,
Sau đây là một số kết quả phân tích các mẫu nước ngầm, nước máy ở thành phố
Hồ Chí Minh.
Bảng kết quả phân tích lượng nước trong mùa mưa (tháng 6, 7, 8) của máy
nước ngầm Hóc Môn.
Tầng chứa
H
2
O
Tầng chứa nước tứ II
Lớp thấm TB Phần trên lớp
thấm
Phần dưới lớp
thấm
Tên giếng Quang trung Trung chánh Đông thạnh
Độ sâu 40 m 75 m 150 m
Ngày lấu mẫu 17 - 03 -1984 17 - 03 -1984 10 - 1982
PH
Fe (mg/l)
Độ kiềm (CaCO
3
)
Độ cứng (CaCO
3
)
Độ đục (SiO
2
)
Cl – (mg/l)
5,1
0,5
(tự do)
Chất rắn hoà tan
Chất rắn tổng cộng
2
-
vết
-
10
0
4,9
120
110
120
4
-
0
vết
4
0
19,5
200
200
90
2
3,08
0,05
0
11,9
0
43,04
khoảng hở vừa đủ để đặt linh đá đã đổ đầy nước mới vào. Chuyển động giữa nước muối
tuần hoàn và linh đá là ngược chiều .
Khi đá đã kết đông trong khuôn , toàn bộ lênh đá được cầu trục nâng ra khỏi bể và
thả vào bể làm tan giá. Các khuôn đá nóng lên , lớp băng dính khối với khuôn tan ra , cầu
trục sẽ nâng linh lên và đặt vào cơ cấu lật . Do trọng lực , linh đá lật các khối đá ra và các
khối đá trượt lên bàn trượt đá để vào kho chứa đá , còn linh đá được cầu trục đưa đến máng
rót nước . Máng rót nước tự động nhiều vòi có đònh lượng rót đồng thời cho tất cả các khuôn
- 5 -
ĐỒ ÁN QTTB GVHD: TRẦN VĂN NGHỆ
SVTH :TRẦN ĐÌNH HIỂN
đá lượng nước đã đònh trước . Sau khi rót nước xong linh đá được đặt vào đầu bể vò trí mà cơ
cấu xích vừa đẩy toàn bộ các linh đá dòch ra .
Máy lạnh phục vụ cho bể nước muối thường là máy lạnh amoniac một cấp , thiết bò
ngưng tụ là bình ngưng ống chùm , dàn ngưng tụ bay hơi hay dàn tưới .Nước muối được sử
dụng thường là NaCl hoặc CaCl
2
, đôi khi là MgCl
2
.
2.3.2. Sản xuất nước đá trong suốt:
Ngoài tiêu chuẩn về nước, muốn sản xuất nước đá trong suốt cần phải khuấy để cặn
bẩn và bọt khí bám trên bề mặt hình thành đá tách ra. Có 3 phương pháp khuấy bề mặt kết
đông đá để sản xuất đá trong suốt.
Phương pháp áp thấp là sử dụng khí nén ở áp suất 0,2 đến 0,25 bar áp suất dư, thổi
vào giữa khuôn và khi đá đông gần đến giữa khuôn phải rút ống phun khí ra. Khi đầu ống bò
đống băng phải dùng nước nóng hoặc hơi phun vào để nhổ ống ra.
Phương pháp áp cao là sử dụng khí nén ở áp suất cao từ 1,5 đến 2 bar áp suất dư. Sử
dụng phương pháp này người ta khắc phục được nhược điểm là phải rút ống phun ra kòp thời
của phương pháp áp thấp. Tuy nhiên do phải thổi khí vào từ đáy khuôn lên nên ở đây lại
xuất hiện nhược điểm là mũi phun nằm trong nước muối rất dể tắc do nước ẩm trong khí nén
.3.. Phương pháp Fechner và Grasso:
Fechner: Các khuôn đá hình trụ được cố đònh trong bể nước được làm lạnh trực tiếp
bằng môi chất lạnh. Đá được kết đông trên bề mặt khuôn hình trục. Phía dưới khuôn bố trí
các vòi phun không khí để sản xuất đá trong suốt. Khi khối đá đủ dày người ta ngưng cấp
lỏng cho khuôn và chuyển sang chế độ làm tan giá, cây đá tự nổi lên phía trên như “tên
lửa”.
Grasso: Thay bằng các khuôn hình trụ hai vỏ ở trên, Grasso chỉ làm các ống hai vỏ ở
đáy bể nước. Các ống này tập trung lại thành từng nhóm, nước đá sẽ đóng băng trên bề mặt
ống. Khi các khối băng đông kết lại với nhau thành cây đá thì quá trình kết đông kết thúc
chuyển qua quá trình làm tan giá bằng hơi nóng. Cây đá sẽ nổi lên trên. Do không có khuôn
bên ngoài nên cây đá không có hình dáng cố đònh và cũng không bằng.
****Tiêu chuẩn nước để sản xuất nước đá tinh khiết:
A. Nước đá tinh khiết phải đảm bảo các yêu cầu sau:
Tạp chất Hàm lượng tối đa
Số lượng vi khuẩn trong nước 100 con/ml
Vi khuẩn đường ruột 3 com/l
Chất khô cho phép 1 g/l
Độ cứng chung của nước 7 mg/l
Độ đục theo các hạt lơ lửng 1,5 mg/l
Sắt 0,3 mg/l
pH 7
Muối cứng tạm thời 70 mg/l
Hàm lượng muối chung 250 mg/l
Sunfat + 0,75 Clorua + 1,25
Natriclorua
170 mg/l
Tính oxi hóa O
2
3 mg/l
2
tạo thành cặn và dể dàng bò tách ra.
Có thể lọc nước dể dàng bằng cát thạch anh hay bằng nhôm sunfat. Phương pháp
này không những đảm bảo làm mềm nước tích tụ các chất hữu cơ và vôi mà còn chuyển hóa
bicasbonat thành sunfat, kết quả là giảm được tính dòn và do đó có thể hạ được nhiệt độ
đóng băng. Như vậy cần giữ độ pH trong nước ở mức 7 để giảm tính dòn của nước đá.
C. Các loại thiết bò làm đá :
.1. Máy làm đá mảnh của Short và Raver:
Máy gồm hai hình trụ hai võ đứng, môi chất lạnh sôi ở trong, bên ngoài cách nhiệt,
bên trên có bố trí bể nước và có vòi cho nước chảy đều lên bề mặt trong của hình trụ. Gặp
lạnh nước đóng băng lại và được hai lưỡi bào có răng cưa nạo ra khỏi bề mặt hình trụ khi
hai lưỡi bào này quay. Đá mãnh được thu ở phía dưới còn nước thừa được bơm trở lại bể
trên cao. Hiện nay phương pháp này được sử dụng rộng rãi vì chúng rất kinh tế. Máy hiện
đại được cải tiến chút ít ví dụ trục quay ở giữa chỉ mang một dao cắt còn phía đối diện là vòi
phun nước. Nước phun đóng băng quay khi gặp bề mặt lạnh và được dao nạo ra. Do nước đá
có nhiệt độ rất thấp nên nó bóc ra khỏi tang trống rất dể dàng, chúng rất dòn và có khả
năng bảo quản lâu.
.2. Máy làm đá tuyết Pak-Ice của Taylor:
Máy bao gồm một tang trống, hai đầu có hai nắp và phía ngoài có môi chất lạnh sôi,
bên trong có hai lưỡi dao nạo quay với tốc độ 250 v/ph để nạo đá hình thành trên tang trống.
Để tăng bề mặt trao đổi nhiệt phía nước người ta tạo các đường dích dắc. Nước sẽ được cấp
vào một nắp và hỗn hợp nước và đá vụn ra phía nắp kia. Để nạo được toàn bộ đá hình thành
trên bề mặt trong của tang trống, tất nhiên hai lưỡi dao nạo cũng phải có hình dích dắc
tương ứng với bề mặt trong của tang trống. Hỗn hợp nước và đá vụn được đưa qua một lưới
lọc để lọc lấy đá còn nước lại được đưa trở lại máy. Nước cấp cho máy phải có nhiệt độ gần
0
0
C nên phải được làm lạnh sơ bộ trước. Loại đá tuyết này thường chỉ sử dụng để làm lạnh
trực tiếp chất lỏng. Để bảo quản, vận chuyển và sử dụng dể dàng hơn, Taylor đã phát minh
thêm một loại máy ép viên đá tuyết thành các cục đá dạng quả bàng loại 230 (g) và 450 (g).
thúc quá trình làm đá để chuyển sang quá trình tan giá.
Ở quá trình tan giá, người ta dùng bơm nước, đóng van cấp lỏng và đường hút sau đó
mở van hơi nóng 10 cho hơi nóng tràn vào, đẩy lỏng vào bình chứa thu hồi 6 và làm tan lớp
băng của các ống đá. Các ống đá rơi xuống và được dao cắt ra theo độ dài yêu cầu. Sau đó
quá trình làm đá lại bắt đầu. Lỏng từ bình 6 được đưa về dàn ống, van cấp lỏng và van hút
mở, bơm nước hoạt động trở lại.
Thời gian làm đá tùy theo độ dày đá, nhiệt độ bay hơi, còn thời gian tan đá khoảng 2
phút và độ dày tổn thất khi tan giá là 0,5mm.
Để giảm tổn thất khi tan giá các ống khuôn giá phải có kích thước đồng đều, nhẳn,
thẳng ở phía trong ống.
Để phân phối nước đều trong các ống phía bên đầu ống ta bố trí các nút đậy có các
ren xung quanh .
Để đá không bò gãy vụn khi cắt ra từng thỏi, ta dùng dao cắt gồm hai hình bán
nguyệt và quay tròn theo hướng vuông góc vói trục của máy làm đá .
Vì làm lạnh trực tiếp nên cần lượng môi chất nhiều nên sử dụng NH
3
vì nó rẻ, để
tìm.
- 9 -
ĐỒ ÁN QTTB GVHD: TRẦN VĂN NGHỆ
SVTH :TRẦN ĐÌNH HIỂN
2.7. Ưu nhược điểm của máy làm đá dạng viên:
Ưu: Thiết bò nhỏ gọn, thời gian làm đá nhanh. Do làm lạnh trực tiếp nên ít bò tổn thất
lạnh, thiết bò ít bò hao mòn. Sản phẩm làm ra sạch, dể sử dụng trong sinh hoạt nên rất được
ưa chuộng. Thiết bò tự động hóa tuần hoàn nên không sử dụng công nhân nhiều.
Nhược: Thiết bò đắt tiền, sản phẩm làm ra giá thành cao nên khó tiêu thụ. Sản phẩm
làm ra phải sử dụng ngay, không bảo quản lâu được vì chúng dể bò kết nối vào bò hao tốn
nhiều.
Các ống làm đá phải đầy, đảm bảo không bò gò rỉ để môi chất tràn vào gây nguy
hiểm.
nước, không bò mối mọt phá hoại, nhưng dễ cháy được chọn làm vật liệu cách nhiệt cho
vách, trần của kho và cách nhiệt cho kho chứa đá.Polyurethan được sử dụng bằng cách phun
trực tiếp vào khoang của máy làm đá.Ưu điểm nổi bật của nó là co thể phun vao bất kỳ thể
tích rổng bấùt kỳ nào, tạo bọt mà không cần gia nhiệt.,cứng,chòu lực tốt.
3.2.2. Vật liệu cách ẩm:
Hiện nay thông dụng nhất đối với vật liệu cách ẩm là bitum. Bitum còn gọi là nhựa
đường (hắc ín) là loại vật cách ẩm khá tốt, tiện dùng. Bitum được dùng dưới dạng nóng chảy
hay pha với các dung môi như cồn, xăng rồi quét lên bề mặt cách ẩm. Hệ số thấm ẩm của
nó rất bé µ = 0,00015 g/m
2
n.mmHg.
Giấy cách ẩm: Giấy này được sản xuất từ cactong sấy khô tới 3 ÷ 4%. Sau đó nhúng
tẩm 1 hay 2 lần trong bitum nóng chảy. Ưu điểm của nó là độ bền cơ học cao, không bò lão
hóa như bitum. Hệ số thấm hơi µ = 0,00018.
3.3. Tính toán cách nhiệt, cách ẩm cho máy làm đá:
- 11 -
ĐỒ ÁN QTTB GVHD: TRẦN VĂN NGHỆ
SVTH :TRẦN ĐÌNH HIỂN
Máy làm đá chỉ cách nhiệt, cách ẩm thành bao quanh. Chọn máy làm đá có hình trụ
tròn và có cấu tạo thành bao quanh như sau:
Các thông số tra ở tài liệu [4] :
TT Vật liệu
i
δ
( m )
i
λ
Kcal/h.m.k
∑
=
u
1i
2i
i
1
cncn
11
K
1
K: Hệ số truyền nhiệt K, W/m
2
k.
1
α
: Hệ số tỏa nhiệt của vách bên ngoài
2
α
: Hệ số tỏa nhiệt của vách bên trong thiết bò bốc hơi .
i
δ
: Chiều dày lớp vật liệu thứ i cách nhiệt m.
λ
i
: Hệ số dẫn nhiệt của lớp thứ i; W/m.K
λ
cn
: Hệ số dẫn nhiệt của lớp cách nhiệt W/m.K.
δ
: Hệ số dẫn nhiệt của NH
3
,
)/(541.0 mKw
=
λ
- 12 -
thép
Bitum
Polyurethan rót ngập Thép không ró
ĐỒ ÁN QTTB GVHD: TRẦN VĂN NGHỆ
SVTH :TRẦN ĐÌNH HIỂN
:
ρ
Khối lượng riêng của NH
3
lỏng ,
)/(5.658
3
mKg
=
ρ
,
ρ
: Khối lượng riêng của NH
3
hơi ,
)/(966.1
3,
: Độ nhớt NH
3
lỏng ,
3
10.254.0
−
=
µ
pas
q : Nhiệt tải riêng .
q = k*0.078*r*
,
ρ
*(
1.1
,
)
ρ
ρ
o
q = 0.3*0.078*1314*10
3
*1.966*(
1.1
)
966.1
823.0
= 0.023 w/m
2
kmw ./7172
+
λ
δ
+
α
−λ=δ
∑
=
u
1i
2i
i
1
cncn
11
K
1
m
cn
200.0)]
6177
1
39
2*002.0
18.0
2*001.0.
3.23
1
(
2*
18.0
001.0
3.23
1
1
=
++++
=
)m(198,0=
Kiểm tra tính động sương trên bề mặt ngoài của đá:
Điều kiện vách ngoài không đông sương:
K<= K
S
K
S
= 0.95*ά
ng
trng
sng
tt
tt
−
−
t
s
:nhiệt đô động sương
nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất ở tp HCM là t=37.5 C
Độ ẩm φ =74%
7. Nhựa nẹp.
Bảng số liệu
Vật liệu δ
i
λ
i
R
i
Vữa
gạch
Vữa
Giấy dầu
Nhựa nẹp
Styropore
0,01
0,1
0,02
0,003
0,02
0,9
0.82
0,9
0.015
0.037
0.011
0.12
0.011
0.033
Chiều dày tấm cách nhiệt:
1
- 14 -
ĐỒ ÁN QTTB GVHD: TRẦN VĂN NGHỆ
SVTH :TRẦN ĐÌNH HIỂN
Chọn:
K = 0,26 (vì nhiệt độ ghi ở 5
0
C)
1
α
= 23,3
2
α
= 8w/m
2
k (dàn lạnh của kho đối lưu tự nhiên)
⇒
++++−=
+∑+
i
i
8
1
15,0
005,0
82.0
1,0
037,0
13,0
3,23
1
1
++++
=
K
K
t
= 0,258w/m
2
k
Kiểm tra tính động sương trên bề mặt ngoài của tường:
Điều kiện vách ngoài không đông sương:
K<= K
S
K
S
= 0.95*ά
- 15 -
ĐỒ ÁN QTTB GVHD: TRẦN VĂN NGHỆ
SVTH :TRẦN ĐÌNH HIỂN
* Tường:
HÌNH
`
1. Vữa
2. Gạch
3. Vữa
2. Giấy dầu.
3. Lớp cách nhiệt
4. Vữa và lưới mắc cảo.
Bảng số liệu
Vật liệu δ
i
λ
i
R
i
Vữa
Gạch
Giấy dầu
Styropore
0,02
0,1
0,003
0,9
0,82
0,18
0,047
11
K
1
Chọn:
K = 0,8 W/m
2
.K (Chọn ở nhiệt độ 5
0
C)
1
α
= 23,3 W/m
2
.K
2
α
= 8 W/m
2
.K (đối lưu tự nhiên)
⇒
α+
λ
δ
+
α
=
∑
=
8
1
047,0
15,0
82,0
1,0
18,0
2.003,0
9,0
3.02,0
3,23
1
1
+++++
=
= 0,282 (W/m
2
.K)
- 16 -
ĐỒ ÁN QTTB GVHD: TRẦN VĂN NGHỆ
SVTH :TRẦN ĐÌNH HIỂN
* Nền: