Website: Email : Tel : 0918.775.368
ĐỀ TÀI: PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI HỆ PHỔ BIẾN VÀ VẬN DỤNG
PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ ĐỘC
LẬP TỰ CHỦ VỚI HỘI NHẬP KINH TẾ
Chương I: Hội nhập kinh tế một xu hướng tất yếu của nước ta trên con
đường tiến lên CNXH
1. Xu hướng hội nhập thế giới xu hướng của thời đại:
Như chúng ta đã biết, cách đây hàng nghìn năm đã có sự trao đổi hàng hoá
trong từng quốc gia và giữa các quốc gia với nhau. Tuy nhiên, suốt thời gian
dài dưới thời kì chiếm hữu nô lệ và thời kì phong kiến quan hệ trao đổi hàng
hoá phát triển không đáng kể. Về mặt cơ bản, nền kinh tế của từng quốc gia
vẫn mang tính tự cung tự cấp. Với sự xuất hiện của chủ nghĩa tư bản, quan hệ
trao đổi hàng hoá đã có sự thay đổi về chất. Trong từng quốc gia, nền kinh tế
với một thị trường thống nhất được hình thành, các loại hàng hoá và số lượng
hàng hoá trao đổi được tăng lên rất nhiều, đặc biệt sức lao động cũng trở thành
hàng hoá. Chủng loại hàng hoá và số lượng hàng trao đổi giữa các quốc gia
cũng tăng lên nhanh chóng. Chủ nghĩa tư bản ngày càng phát triển thì lượng
hàng hoá trao đổi giữa các quốc gia càng lớn, chính vì vậy sự phụ thuộc về
mặt kinh tế giữa các quốc gia càng chặt chẽ hơn.
Vào những năm 80 của thế kỉ XX, khoa học kĩ thuật phát triển như vũ bão,
con người đang dùng khối óc vĩ đại mà tự nhiên ban cho để khám phá và
chinh phục thế giới. Chính nhờ sự phát triển như vậy của khoa học kĩ thuật mà
sự giao lưu giữa các nước, các cá nhân, các nhà kinh doanh với nhau trở nên
dễ dàng. Các nước có thể học tập, trao đổi với nhau tạo nên sự đan xen đa
chiều, vừa ảnh hưởng, vừa tuỳ thuộc vào nhau. Dần dần, trên thế giới hình
thành một xu thế đó là: xu thế “Toàn Cầu Hoá”. Hiện nay, xu thế này đang
ngày càng lan rộng thu hút hầu hết các nước trên thế giới tham gia.
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Việt Nam cũng là một thành viên trong ngôi nhà chung của thế giới nên
cũng không thể đứng ngoài vòng xoáy trên. Từ lâu nay, Đảng và Nhà Nước ta
sự phát triển của nhân loại trước đó quy định. Triết học Mac- LêNin ra đời
dựa trên 3 cơ sở cơ bản sau:
(a) Cơ sở về kinh tế và xã hội: Vào những năm đầu của thế kỉ XIX các
cuộc cách mạng công nghiệp đã đem lại cho các nước TBCN sự phát triển
mạnh mẽ. Để nhận xét về điều này C.Mac đã nói: “ Giai cấp tư sản trong quá
trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỉ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất
nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước cộng
lại”. Sự phát triển ấy đã chứng minh tính chất tiến bộ của phương thức sản
xuất TBCN hơn hẳn các chế độ khác trước đó. Tuy nhiên, sự phát triển đó
ngày càng làm hằn sâu thêm sự mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô
sản. Giai cấp vô sản ngày càng lớn mạnh và đứng lên đấu tranh giành quyền
lợi. Chính vì vậy họ cần một thứ vũ khí lý luận sắc bén và triết học Mac-
LêNin ra đời đã thoả mãn được yêu cầu đó.
(b) Cơ sở lý luận: Triết học Mac- LêNin dựa trên phép biện chứng của
Hêghen và quan điểm duy vật triệt để của Phoi-ơ-băc. Hai ông C.Mac và
Ph.Ăngghen đã dựa và đó sáng lập ra phép biệnchứng duy vật. Các ông đã kế
thừa và phát huy những mặt tích cực của Hêghen và Phoi-ơ -băc. Đồng thời,
hai ông cũng dần dần bù đắp những thiếu sót.
(c) Cơ sở khoa học tự nhiên: Do sự phát triển mạnh của KH-TN đã đánh
đổ phương pháp tư duy đang thống trị lúc bấy giờ là: phương pháp siêu hình.
Điều đó mở đường cho sự ra đời và phát triển của phép biệ chứng duy vật.
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trong số các phát minh thì có 3 phát minh ảnh hưởng nhiều nhất tới sự ra đời
của triết học Mac:
+ Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng.
+ Học thuyết về cấu tạo tế bào.
+ Học thuyết về sự tiến hoá.
2. Phép biện chứng duy vật là khoa học về mối liên hệ phổ biến
2.1 Liên hệ – Liên hệ phổ biến:
động, phảttiển của sự vật. Mối kiên hệ bên ngoài, nói chung, không có ý nghĩa
quyết định và thường phải thông qua mối liên hệ bên trong mà phát huy tác
dụng.Như vậy, quan điểm duy vật biện chứng về sự liên hệ đòi hỏi phải thừa
nhận tính tương đối trong sự phân loại các mối liên hệ. Các mối liên hệ khác
nhau có thể chuyển hoá lẫn nhau. Trong tính đa dạng của hình thức và các loại
liên hệ tồn tại trong tự nhiên, trong xã hội và tư duy con người, phép biện
chứng duy vật tập trung nghiên cứu những loại liên hệ chung mang tính phổ
biến.
2.3 Yêu cầu của nguyên lý phổ biến:
2.3.1 Quan điểm toàn diện: Với tư cách là một nguyên tắc
phương pháp luận trong việc nhận thức các sự vật hiện tượng, quan điểm toàn
diện đòi hỏi chúng ta phải xem xét nó:
+ Trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố,
các thuộc tính khác nhau của chính sự vật đó.
+ Trong mối liên hệ qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác (kể
cả trực tiếp và gián tiếp).
Hơn thế nữa, quan điểm toàn diện còn đòi hỏi để nhận thức được
sự vật hiện tượng chúng ta cần xem xét nó trong mối liên hệ với nhu cầu thực
tiễn của con người. Quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
không chỉ ở chỗ nó chú ý tới nhiều mặt, nhiều mối kiên hệ. Việc chú ý tới
nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật vẫn có thể là phiến diện, nếu chúng ta
đánh giá ngang nhau những thuộc tính, những tính quy định khác nhau của sự
vật được thẻ hiện trong những mối liên hệ khác nhau đó. Quan điểm toàn diện
chân thực đòi hỏi chúng ta phải đi từ tri thức về nhiều mặt, nhiều mối liên hệ
của sự vật đến chỗ khái quát đẻ rút ra cái bản chất chi phối sự tồn tại và phát
triển của sự vật hay hiện tượng đó. Quan điểm toàn diện khác với chủ nghĩa
chiết trung và thuật nguỵ biện. Chủ nghĩa chiết trung tuy cũng tỏ ra chú ý tới
nhiều mặt khác nhau thế nhưng lại kết hợp vô nguyên tắc các mối liên hệ khác
mối quan hệ, trong đó quan hệ về kinh tế là chủ yếu. Có một số nhà nghiên
cứu cho rằng “ toàn cầu hoá” đã có từ rất lâu và trước đây chính là quá trình
quốc tế hoá. Vậy trong tình hình hiện nay “Toàn cầu hoá” là những mối quan
hệ kinh tế vượt qua biên giới quốc gia, với quy mô toàn thế giới, đạt trình độ
và chất lượng cao hơn các quá trình quốc tế hoá trước kia. Toàn cầu hoá kinh
tế có một số đặc điểm sau khác với các quá trình quốc tế hoá trước kia:
a) Sau khi Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ thì Mỹ là một siêu
cường lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay, Mỹ đang có
chiều hướng chững lại và các nước phát triển khác đang vươn lên, điều đó tạo
nên một thế giới có nên kinh tế không còn một cực như trước kia mà là đa
cực.
b) Kinh tế thị trường nhiều kiểu, nhiều mức độ khác nhau đang lan tràn
khắp thế giới, kéo theo nó là sự tăng cường tự do hoá kinh tế và xu hướng vừa
hợp tác vừa cạnh tranh.
c) Cách mạng khoa học kĩ thuật làm cho con người có khả năng thực
hiện rất nhiều việc mà trước đây không thể. Chính điều này đã thúc đẩy sự
toàn cầu hoá một cách nhanh chóng.
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
d) Các mối quan hệ của toàn cầu hoá ngày càng toàn diện chứ không
phải chỉ dừng lại ở thương mại xuất – nhập khẩu.
e) Toàn cầu hoá được thúc đẩy bởi một số nhân tố sau:
+ Đó là các công ty cực lớn, vừa, nhỏ tới từng cá thể tích cực
tham gia vào quá trình toàn cầu hoá. Trong hàng triệu, hàng nghìn công ty
trên, có vai trò lớn nhất nằm trong tay khoảng chừng 50.000 công ty xuyên
quốc gia
+ Đó là do sự thúc đẩy tích cực của các chính phủ.
+ Đó là do sự tác động của các tổ chức phi chính phủ, họ đang
thành lập ngày càng đông đảo, đa dạng và hoạt động ngày càng có hiệu quả
trong quá trình toàn cầu hoá.
-Toàn cầu hoá phân phối thành quả rất bất công. Người giàu,
nước giàu ngày càng được nhiều lợi, nước nghèo, người nghèo bị thiệt. Dần
dần một mảng lớn dân cư trên thế giới bị loại khỏi quá trình toàn cầu hoá.
-Toàn cầu hoá hiện nay, không hài hoà, không đồng bộ, các lĩnh
vực so le, chênh lệch nhiều, cả về chiều sâu lẫn chiều rộng. Đặc biệt là: thứ
nhất, toàn cầu hoá kinh tế không đi đôi với sự quan tâm đúng mức về xã hội
và con người. Điều này khiến cho phần thua thiệt về xã hội và con người rất
nặng nề. Thứ hai, toàn cầu hoá không đi đôi với một cơ cấu và cơ chế quản lý
toàn cầu tương xứng. Điều này dẫn đến toàn bộ thế giới như một con tàu
không người lái.
+ Toàn cầu hoá hiện nay bỏ qua các vấn đề khác, nó chỉ chú trọng tới
thị trường, xem nhẹ nhà nước và nhất là xã hội.
3. Toàn cầu hoá những cơ hội và thách thức
(a) Những cơ hội:
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Thứ nhất, sự phát triển của toàn cầu hoá kinh tế phá bỏ những cản
trở, những hàng rào ngăn cách giữa các quốc gia. Nó mở ra những điều kiện
thuận lợi cho sự phát triển về quan hệ kinh tế thế giới. Từ đó, các quốc gia có
thế lợi dụng để mở rộng thị trường ra bên ngoài quốc gia mình.
+ Thứ hai, toàn cầu hoá phát triển giúp các nước chậm phát triển
sớm tham gia vào hệ thống phân công lao động quốc tế. Điều này, giúp các
nước chậm phát triển hình thành một cơ cấu kinh tế – xã hội hiệu quả, đẩy
nhanh, rút ngắn tiến trình hiện đại hoá nền kinh tế.
+ Thứ ba, toàn cầu hoá phát triển tạo điều kiện cho các nước tiếp cận
với những nguồn vốn và công nghệ kĩ thuật cao cũng như học tập công nghệ
quản lý.
+ Thứ tư, toàn cầu hoá phát triển làm cho các nước liên hiệp với
nhau thành những khu vực tự do thương mại. Điều này giúp dỡ bỏ hàng rào
thuế quan đối với các nước thành viên, dẫn đến hàng hoá có thể nhanh chóng
phát triển nội lực là chính thì các nước rất dễ bị phụ thuộc và mất quyền tự
chủ.
+ Thứ tư, toàn cầu hoá cho phép vận dụng nguồn vốn bên ngoài
nhằm rút ngắn quá trình phát triển. Tuy nhiên trong đó cũng ẩn chứa nhiều
nguy hiểm không vững chắc.
+ Thứ năm, toàn cầu hoá còn đặt ra nhưng hậu quả phi kinh tế. Đó là
vấn đề lan toả các dịch bệnh, đặc biệt là HIV/AIDS. Ngoài ra, các luồng văn
hoá ngoại lai tác động không nhỏ tới thuần phong mỹ tục làm bại hoại đạo đức
con người. Chính vì vậy, xu hướng toàn cầu hoá đã nổi lên xu hướng dân tộc,
bảo vệ bản sắc dân tộc.
Chương IV: Xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ vững mạnh
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1. Nền kinh tế như thế nào được gọi là một nền kinh tế độc lập tự
chủ:
Thực ra, khái niệm nền kinh tế độc lập tự chủ đã không ít lần được nhắc
tới. Tuy nhiên, quan niệm về nền kinh tế độc lập tự chủ trước đây và hiện nay
có những nét khác nhau. Vậy thế nào là nền kinh tế độc lập tự chủ?:
+ Nền kinh tế độc lập tự chủ là nền kinh tế không bị lệ thuộc, phụ thuộc
vào nước khác, hoặc một tổ chức kinh tế nào đó về đường lối, chính sách phát
triển, không bị bất cứ ai dùng những điều kiện kinh tế, tài chính, thương mại,
viện trợ... để áp đặt, khống chế, làm tổn hại chủ quyền quốc gia và lợi ích cơ
bản của dân tộc.
+ Nền kinh tế độc lập tự chủ là nền kinh tế trước những biến động của
thị trường, trước sự khủng hoảng kinh tế tài chính ở bên ngoài, nó vẫn có khả
năng cơ bản duy trì sự ổn định và phát triển; trước sự bao vây, cô lập và chống
phá của các thế lực thù địch, nó vẫn có khả năng đứng vững, không bị sụp đổ,
không bị rối loạn.
+ Tuy nhiên, trong thời đại hiện nay, nói tới độc lập tự chủ về kinh tế
không ai hiểu đó là nền kinh tế khép kín, tự cung tự cấp, mà đặt trong mối liên