Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
I.Đánh giá ngành Thuỷ sản.
1.Tổng quan về ngành TS.
Với bờ biển trải dài trên 3260 km và vùng biển rộng trên 1 triệu km2 có 4000 hòn
đảo lớn nhỏ với nhiều vịnh, vũng; khoảng 2860 con sông, ngòi và có nhiều hồ tự nhiên lại
nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nên rất thuận lợi cho việc phát triển thuỷ sản cả trên hai
lĩnh vực đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản. Không phải bất cứ quốc gia nào cũng có được điều
kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển thuỷ sản như Việt Nam. Trung bình cứ 100 km2 diện
tích đất liền lại có 1km chiều dài bờ biển, đây là tỉ lệ rất cao trong số các quốc gia và vùng
lãnh thổ có bờ biển.
Trứơc đây sản lượng ngành thuỷ sản chủ yếu dụa vào khai thác thuỷ hải sản nhưng
trong nhưng năm gần đây thì sản lượng nuôi trồng đang vươn lên ngang tầm đảm bảo
nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu.
Từ đầu những năm 1980, ngành thuỷ sản đã đi đầu trong cả nước về mở rộng quan hệ
thương mại sang những khu vực thị trường mới trên thế giới. Năm 1996, ngành thuỷ sản
mới chỉ có quan hệ thương mại với 30 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Đến năm 2001,
quan hệ này đã được mở rộng ra 60 nước và vùng lãnh thổ, năm 2003 là 75 nước và vùng
lãnh thổ, đến năm 2007 là 130 quốc gia.
Trong những năm gần đây, thuỷ sản đã đóng một vai trò quan trọng và trở thành
ngành kinh tế mũi nhọn chiếm 8,6% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước với tốc độ tăng
trưởng cao, bình quân 18,4%/ năm, là một trong 4 ngành hàng có gía trị xuất khẩu hơn 3 tỷ
USD và được Chính phủ khuyến khích đầu tư phát triển. Hiện nay Việt Nam đứng thứ 7 trên
thế giới về xuất khẩu thuỷ sản và là một trong các cường quốc về thuỷ sản của thế giới
2.Thực trạng ngành TS.
Năm 2007, sản lượng thủy sản cả nước ước đạt 3,9 triệu tấn trong đó khai thác đạt
1,95 triệu tấn, nuôi trồng 1,95 triệu tấn, với kim ngạch xuất khẩu 3,75 tỷ USD, tăng 12% so
với năm 2006 ,Việt Nam trở thành một trong 10 nước có giá trị xuất khẩu thuỷ sản hàng đầu
thế giới. Việt Nam phấn đấu đạt kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản đạt mức 4,5 tỷ USD vào năm
2008.
. Hàng thủy sản Việt Nam đã có mặt tại 130 quốc gia và vùng lãnh thổ. Sản phẩm xuất
khẩu ngày càng đa dạng hơn về chủng loại, cơ cấu; ngoài sản phẩm đông lạnh còn có rất
một trong những cường quốc về thủy sản. Việc gia nhập WTO sẽ có nhiều thuận lợi cho các
doanh nghiệp thủy sản, vì qua đàm phán đã dỡ bỏ bớt những chính sách bảo hộ sản xuất
nông nghiệp nội địa của các thị trường lớn và có thể tham gia đấu tranh, chống lại những vụ
kiện bất công.
Từ thị trường truyền thống Nhật Bản mở sang thị trường châu Âu rồi sau khi ký hiệp
định song phương với Mỹ, Việt Nam đã tạo ra 3 thị trường chân kiềng lớn nhất. Chính vì
vậy, các doanh nghiệp thủy sản đã quen với luật chơi của các nước này cũng như những luật
chơi mang tính chung của WTO. Qua đó thủy sản Việt Nam cũng thích nghi được với những
luật chơi này.
2
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Thị trường EU là một ví dụ, Việt Nam có tới 170 doanh nghiệp đủ tiêu chuẩn xuất
khẩu thủy sản và khả năng còn lên tới trên 200 doanh nghiệp. Trước kia, khi còn ở “danh
sách hai”, Việt Nam chỉ xuất khẩu vào được từng nước nay đã lọt được vào “danh sách một”
thì việc này dễ dàng hơn nhiều.
Những gì mà EU đã chấp nhận được ở thủy sản Việt Nam thì đương nhiên WTO cũng
chấp nhận, đặc biệt là về 3 hàng rào: quy chế về an toàn vệ sinh chất lượng thủy sản, các
mức giới hạn cho phép cũng như quy trình thực hiện, cơ quan kiểm duyệt về chất lượng thủy
sản Việt Nam (NAFIQAVED) và điều kiện sản xuất của các doanh nghiệp Việt Nam.
3.2.Tốc độ phát triển Xuất khẩu thủy sản rất lớn
Theo quyết định số 10/2006/QĐ-Ttg ngày 11 tháng 01 của Thủ tướng chính phủ về
việc Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển của ngành Thủy sản đến năm 2010 và định
hướng năm 2020, mục tiêu cụ thể đến 2010 là: Sản lượng tăng với tốc độ bình quân
3,8%/năm; Giá trị kim ngạch XK thủy sản tăng với tốc độ bình quân 10,63%/năm; Tổng sản
lượng thủy sản đến 2010 đạt 3,5- 4,0 triệu tấn/năm; Giá trị kim ngạch xuất khẩu 2010 đạt
4tỷ USD; Lao động nghề cá bình quân tăng 3%/năm.
Với mục tiêu nêu trên, có thể thấy tốc độ phát triển trong hoạt động Xuất khẩu thủy
sản là rất lớn, hứa hẹn nhiều cơ hội cho các Doanh nghiệp chế biến thủy sản phát triển. Tính
đến thời điểm này, mục tiêu trên có vẻ như đã gần đạt được và còn có nhiều khả năng sẽ
tăng mạnh trong giai đoạn sắp tới.
đảm bảo chất lượng sản phẩm ngày càng tốt hơn và luôn thực hiện đúng tiến độ giao hàng
như đã thỏa thuận
4. Đánh giá và kết luận về ngành TS.
• Ưu điểm:
- Đây là ngành được xếp vào mũi nhọn xuất khẩu của Việt nam,và là một trong
những ngành kinh tế quan trọng nhất của Việt nam hiện nay. Được chính phủ,Nhà nước
quan tâm định hướng phát triển.
- Cơ chế tỷ giá ổn định nhằm hỗ trọ cho xuất khẩu là lợi thế lớn cho ngành thuỷ
sản vì Doanh thu chính của ngành là từ xuất khẩu thuỷ sản.
- Thị trường còn rất rộng,tiềm năng của ngành vẫn chưa được khai thác hết. Nếu
ngành thuỷ sản Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản đẩy mạnh hơn
nữa khâu marketing thì cơ hội tiếp cận những thị trường mới hoặc khẳng định vị thế trên thị
trường cũ là nằm trong tầm tay.
- Điều kiện tự nhiên rất thuận lợi với hệ thống sông,ao hồ và đặc biệt là diện tích
biển .
• Nhược điểm:
- Đối với ngành thuỷ sản , đảm bảo số lượng cũng như chất lượng nguyên vật
liệu đầu vào là yếu tố sống còn.Tuy nhiên:chất lượng đầu vào của nguyên vật liệu là chưa
đồng đều,vẫn có những lô hang bị trả lại.Nguồn cung cũng chưa thật ổn định do yếu tố chủ
quan của các hộ nuôi cũng như điều kiện khách quan mưa bão,lũ lụt của Việt nam.
4
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
- Cũng giống như các ngành xuất khẩu khác,thị trường xuất khẩu phụ thuộc rất
nhiều vào nước bạn (yếu tố kinh tế,yếu tố thị hiếu tiêu dung,yếu tố tỷ giá..)nên doanh thu lợi
nhuận cũng tỏ ra bấp bênh.
- Hiện nay các công ty chủ yếu gia tăng sản lượng xuất khẩu chứ chưa chú ý
thích đáng cho việc đa dạng hoá các sản phẩm chế biến từ thuỷ sản.
- Một số công ty chưa chú ý đến việc maketting,xây dựng thương hiệu trên
trường quốc tế do vậy rất dễ bị mất thị phần,và khó mở rộng thị trường.
- Mua bán hóa chất, dụng cụ dùng trong sản xuất và chế biến thủy sản;
- Nuôi trồng thủy sản;
- Mua bán nông sản (nếp, gạo, hạt điều...);
- Mua bán thực phẩm (đậu nành, đậu bắp, rau quả,... đông lạnh);
- Sản xuất bao bì;
- Mua bán các loại nguyên vật tư trong ngành bao bì;
- Chế biến thức ăn thủy sản;
- Mua bán nguyên liệu, vật tư phục vụ chăn nuôi thủy sản (cám bã đậu nành, bột
cá, bột xương thịt, vitamin);
- Đầu tư cơ sở hạ tầng khu công nghiệp, khu du lịch, khách sạn, cao ốc văn
phòng;
- Chế biến thức ăn gia súc.
2.Phân tích và đánh giá lĩnh vực hoạt động của Công ty.
2.1.Sản phẩm,dịch vụ của công ty.
Hoạt động sản xuất, kinh doanh của Công ty Cổ phần Xuất Nhập Khẩu Thủy Sản
Cửu Long An Giang tập trung chủ yếu vào sản xuất chế biến xuất khẩu các sản phẩm từ cá
tra như cá tra fillet các loại, cá tra nguyên con, cá tra lăn bột các loại cấp đông, cá tra cắt các
dạng lăn bột, các loại chiên chín cấp đông, cá các loại tẩm gia vị nấu chín tổng hợp, chả cá
các loại, xúc xích lạp xưởng cá các loại… Trong đó, doanh thu cá tra fillet các loại chiếm tới
90% doanh thu trung bình hằng năm của Công ty.
Riêng đối với các loại cá tra fillet, sản phẩm cũng rất đa dạng và được phân loại theo
nhiều tiêu chuẩn khác nhau (màu sắc, kích cỡ, trọng lượng...) tùy theo yêu cầu của khách
hàng và thị trường xuất khẩu.
Ngoài ra, trong quá trình chế biến, Công ty còn có một số phụ phẩm khác như: đầu cá,
mỡ cá, xương, da cá ... Tuy nhiên doanh thu từ các phụ phẩm này thường chiếm tỷ trọng
nhỏ khoảng 5% doanh thu trung bình hàng năm của Công ty.
6
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
2.2.Sản lượng tiêu thụ, doanh thu từng nhóm sản phẩm, dịch vụ qua các năm
Cá tra fillet trắng
Grade 2
9.196.149.375 10,18% 11.813.141.854 3,80% 7.333.719.830 2,98%
Cá tra fillet vàng
Grade 3
2.530.187.347 2,80% 1.731.792.244 0,56% 10.483.341.030 4,25%
Cá tra IQF hồng 35.214.193.272 38,97% 118.598.741.960 38,10% 86.493.975.601 35,10%
Cá tra fillet thịt đỏ 0 0,00% 26.442.434.753 8,49% 17.210.380.653 6,98%
Sản phẩm khác 274.272.504 0,30% 14.471.830.047 4,65% 2.096.488.010 0,85%
Phụ phẩm thu hồi 7.710.899.932 8,53% 12.534.575.595 4,03% 11.699.126.272 4,75%
Doanh thu khác 1.022.756.935 1,13% 22.313.200 0,01% 173.037.600 0,07%
Tổng doanh thu
90.371.125.221 100,00% 311.274.614.079 100,00% 246.432.223.744 100,00%
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Nguồn :Công ty CP XNK Thủy Sản Cửu Long An Giang
Biểu đồ doanh thu các nhóm sản phẩm Công ty qua các năm
2.3.Nguồn nguyên vật liệu.
a) Nguồn nguyên vật liệu:
Trong quá trình sản xuất ngoài sử dụng nguyên liệu chính là cá tra, Công ty còn sử
dụng các một số phụ liệu khác để đóng gói sản phẩm như: Thùng carton, bao bì PE, PA ...
− Cá nguyên liệu chủ yếu được Công ty thu mua từ các hộ gia đình nuôi cá tra thuộc
địa bàn các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long như An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cần
Thơ...
− Thùng carton, bao bì PE, PA... chủ yếu được nhập từ các công ty trong nước.
D ANH SÁCH MỘT SỐ NHÀ CUNG CẤP CÁ TRA CHO CÔNG TY:
STT NHÀ CUNG CẤP TỈNH
NGUYÊN LIỆU CUNG
CẤP
I NGUYÊN LIỆU
Tháp là hai tỉnh dẫn đầu về sản lượng cá tra nuôi, đạt gần 400 nghìn tấn.
Như vậy, việc nhà máy Công ty nằm trong vùng nguyên liệu cá tra là tỉnh An giang
nói riêng và vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói chung là một lợi thế rất lớn, do đó nguồn
cung ứng nguyên liệu cá tra của Công ty rất ổn định.
c) Ảnh hưởng của giá cả nguyên vật liệu đến doanh thu và lợi nhuận:
Trong những năm gần đây do kim ngạch xuất khẩu cá tra của Việt Nam tăng trưởng
tốt, vì vậy giá cá tra nguyên liệu thường xuyên biến động và có xu hướng tăng lên. Nếu như
năm 2005 giá cá tra nguyên liệu ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long chỉ vào khoảng 12.000-
14.000 đ/kg thì sang năm 2006 giá cá tra trung bình đã là 14.000-15.000 đồng/kg. Từ cuối
năm 2006 đến đầu năm 2007, giá cá tra tiếp tục tăng và duy trì ở mức cao 16.000-17.000
đồng/kg, nguyên nhân là do các nhà máy chế biến cần nguồn hàng để chế biến, giao hàng
cho đối tác nước ngoài đúng tiến độ hợp đồng. Đến nay, lượng cá thu hoạch nhiều hơn và ổn
định nên giá cá tra nguyên liêu đã giảm lại và dao dộng trong khoảng 13.000- 14.000
đồng/kg.
Do cá tra fillet thành phẩm có thể bảo quản trong thời gian dài mà không ảnh hưởng
nhiều đến chất lượng nên hoạt động sản xuất chế biến có thể tách biệt với hoạt động tiêu thụ
sản phẩm. Đồng thời, tùy từng thời điểm giá xuất khẩu của Công ty luôn được điều chỉnh
9
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
phù hợp theo biến động giá nguyên vật liệu đầu vào nên nhìn chung biến động giá cả thị
trường nguyên vật liệu đầu vào cũng ảnh hưởng đến lợi nhuận của Công ty song không đáng
kể.
2.4.Chi phí sản xuất:
Tỷ trọng các khoản mục chi phí của Công ty so với doanh thu thuần cung cấp hàng
hóa và dịch vụ:
Đơn vị tính: đồng
STT YẾU TỐ CHI PHÍ
Năm 2005 Năm 2006 6 tháng đầu năm 2007
GIÁ TRỊ
%
Hiện tại, nhà máy Công ty có công suất thiết kế 100 tấn nguyên liệu/ngày, được trang
bị máy móc thiết bị hiện đại nhập từ Châu Âu bao gồm một số hệ thống máy móc thiết bị
chính như: hệ thống cấp đông, hệ thống kho lạnh, hệ thống máy nén, giàn ngưng, thiết bị
lạnh…
-Hệ thống cấp đông gồm:
10