ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG XÃ HỘI VÀ MÔI TRƯỜNG TRONG QUẢN LÝ SỬ DỤNG ĐẤT THỊ XÃ TỪ SƠN TỈNH BẮC NINH - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
--------------------
NGUYỄN VĂN DŨNG
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG XÃ HỘI VÀ MÔI TRƯỜNG
TRONG QUẢN LÝ SỬ DỤNG ĐẤT THỊ XÃ TỪ SƠN
TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành : QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Mã số : 60.62.16
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. VŨ THỊ BÌNH

HÀ NỘI - 2009
ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để
bảo vệ một học vị nào.
Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ
nguồn gốc.
Hà nội, ngày…. tháng…. năm 2009
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Dũng
i
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài tôi luôn nhận được sự giúp đỡ nhiệt
tình, sự đóng góp quý báu của nhiều tập thể và cá nhân, đã tạo điều mọi kiện
thuận lợi để tôi hoàn thành bản Luận văn này.Tôi xin ghi nhận và trân trọng
cảm ơn.
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS. Vũ Thị Bình Giảng viên

2.1.1 Những lý luận cơ bản về đánh giá tác động xã hội..........................4
2.1.2 Mục đích và nguyên tắc đánh giá tác động xã hội...........................4
2.1.3 Ảnh hưởng của việc quản lý sử dụng đất đai, thực hiện phương án
QHSDĐ đến những vấn đề xã hội.............................................................6
2.2 Tổng quan về đánh giá tác động môi trường.........................................15
2.2.1 Những lý luận cơ bản về đánh giá tác động môi trường................15
2.2.2 Quan điểm, mục tiêu, đối tượng đánh giá tác động môi trường
trong việc quản lý, sử dụng đất...............................................................16
2.2.3 Các phương pháp đánh giá tác động môi trường đã và đang thực
hiện..........................................................................................................19
2.3 Những nghiên cứu về đánh giá tác động xã hội, tác động môi trường
trong các phương án quy hoạch phát triển..................................................21
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới.................................................21
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam..................................................24
3. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU...........................................27
3.1 Đối tượng nghiên cứu............................................................................27
3.2 Phạm vi nghiên cứu và giới hạn đề tài..................................................27
3.2.1 Phạm vi nghiên cứu........................................................................27
3.2.2 Giới hạn nghiên cứu.......................................................................27
iii
3.3 Nội dung nghiên cứu.............................................................................27
3.3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, KTXH của thị xã Từ Sơn................27
3.3.2 Đánh giá tác động xã hội của công tác quản lý sử dụng đất theo 3
nội dung chính.........................................................................................28
3.3.3 Đánh giá tác động của việc chuyển mục đích sử dụng đất xây dựng
KCN đến môi trường thị xã Từ Sơn........................................................28
3.3.4 Đề xuất một số giải pháp khắc phục những tác động tiêu cực đến
những vấn đề xã hội và môi trường.........................................................28
3.4 Phương pháp nghiên cứu.......................................................................28

4.5.2 Để hạn chế ô nhiễm môi trường cần có những giải pháp...............81
iv
5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ..........................................................83
5.1 Kết luận.................................................................................................83
5.2 Kiến nghị...............................................................................................85
TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................86
PHỤ LỤC...............................................................................................89
v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CN- TTCN : Công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp.
CCN : Cụm công nghiệp.
ĐTM : Đánh giá tác động môi trường.
KTXH : Kinh tế- xã hội.
HTX : Hợp tác xã.
KCN : Khu công nghiệp.
QHSDĐ : Quy hoạch sử dụng đất.
TCCP : Tiêu chuẩn cho phép.
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam.
UBND : Ủy ban nhân dân.
vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Yêu cầu chính thức đối với ĐTM ở các nước
(tính đến tháng 7 - 1993)................................................................22
Bảng 4.1. Tình hình dân số thị xã Từ Sơn giai đoạn 2004 - 2008...41
Bảng 4.2. Hiện trạng phân bố dân cư thị xã Từ Sơn đến 31/12/2008
.........................................................................................................42
Bảng 4.3. Tổng hợp kết quả giao đất, cho thuê đất của thị xã Từ
Sơn...................................................................................................48
Bảng 4.4. Tổng hợp các dự án đấu giá quyền sử dụng đất tạo vốn
xây dựng cơ sở hạ tầng trên địa bàn thị xã Từ Sơn.........................52

với sự phát triển KTXH. Trong quản lý, sử dụng đất đai, việc chuyển đổi
cơ cấu sử dụng đất quyết định đến tốc độ phát triển KTXH và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế giữa các ngành nghề. Tốc độ tăng trưởng KTXH hàng năm
cao, giá trị sản lượng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ chiếm
phần lớn trong nền kinh tế cho thấy diện tích đất sử dụng trong các ngành
này tăng lên đáng kể đã xâm lấn vào quỹ đất nông nghiệp. Việc quản lý, sử
dụng đất đai, chuyển đổi mục đích sử dụng đất ở nhiều địa phương đã thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế nhưng nó cũng có tác động mạnh mẽ đến những
vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường.
Ngày 24 tháng 9 năm 2008 Thủ tướng Chính phủ có Nghị định số
01/QĐ-CP về việc thành lập thị xã Từ Sơn, với 7 phường và 5 xã. Thị xã Từ
Sơn được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích của huyện Từ Sơn, với 12 đơn
vị hành chính bao gồm các phường: Đồng Kỵ, Trang Hạ, Đồng Nguyên, Đình
Bảng, Tân Hồng, Châu Khê, Đông Ngàn và các xã: Tam Sơn, Tương Giang,
Hương Mạc, Phù Khê, Phù Chẩn.
Thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh nằm ở vị trí địa lý rất thuận lợi: Cách
không xa các trung tâm đô thị lớn, đặc biệt là khu tam giác kinh tế trọng điểm
phía Bắc: Hà Nội- Hải Phòng- Quảng Ninh, đó là lợi thế cho Từ Sơn trong
1
quá trình sản xuất và phát triển. Cùng với sự phát triển chung của tỉnh Bắc
Ninh, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của thị
xã phát triển mạnh mẽ. Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đạt 21,05%.
Nhìn chung tình hình quản lý, sử dụng đất đai cơ bản thực hiện theo
Luật đất đai, từng bước tuyên truyền hướng dẫn cho các đối tượng sử dụng
đất hiểu rõ về Luật đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất để họ
yên tâm và có kế hoạch sử dụng đất đai đúng mục đích, đúng pháp luật.
Tuy vậy việc quản lý đất đai chưa thật chặt chẽ, còn tình trạng lấn
chiếm đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất sai nguyên tắc còn xảy ra ở một
số nơi. Việc triển khai lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, giải quyết khiếu
nại tố cáo về tranh chấp đất đai còn chậm.

xét, nhận định về các mục tiêu KTXH của các dự án, phương án quy hoạch.
Đánh giá tác động xã hội bao hàm một loạt các chu trình và quá trình để
đưa khía cạnh xã hội vào các dự án phát triển. Đánh giá tác động xã hội được
tiến hành để đề phòng các ảnh hưởng nghiêm trọng đối với đời sống con
người trong khu vực của dự án. Đối với ảnh hưởng xấu sẽ đưa ra các biện
pháp giảm thiểu và phòng tránh [2].
Đánh giá tác động xã hội có thể định nghĩa là đánh giá tác động chuyên
ngành liên quan đến đánh giá những thay đổi trong cấu trúc và chức năng của
trật tự xã hội. Đặc biệt là những thay đổi mà việc phát triển có thể tạo ra trong
quan hệ xã hội, trong cộng đồng (dân số, cấu trúc, tính ổn định và các thông
số khác), trong chất lượng và lối sống, ngôn ngữ và tập quán. Như một đánh
giá chuyên ngành, Đánh giá tác động xã hội giải quyết một cách tổng thể quá
trình và phương pháp liên kết các giá trị xã hội vào việc xây dựng dự án [1].
2.1.2 Mục đích và nguyên tắc đánh giá tác động xã hội.
2.1.2.1 Mục đích đánh giá tác động xã hội.
- Đánh giá tác động xã hội có mục đích xác định giá trị và lợi nhuận về
mặt xã hội của dự án được phân bổ như thế nào trong xã hội.
- Xác định các tác động của một hoạt động cụ thể (giao đất, thu hồi đất
khi thực hiện dự án quy hoạch chuyển mục đích sử dụng đất) đối với một
cộng đồng dân cư về những chi phí và lợi ích của dự án (về mặt xã hội) nhằm
4
tránh được những tác động bất lợi đến các nhóm lợi ích khác nhau của cộng
đồng dân cư.
2.1.2.2 Nguyên tắc đánh giá tác động xã hội
- Tham gia của nhiều nhóm xã hội: xác định và đưa tất cả các cộng
đồng và các cá nhân chịu ảnh hưởng của dự án phát triển tham gia vào quá
trình đánh giá.
- Phân tích các tác động đến cộng đồng và cá nhân một cách cân bằng: xác
định một cách rõ ràng những cá nhân và tập thể được hưởng lợi, những cá nhân
và tập thể chịu thiệt thòi và những cá nhân và tập thể dễ bị tổn thương nhất khi

địa phương không còn quỹ đất để bồi thường [3].
Về công tác tái định cư, quy định của Luật đất đai năm 1993 không bắt
buộc việc phải xây dựng khu tái định cư trước khi Nhà nước thu hồi đất nên
các khu tái định cư cho các hộ dân phải di dời ra khỏi KCN thường được xây
dựng rất chậm.
Theo kết quả điều tra, đánh giá của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm
2006: KCN Tam Phước tại tỉnh Đồng Nai có quyết định thu hồi đất năm 2003
đã xây dựng xong và có tỷ lệ lấp đầy 100% nhưng cho đến thời điểm năm
2005 vẫn chưa xây dựng xong hạ tầng khu tái định cư; tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu
có 06 KCN (05 khu xây dựng tập trung tại huyện Tân Thành), trong đó có
những khu đã được Thủ tướng chính phủ quyết định thu hồi đất từ năm 1998
nhưng đến năm 2005 mới chỉ có một khu tái định cư đang xây dựng dở dang.
Tại nhiều dự án người dân có đất bị thu hồi chấp thuận phương án bồi thường,
sẵn sàng giao lại mặt bằng cho nhà nước nhưng khi hỏi về chỗ sau khi di dời
thì các cơ quan có thẩm quyền của địa phương không chỉ ra được khu tái định
cư. Tình trạng này xảy ra khá phổ biến ở các tỉnh thành phố đã tiến hành điều
6
tra. Để khắc phục tình trạng trên, một số tỉnh như Long An, Bà Rịa Vũng Tàu,
thành phố Đà Nẵng ... đã đưa ra giải pháp làm nhà tạm (thường là lợp bằng
tôn hoặc bằng tấm lợp xi măng) cho các hộ dân đến ở tạm khi chưa có khu tái
định cư hoặc hỗ trợ một khoản tiền từ 500.000 đồng/hộ đến 700.000 đồng/hộ
trong khoảng thời gian 06 tháng để người dân tự đi thuê chỗ ở tạm. Giải pháp
này không được người dân đồng tình và không đảm bảo quyền lợi của nhân
dân, làm chậm tiến độ giải phóng mặt bằng để thực hiện dự án [3].
Đối với những nơi đã xây dựng được khu tái định cư thì giá đất ở, giá
nhà ở tại khu tái định cư thường cao hơn nhiều so với giá bồi thường về đất ở,
nhà ở tại nơi ở cũ (do khu tái định cư được xây dựng mới với hệ thống hạ tầng
đồng bộ). Người có đất bị thu hồi muốn đến ở tại khu tái định cư phải bỏ
thêm một khoản tiền không nhỏ (từ vài chục triệu đồng đến vài cả trăm triệu
đồng) mà không phải hộ gia đình nào cũng có điều kiện. Vì vậy, nhiều hộ dân

trong thực tế quá trình đô thị hoá, kinh tế ở các đô thị mới tăng trưởng nhanh
chóng nhờ sự tập trung lực lượng sản xuất tạo ra năng suất lao động cao, cách
tổ chức lao động hiện đại. Do đó quá trình tăng trưởng kinh tế đô thị cũng tạo
cơ hội để tăng việc làm ở các đô thị. Từ góc độ lao động và việc làm từ các
hoạt động nông nghiệp sang các hoạt động công nghiệp và thương mại dịch
vụ. Những người nông dân trước đây gắn bó với ruộng vườn, sau khi trở
thành dân cư đô thị, họ bị mất phần lớn ruộng đất canh tác. Với số tiền được
Nhà nước đền bù hoặc tiền bán đất cho dân cư mới, họ dùng để tạo nghề mới,
tìm việc làm mới... và nhiều vấn đề khác cũng thay đổi. Sự phát triển của các
đô thị một mặt tạo ra một lượng lớn việc làm cho lao động tại đô thị, đồng
thời thu hút và làm giảm đáng kể lực lượng lao động nông nhàn ở các vùng
nông thôn, kém phát triển, góp phần làm tăng năng suất lao động tại các vùng
8
này. Tuy nhiên nhìn từ góc độ khác thì gia tăng quy mô thành phố bằng giải
pháp mở rộng không gian, hình thành các quận, phường mới sẽ làm một phần
lớn lực lượng lao động nông nghiệp ở vùng đô thị hoá mất việc và dẫn đến
tình trạng thất nghiệp tăng.
Nguyên nhân của tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm của nông dân
bị thu hồi đất một phần là do sự phát triển của các ngành công nghiệp và
thương mại- dịch vụ chưa đáp ứng đủ nhu cầu giải quyết việc làm cho người
dân. Mặt khác, do chính bản thân người lao động, vốn xuất phát từ nông dân,
có nhiều hạn chế về năng lực và trình độ văn hoá cũng như trình độ chuyên
môn nghề nghiệp, chưa thích ứng được với công việc mới, không đáp ứng
được nhu cầu thị trường lao động. Hiện nay, tại nhiều đô thị đã xây dựng các
trung tâm giáo dục thường xuyên trung tâm dạy nghề... nhưng chưa đủ đáp
ứng nhu cầu đào tạo và giải quyết việc làm cho người lao động.
Việc chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp đã ảnh hưởng không
nhỏ đến đời sống, việc làm của người dân bị thu hồi đất. Theo kết quả điều tra
của Bộ Tài nguyên và Môi trường tại một số tỉnh, thành phố thuộc các vùng
kinh tế trọng điểm thì trung bình cứ mỗi hộ dân bị thu hồi đất có 1,5 lao động

quy định nhà đầu tư cứ sử dụng 1ha đất nông nghiệp để chuyển sang xây
dựng KCN thì phải có trách nhiệm tuyển dụng từ 10 đến 15 lao động nông
nghiệp tại địa phương. Phần lớn nông dân có trình độ văn hóa, chuyên môn,
kỹ thuật thấp (đặc biệt đối với lao động thuần nông ở độ tuổi trên 30) nên tỷ
lệ lao động bị thu hồi đất được tuyển dụng vào các cơ sở sản xuất kinh doanh
không lớn. Ví dụ, tỷ lệ lao động qua đào tạo ở khu vực nông nghiệp, nông
thôn của Lạng Sơn chỉ chiếm 2,17% tổng số lao động; tại Hà Nội, lao động có
trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên chỉ là 1,5%. Việc đào tạo nghề đối
với lao động ở lứa tuổi trên 30 là rất khó khăn. Trên thực tế, các nhà đầu tư
chỉ tuyển dụng được từ 5% đến 10% số lao động tại địa phương, chủ yếu ở độ
tuổi dưới 30. Một số doanh nghiệp có tuyển dụng lao động của địa phương
nhưng thường chỉ bố trí vào vị trí lao động đơn giản có thu nhập thấp. Vì vậy,
10
một thời gian sau các lao động này tự xin thôi việc để tìm việc ở nơi khác có
thu nhập cao hơn [3].
Theo kết quả điều tra xã hội học do Bộ Tài nguyên và Môi trường tiến
hành năm 2005: Các hộ bị thu hồi đất được bồi thường chủ yếu bằng tiền còn
số hộ được bồi thường bằng đất sản xuất nông nghiệp và bồi thường bằng nhà
ở, đất ở là nhỏ. Sau khi được bồi thường, số hộ sống bằng nghề nông nghiệp
chỉ còn 54% (giảm 34% so với trước khi bị thu hồi đất), số hộ sống bằng nghề
phi nông nghiệp là 15% (tăng 14% so với trước khi bị thu hồi đất). Sau khi bị
thu hồi đất chỉ có 34,7% số hộ đánh giá là đời sống có tốt hơn trước, 42,3% số
hộ cho rằng đời sống không có gì cải thiện và số hộ còn lại (23%) khẳng định
đời sống của họ kém đi so với trước khi bị thu hồi đất. Như vậy, có đến trên
65% số hộ dân được điều tra khẳng định đời sống của hộ kém đi hoặc không
có gì cải thiện hơn sau khi Nhà nước thu hồi đất để chuyển sang xây dựng các
KCN, khu đô thị mới và các dự án phát triển KTXH tại các địa phương [3].
c. Đào tạo nghề cho những người bị thu hồi đất
Từ người nông dân sản xuất nông nghiệp, khi đất đai bị thu hồi, họ phải
chuyển đổi nghề nghiệp. Do đó, vấn đề đào tạo nghề cho người lao động là

chuyên môn. Điều này dẫn đến thực trạng nhiều doanh nghiệp mặc dù trong
dự án có cam kết tuyển dụng lao động địa phương vào làm việc song đã phải
tuyển dụng từ nơi khác để đáp ứng yêu cầu của sản xuất. Mặt khác, bản thân
người lao động chưa được các cấp chính quyền thông tin, tuyên truyền đầy đủ
về kế hoạch, QHSDĐ, khiến người lao động bị động, chưa có sự phối hợp
chặt chẽ giữa các ngành trong việc định hướng cho người dân học nghề,
chuyển đổi nghề phù hợp sau khi bị thu hồi đất sản xuất [14].
Như vậy, vấn đề bất cập hiện nay là công tác quy hoạch ở vùng
chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp chưa gắn với chế độ chuyển
đổi nghề nghiệp cho người lao động, việc tổ chức thực hiện các chính sách
12
hỗ trợ chưa thiết thực và đồng bộ; nguồn lực hỗ trợ dạy nghề tạo việc làm
cho khu vực chuyển đổi chưa được đầu tư thích đáng. Với mục tiêu đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, mở rộng kết cấu hạ tầng, phát triển đô
thị...thì việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp trong thời gian
tới vẫn sẽ tiếp tục gia tăng. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là chuyển đổi
ồ ạt mà phải phù hợp với quy hoạch phát triển KTXH và vấn đề giải quyết
việc làm cho người lao động.
2.1.3.2 Việc chuyển mục đích sử dụng đất ảnh hưởng đến vấn đề an toàn
lương thực
An ninh lương thực đã trở thành vấn đề toàn cầu chứ không riêng gì với
Việt Nam. Vai trò nông nghiệp thế giới đang thay đổi, nông nghiệp không chỉ
cung cấp lương thực thực phẩm cho con người mà còn cung cấp nguyên liệu
cho ngành công nghiệp năng lượng. Nông nghiệp sẽ trở lại là ngành có khả
năng sinh lợi cao, đặc biệt khi nó kết nối với chuỗi chế biến thực phẩm. Đầu
tư lớn vào nông nghiệp và nông thôn là kế sách lâu dài, chống đỡ lạm phát
hữu hiệu và tạo lập nền tảng cho nền công nghiệp chế biến thực phẩm mạnh.
“An ninh lương thực cần được hiểu và phải bao gồm: đủ lương thực
cho xã hội để không ai bị đói; người làm ra lương thực không bị nghèo đi, dù
là nghèo đi một cách tương đối so với mặt bằng xã hội” [10]. Nếu chỉ nhấn

hành động không đúng về QHSDĐ đã tác động tiêu cực đến sản xuất nông
nghiệp và đảm bảo an ninh lương thực. Có nơi do nôn nóng chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, đã dùng đất “bờ xôi ruộng mật” để triển khai các dự án công
nghiệp, dịch vụ mà hiệu quả mang lại không cân xứng.
Sự lãng phí đất nông nghiệp còn thể hiện ở khâu lựa chọn vị trí quy
hoạch: Hai tỉnh liền kề đều quy hoạch KCN trên đất lúa, thu hút các dự án có
14
công nghệ như nhau nên không thể lấp đầy; trong khi các địa phương khác
còn rất nhiều đất đồi, đất bạc màu bỏ không.
Đề cập đến vấn đề sửa đổi Luật đất đai năm 2003, Bộ trưởng Bộ Tài
nguyên và Môi trường Phạm Khôi Nguyên đã khẳng định: “Vấn đề quy hoạch
sử dụng đất đảm bảo an ninh lương thực phải được nghiên cứu kỹ và có bổ
sung ngay vào luật” [17].
Bài học từ Philippin cho thấy, để đổi lấy các KCN, nước này đã mất rất
nhiều cánh đồng lúa phì nhiêu, dẫn đến “thảm cảnh” mỗi năm phải nhập 1,5
triệu tấn lương thực. Chính phủ Philippin cũng đã dự định chi 960 triệu USD
để thực hiện một kế hoạch tổng thể mang tên “những cánh đồng” để vực dậy
ngành nông nghiệp. Việt Nam cũng đã mất rất nhiều đất cho công nghiệp và
dịch vụ, nếu không có những điều chỉnh kịp thời, biết đâu đó sẽ là bài học
tương lai của chúng ta [17].
2.2 Tổng quan về đánh giá tác động môi trường
2.2.1 Những lý luận cơ bản về đánh giá tác động môi trường
Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) thực chất là một công việc rất
mới, nhưng đã cho được những kết quả lớn. Một số điểm có thể thống nhất
được về công việc này là:
ĐTM là quá trình xác định đánh giá và dự báo ảnh hưởng (cả 2 mặt tốt
và xấu) của hoạt động dự án đến môi trường tự nhiên, KTXH và cụ thể là đến
sức khỏe của con người.
ĐTM còn cố gắng đưa ra biện pháp, nhằm giảm bớt những tác động có
hại, kể cả việc áp dụng các biện pháp thay thế. “ĐTM hoặc phân tích tác động


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status