Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Lời Mở Đầu
Đất nước ta đang trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại
hoá, phát triển kinh tế theo xu hướng hội nhập quốc tế. Tại đại
hội Đảng lần thứ IX, Đảng và Nhà nước một lần nữa xác định
mục tiêu vô cùng quan trọng của sự nghiệp này đối với sự phát
triển kinh tế. Với nhiệm vụ phấn đấu tới năm 2020 cơ bản hoàn
thành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng
xã hội chủ nghĩa.
Để phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đòi hỏi phải giải quyết nhiều vấn đề quan trọng, trong
đó nhu cầu vốn cho đầu tư và phát triển là rất cần thiết. Vốn tự
có của các doanh nghiệp thường rất nhỏ, nguồn vốn từ ngân
sách nhà nước lại rất hạn thường xuyên bị thậm hụt, vì vậy cần
phải có một tổ chức đứng ra hỗ trợ về vốn cho các doanh nghiệp
đó là các tổ chức tín dụng mà trong đó chủ yếu là các ngân hàng
thương mại (NHTM). Mỗi ngân hàng đều có những cách thức tổ
chức quản lý và hoạt động khác nhau sao cho phù hợp với đặc
điểm và lợi thế riêng của mình. Trong nhà trường các sinh viên
chỉ được học trên lý thuyết mà chưa có thực tế, vì vậy để hoàn
thiện kiến thức, trang bị cả về lý thuyết và thực tế cho các sinh
Đinh Ngọc Dương - Lớp Ngân hàng 46 A
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
viên khi ra trường thì việc đi thực tập, học hỏi thực tế là điều
rất cần thiết tạo điều kiện cho các sinh viên khi ra trường có thể
tiếp cận công việc một cách nhanh chóng.
Là một sinh viên chuyên ngành ngân hàng, được sự giới
thiệu của nhà trường Em đã đến thực tập tại NHTMCP VPBank -
CN Thanh Xuân Hà Nội, thời gian bắt đầu từ ngày 02/01/2008,
Thanh Xuân đã giúp em hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này.
Đinh Ngọc Dương - Lớp Ngân hàng 46 A
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chương 1.
TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU
DÙNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.1. Khái quát về ngân hàng thương mại.
1.1.1. Khái niệm.
Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng
nhất của nền kinh tế có bản chất là doanh nghiệp nhưng hoạt
động dựa trên kinh doanh tiền tệ và tín dụng. Ngân hàng gồm
nhiều loại tuỳ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói chung
và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó ngân hàng thương mại
thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về qui mô tài sản, thị phần và số
lượng các ngân hàng. Theo Lênin: “ ngân hàng là xí nghiệp đặc
biệt kinh doanh tiền tệ và tín dụng”. Sự ra đời của ngân hàng là
kết quả của phân công lao động xã hội, chừng nào còn kinh
doanh hàng hoá thì còn có ngân hàng, ngân hàng là kế toán cho
cả nền kinh tế.
1.1.2. Các hoạt động cơ bản.
1.1.2.1. Huy động vốn.
Đinh Ngọc Dương - Lớp Ngân hàng 46 A
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Huy động vốn là một trong những hoạt động quan trong
đảm bảo vốn cho vay, hình thành nên tài sản của ngân hàng. Các
hình thức huy động vốn chủ yếu gồm có: tiền gửi và tiền vay.
Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng
nhất của ngân hàng thương mại, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
toán hộ.
Tiền gửi là nguồn quan trọng nhất của ngân hàng thương
mại. Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu chi trả khi khả năng huy
động tiền gửi bị hạn chế các ngân hàng thường vay mượn thêm.
- Vay NHNN (NHTW)
Đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách trong
chi trả của ngân hàng thương mại khi thiếu hụt dự trữ. Hình
thức cho vay chủ yếu của ngân hàng Nhà nước là tái chiết khấu (
hoặc tái cấp vốn). Ngân hàng Nhà nước thường quản lý việc vay
mượn này một cách chặt chẽ, ngân hàng thương mại phải thực
Đinh Ngọc Dương - Lớp Ngân hàng 46 A
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hiện điều kiện đảm bảo và kiểm soát nhất định. Thông thường
ngân hàng Nhà nước chỉ tái chiết khấu các thương phiếu có thời
gian đáo hạn ngắn, khả năng trả nợ cao và phù hợp với mục tiêu
của ngân hàng Nhà nước. Trong điều kiện chưa có thương phiếu
như ở Việt Nam ngân hàng Nhà nước có thể cho vay dưới hình
thức tái cấp vốn theo hạn mức tín dụng nhất định.
- Vay các tổ chức tín dụng khác
Đây là nguồn các ngân hàng vay mượn lẫn nhau và vay của
các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên ngân hàng. Quá
trình vay mượn rất đơn giản, ngân hàng vay chỉ cần liên hệ trực
tiếp với ngân hàng cho vay hoặc qua ngân hàng đại lý. khoản
vay có thể không cần đảm bảo hoặc được đảm bảo bằng chứng
khoán kho bạc Nhà nước.
- Vay trên thị trường vốn
Các ngân hàng có thể vay mượn bằng cách phát hành các
giấy nợ (kì phiếu, tín phiếu, trái phiếu) trên thị trường vốn.
Thông thường đây là khoản vay không có bảo đảm. Những ngân
đồng tín dụng. Trường hợp rút vốn nhiều lần, mỗi lần rút vốn
khách hàng phải ký giấy nhận nợ và gửi cho ngân hàng bản sao
các chứng từ, tài liệu chứng minh mục đích sử dụng vốn vay.
Vốn vay có thể được rút bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản như
đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng: phương thức này áp
dụng với khách hàng có nhu cầu vay bổ sung vốn lưu động
thường xuyên, mục đích sử dụng vốn rõ ràng và có tín nhiệm
với ngân hàng ( như sản xuất kinh doanh ổn định, có lãi, trong
thời gian một năm trước đó không có nợ quá hạn tại các tổ chức
tín dụng. Ngân hàng xác định hạn mức tín dụng phù hợp với đặc
điểm chu kỳ sản xuất, kinh doanh, vòng lưu chuyển tiền tệ. Hợp
đồng tín dụng được ký kết trong phạm vi hạn mức được xác
định. Khi hợp đồng theo hạn mức còn trong thời hạn hiệu lực,
mỗi lần rút vốn vay khách hàng không phải ký thêm hợp đồng
tín dụng mà chỉ cần lập giấy nhận nợ kèm bảng kê và bản sao
chứng từ tài liệu chứng minh mục đích sử dụng tiền vay và dẫn
chiếu đến hợp đồng tín dụng hạn mức. Mỗi giấy nhận nợ có thời
hạn phù hợp với từng mục đích sử dụng vốn nhưng không vượt
quá thời hạn còn lại của hạn mức đã được duyệt. Trong thời hạn
rút tiền vay theo quy định trong hợp đồng tín dụng, khách hàng
Đinh Ngọc Dương - Lớp Ngân hàng 46 A
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
có thể vừa rút tiền vay, vừa trả nợ vay nhưng tổng dư nợ không
vượt quá hạn mức tín dụng đã thoả thuận.
- Cho vay theo dự án đầu tư: phương thức này áp dụng đối
với khách hàng có nhu cầu vay vốn để thực hiện các dự án đầu
tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, và các dự án phục
vụ đời sống. khách hàng vay vốn phải có vốn tự có đầu tư tham
tín dụng và thời hạn cho vay trong từng giấy nhận nợ không
được vượt quá thời hạn cho vay quy định trong hợp đồng tín
dụng.
- Các phương thức cho vay khác như là: cho vay theo hạn
mức thấu chi,cho vay thông qua phát hành và sử dụng thẻ tín
dụng, và các phương thức cho vay mà pháp luật không cấm.
Theo đối tượng khác hàng, cho vay được chia thành: cho
vay doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thương mại dịch vụ ( vay
ngắn hạn, hạn mức, vay theo dự án đầu tư, vay thấu chi, chiết
Đinh Ngọc Dương - Lớp Ngân hàng 46 A
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
khấu chứng từ xuất khẩu), cá nhân vay sản xuất kinh doanh, cá
nhân vay tiêu dùng ( mua nhà, sửa chữa nhà, mua ô tô, du
học..), cá nhân vay kinh doanh chứng khoán ( cầm cố cổ phiếu,
cầm cố trái phiếu chuyển đổi).
1.1.2.3. Các hoạt động khác.
Ngoài hoạt động huy động vốn và cho vay, ngân hàng còn
thực hiện các hoạt động khác như:
- Bảo lãnh: là việc ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa
vụ tài chính hộ khách hàng của mình. Mặc dù không phải xuất
tiền ra, song ngân hàng đã cho khách hàng sử dụng uy tín của
mình để thu lợi. Bảo lãnh được ghi vào tài sản ngoại bảng, đó là
giá trị ngân hàng cam kết trả thay khách hàng của mình. Phần
bảo lãnh ngân hàng phải thực hiện chi trả được ghi vào tài sản
nội bảng tính vào mục cho vay bắt buộc hoặc nợ quá hạn.
- Chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá: là việc
ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàng tương ứng với giá trị
của thương phiếu hoặc giấy tờ có giá trừ đi phần thu nhập của
ngân hàng để sở hữu một thương phiếu, giấy tờ có giá chưa đến
để tăng thu nhập. Bên cạnh đó , sự phát triển của nền kinh tế,
khiến mức sống của dân cư được cải thiện đáng kể, nhu cầu vay
tiêu dùng tăng mạnh mẽ, gắn liền với nhu cầu về hàng tiêu dùng
lâu bền như nhà, xe, đồ gỗ sang trọng, nhu cầu du lịch…Cho
vay tiêu dùng trở thành một thị trường hấp dẫn đầy tiềm năng
đối với ngân hàng. Các ngân hàng chuyển hướng sang tập trung
mở rộng thị trường cho vay tiêu dùng. Nhiều ngân hàng chuyên
môn hoá hoạt động cho vay tiêu dùng bằng cách lập các phòng
tín dụng tiêu dùng độc lập. Giúp các ngân hàng tăng quy mô,
giảm rủi ro và chi phí trong các khoản cho vay tiêu dùng đưa tín
dụng tiêu dùng trở thành một trong những loại hình tín dụng có
mức tăng trưởng cao. Ở Mỹ và Châu Âu cho vay tiêu dùng
chiếm khoảng 25-40% tổng dự nợ cho vay của hệ thống ngân
hàng. Cho vay tiêu dùng sẽ vẫn đóng vai trò chủ đạo trong dịch
vụ ngân hàng trong những năm tới đây.
1.2.2. Khái niệm.
Cho vay tiêu dùng được hiểu là hình thức tài trợ của ngân
hàng cho mục đích chi tiêu của người tiêu dùng, bao gồm cá
nhân và hộ gia đình. Các khoản cho vay tiêu dùng là nguồn tài
chính quan trọng giúp những người tiêu dùng có thể trang trải
nhu cầu trong cuộc sống như nhà ở, phương tiện đi lại, tiện nghi
Đinh Ngọc Dương - Lớp Ngân hàng 46 A
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
sinh hoạt, học tập, du lịch…nâng cao mức sống của người tiêu
dùng trước khi họ có đủ khả năng về tài chính để thụ hưởng.
1.2.3. Đặc điểm.
Cho vay tiêu dùng là một hoạt động tất yếu hình thành do
yêu cầu của nền kinh tế. Nó có những đặc điểm riêng khác với
tín dụng ngân hàng nói chung.
khi thay đổi điều kiện làm việc hay tình trạng sức khoẻ. Nếu
người vay bị chết, ốm, hoặc bị mất việc thì ngân hàng sẽ khó
thu được nợ. Ngân hàng có thể phải đối mặt với những trường
hợp khách hàng cố tình lừa đảo, chây ỳ với hy vọng quỵt nợ,
hoặc kéo dài thời gian sử dụng vốn của ngân hàng. Do vậy, dẫu
ngân hàng có nắm giữ tài sản đảm bảo trong trường hợp này
cũng khó tránh khỏi tổn thất xảy ra.
Đinh Ngọc Dương - Lớp Ngân hàng 46 A
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Lãi suất cho vay tiêu dùng khá cứng nhắc. Ngân hàng có
thể phải chịu tổn thất khi chi phí huy động vốn tăng lên.
1.2.3.3. Chi phí cho vay tiêu dùng cao.
Chi phí cho vay tiêu dùng khá cao trong danh mục cho vay
của ngân hàng. Do quy mô mỗi món vay thường nhỏ, thời gian
vay thường ngắn, rủi ro cao, các thông tin về cá nhân thường
không đầy đủ và thiếu chính xác nên ngân hàng phải mất nhiều
chi phí và thời gian trong khâu tiếp nhận hồ sơ, thẩm định khách
hàng. Hơn nữa, các khoản cho vay tiêu dùng thường có số lượng
lớn, do đó ngân hàng phải mất thêm chi phí để quản lý các
khoản vay, theo dõi va kiểm tra khách hàng thường xuyên…
những điều này khiến cho việc thực hiện một khoản cho vay tiêu
dùng của ngân hàng đối với khách hàng thường có chi phí lớn.
1.2.3.4. Cho vay tiêu dùng có khả năng sinh lời cao.
Cho vay tiêu dùng là một trong những khoản mục tín dụng
mạng lại mức lợi nhuận cao nhất trong danh mục cho vay của
ngân hàng. Các khoản cho vay tiêu dùng thường được định giá
rất cao vì việc định giá này dựa trên cơ sở chi phí cho vay tiêu
dùng lớn và mức độ rủi ro cao.
Khi người tiêu dùng đến vay tiền của ngân hàng, họ
Tài sản được tài trợ trong trường hợp cho vay tiêu dùng trả
góp thường là tài sản có thời hạn sử dụng lâu bền hoặc có giá trị
lớn như nhà ở, ô tô, các phương tiện vận tải… khách hàng sẽ
được hưởng lợi khi sử dụng những tài sản này trong thời gian
dài khi mà chưa có đủ khả năng về tài chính để thanh toán.
Thông thường thì ngân hàng yêu cầu người vay phải thanh
toán trước một phần giá trị tài sản cần mua sắm. Số tiền này
được gọi là số tiền trả trước. phần còn lại ngân hàng sẽ cho vay.
Số tiền trả trước này nhiều hay ít phụ thuộc vào mức độ giảm
giá nhanh hay chậm của từng loại tài sản. Tài sản nào có mức độ
giảm giá nhanh thì số tiền trả trước nhiều, tài sản nào có mức độ
giảm giá chậm thì số tiền trả trước ít. Ngoài ra số tiền trả trước
nay còn phụ thuộc vào thị trường tiêu thụ tài sản sau khi đã sử
dụng, môi trường kinh tế, năng lực tài chính của người đi
vay...Số tiền trả trước này có một vai trò khá quan trọng giúp
ngân hàng hạn chế rủi ro.
Trong trường hợp này cần chú ý số tiền thanh toán định kỳ
phải phù hợp với khả năng về thu nhập của khách hàng.
Đinh Ngọc Dương - Lớp Ngân hàng 46 A
19