Phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại NHTM cổ phần VPBank Thanh Xuân. - Pdf 26

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Lời Mở Đầu

Đất nước ta đang trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại
hoá, phát triển kinh tế theo xu hướng hội nhập quốc tế. Tại đại
hội Đảng lần thứ IX, Đảng và Nhà nước một lần nữa xác định
mục tiêu vô cùng quan trọng của sự nghiệp này đối với sự phát
triển kinh tế. Với nhiệm vụ phấn đấu tới năm 2020 cơ bản hoàn
thành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng
xã hội chủ nghĩa.
Để phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đòi hỏi phải giải quyết nhiều vấn đề quan trọng, trong
đó nhu cầu vốn cho đầu tư và phát triển là rất cần thiết. Vốn tự
có của các doanh nghiệp thường rất nhỏ, nguồn vốn từ ngân
sách nhà nước lại rất hạn thường xuyên bị thậm hụt, vì vậy cần
phải có một tổ chức đứng ra hỗ trợ về vốn cho các doanh nghiệp
đó là các tổ chức tín dụng mà trong đó chủ yếu là các ngân hàng
thương mại (NHTM). Mỗi ngân hàng đều có những cách thức tổ
chức quản lý và hoạt động khác nhau sao cho phù hợp với đặc
điểm và lợi thế riêng của mình. Trong nhà trường các sinh viên
chỉ được học trên lý thuyết mà chưa có thực tế, vì vậy để hoàn
thiện kiến thức, trang bị cả về lý thuyết và thực tế cho các sinh
viên khi ra trường thì việc đi thực tập, học hỏi thực tế là điều
rất cần thiết tạo điều kiện cho các sinh viên khi ra trường có thể
tiếp cận công việc một cách nhanh chóng.
Là một sinh viên chuyên ngành ngân hàng, được sự giới
thiệu của nhà trường Em đã đến thực tập tại NHTMCP VPBank -
CN Thanh Xuân Hà Nội, thời gian bắt đầu từ ngày 02/01/2008,
Đinh Ngọc Dương - Lớp Ngân hàng 46 A
1
trong thời gian thực tập tại ngân hàng, qua quá trình tìm hiểu về

3
Chương 1.
TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU
DÙNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.1. Khái quát về ngân hàng thương mại.
1.1.1. Khái niệm.
Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng
nhất của nền kinh tế có bản chất là doanh nghiệp nhưng hoạt
động dựa trên kinh doanh tiền tệ và tín dụng. Ngân hàng gồm
nhiều loại tuỳ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói chung
và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó ngân hàng thương mại
thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về qui mô tài sản, thị phần và số
lượng các ngân hàng. Theo Lênin: “ ngân hàng là xí nghiệp đặc
biệt kinh doanh tiền tệ và tín dụng”. Sự ra đời của ngân hàng là
kết quả của phân công lao động xã hội, chừng nào còn kinh
doanh hàng hoá thì còn có ngân hàng, ngân hàng là kế toán cho
cả nền kinh tế.
1.1.2. Các hoạt động cơ bản.
1.1.2.1. Huy động vốn.
Huy động vốn là một trong những hoạt động quan trong
đảm bảo vốn cho vay, hình thành nên tài sản của ngân hàng. Các
hình thức huy động vốn chủ yếu gồm có: tiền gửi và tiền vay.
Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng
nhất của ngân hàng thương mại, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
nguồn tiền của ngân hàng. Trong môi trường cạnh tranh, để có
được nguồn tiền có chất lượng ngày càng cao các ngân hàng đã
đưa ra và thực hiện nhiều hình thức huy động khác nhau:
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Tiền gửi thanh toán: đây là tiền của doanh nghiệp hoặc cá

Đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách trong
chi trả của ngân hàng thương mại khi thiếu hụt dự trữ. Hình
thức cho vay chủ yếu của ngân hàng Nhà nước là tái chiết khấu
( hoặc tái cấp vốn). Ngân hàng Nhà nước thường quản lý việc
vay mượn này một cách chặt chẽ, ngân hàng thương mại phải
thực hiện điều kiện đảm bảo và kiểm soát nhất định. Thông
thường ngân hàng Nhà nước chỉ tái chiết khấu các thương phiếu
có thời gian đáo hạn ngắn, khả năng trả nợ cao và phù hợp với
mục tiêu của ngân hàng Nhà nước. Trong điều kiện chưa có
thương phiếu như ở Việt Nam ngân hàng Nhà nước có thể cho
vay dưới hình thức tái cấp vốn theo hạn mức tín dụng nhất định.
- Vay các tổ chức tín dụng khác
Đây là nguồn các ngân hàng vay mượn lẫn nhau và vay của
các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên ngân hàng. Quá
trình vay mượn rất đơn giản, ngân hàng vay chỉ cần liên hệ trực
tiếp với ngân hàng cho vay hoặc qua ngân hàng đại lý. khoản
vay có thể không cần đảm bảo hoặc được đảm bảo bằng chứng
khoán kho bạc Nhà nước.
- Vay trên thị trường vốn
Các ngân hàng có thể vay mượn bằng cách phát hành các
giấy nợ (kì phiếu, tín phiếu, trái phiếu) trên thị trường vốn.
Thông thường đây là khoản vay không có bảo đảm. Những ngân
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hàng có uy tín hoặc trả lãi suất cao sẽ vay mượn được nhiều
hơn. Các ngân hàng nhỏ khó vay mượn trực tiếp bằng cách này.
1.1.2.2. Cho vay
Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam
kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời
gian xác định. Cho vay là tài sản lớn nhất trong khoản mục tín

tín dụng. Ngân hàng xác định hạn mức tín dụng phù hợp với đặc
điểm chu kỳ sản xuất, kinh doanh, vòng lưu chuyển tiền tệ. Hợp
đồng tín dụng được ký kết trong phạm vi hạn mức được xác
định. Khi hợp đồng theo hạn mức còn trong thời hạn hiệu lực,
mỗi lần rút vốn vay khách hàng không phải ký thêm hợp đồng
tín dụng mà chỉ cần lập giấy nhận nợ kèm bảng kê và bản sao
chứng từ tài liệu chứng minh mục đích sử dụng tiền vay và dẫn
chiếu đến hợp đồng tín dụng hạn mức. Mỗi giấy nhận nợ có thời
hạn phù hợp với từng mục đích sử dụng vốn nhưng không vượt
quá thời hạn còn lại của hạn mức đã được duyệt. Trong thời hạn
rút tiền vay theo quy định trong hợp đồng tín dụng, khách hàng
có thể vừa rút tiền vay, vừa trả nợ vay nhưng tổng dư nợ không
vượt quá hạn mức tín dụng đã thoả thuận.
- Cho vay theo dự án đầu tư: phương thức này áp dụng đối
với khách hàng có nhu cầu vay vốn để thực hiện các dự án đầu
tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, và các dự án phục
vụ đời sống. khách hàng vay vốn phải có vốn tự có đầu tư tham
gia vào dự án. Vốn tham gia dự án có thể là tiền hoặc tài sản
đưa vào sử dụng cho dự án kể cả giá trị quyền sừ dụng đất,
quyền sở hữu nhà xưởng, tiền thuê đất đã trả, các chi phí mà
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
khách hàng đã tự đầu tư vào dự án. Căn cứ để giải ngân là hợp
đồng thi công, chứng từ cung ứng, nhập khẩu vật, thiết bị công
nghệ, giá trị khối lượng đã được xác nhận.
- Cho vay hợp vốn (đồng tài trợ): Ngân hàng phối hợp với
một số tổ chức tín dụng khác cùng cho vay đối với một dự án
vay vốn của khách hàng, trong đó ngân hàng hoặc tổ chức tín
dụng khác làm đầu mối. Việc cho vay hợp vốn được thực hiện
theo quy chế cho vay đồng tài trợ của NHNN và các quy định

cầm cố trái phiếu chuyển đổi).
1.1.2.3. Các hoạt động khác.
Ngoài hoạt động huy động vốn và cho vay, ngân hàng còn
thực hiện các hoạt động khác như:
- Bảo lãnh: là việc ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa
vụ tài chính hộ khách hàng của mình. Mặc dù không phải xuất
tiền ra, song ngân hàng đã cho khách hàng sử dụng uy tín của
mình để thu lợi. Bảo lãnh được ghi vào tài sản ngoại bảng, đó là
giá trị ngân hàng cam kết trả thay khách hàng của mình. Phần
bảo lãnh ngân hàng phải thực hiện chi trả được ghi vào tài sản
nội bảng tính vào mục cho vay bắt buộc hoặc nợ quá hạn.
- Chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá: là việc
ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàng tương ứng với giá trị
của thương phiếu hoặc giấy tờ có giá trừ đi phần thu nhập của
ngân hàng để sở hữu một thương phiếu, giấy tờ có giá chưa đến
hạn.
- Cho thuê là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để cho
khách hàng thuê theo những thoả thuận nhất định. Sau thời gian
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nhất định, khách hàng phải trả cả gốc lẫn lãi cho ngân hàng.
Cho thuê tài sản trung và dài hạn được ghi vào khoản mục tài
sản theo giá trị tài sản cho thuê trừ đi phần tiền ngân hàng đã
thu được.
- Nhận uỷ thác: ngân hàng làm dịch vụ uỷ thác cho vay
cho các ngân hàng khác, các tổ chức tín chính phủ hoặc phi
chính phủ. Bên cạnh đó ngân hàng còn thực hiện dịch vụ bảo
quản tài sản của khách hàng…
1.2. Cho vay tiêu dùng.
1.2.1. Quá trình hình thành và phát triển của cho vay tiêu

hàng cho mục đích chi tiêu của người tiêu dùng, bao gồm cá
nhân và hộ gia đình. Các khoản cho vay tiêu dùng là nguồn tài
chính quan trọng giúp những người tiêu dùng có thể trang trải
nhu cầu trong cuộc sống như nhà ở, phương tiện đi lại, tiện nghi
sinh hoạt, học tập, du lịch…nâng cao mức sống của người tiêu
dùng trước khi họ có đủ khả năng về tài chính để thụ hưởng.
1.2.3. Đặc điểm.
Cho vay tiêu dùng là một hoạt động tất yếu hình thành do
yêu cầu của nền kinh tế. Nó có những đặc điểm riêng khác với
tín dụng ngân hàng nói chung.
1.2.3.1.Số lượng các món vay lớn nhưng giá trị mỗi món vay
nhỏ.
Các khoản cho vay tiêu dùng thường có giá trị nhỏ, khác
với các khoản cho vay sản xuất kinh doanh. Khách hàng khi tìm
đến ngân hàng với mục đích vay tiêu dùng thường có nhu cầu
vốn không lớn vì các hàng hoá dịch vụ tiêu dùng thường không
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
quá đắt đỏ, nếu người tiêu dùng vay để mua nhà, sửa chữa nhà
thì quy mô những món vay này không quá lớn đối với ngân hàng
hoặc khách hàng đã có sự tích luỹmột phần từ trước.
1.2.3.2. Các khoản cho vay tiêu dùng có độ rủi ro cao.
Cho vay tiêu dùng có độ rủi ro rất cao trong danh mục cho
vay của ngân hàng. Chịu tác động của những yếu tố khách quan
như môi trường kinh tế xã hội, môi trường tự nhiên ( thiên tai,
hạn hán, lũ lụt…) và các yếu tố khác như:
- Tính chu kỳ của hoạt động cho vay tiêu dùng. Nhu cầu
vay vốn tỷ lệ thuận với sự tăng trưởng của nền kinh tế. Nó tăng
lên khi nền kinh tế phát triển, mở rộng khiến người dân tin
tưởng vào thu nhập của mình trong tương lai và sẵn sàng vay

dùng của ngân hàng đối với khách hàng thường có chi phí lớn.
1.2.3.4. Cho vay tiêu dùng có khả năng sinh lời cao.
Cho vay tiêu dùng là một trong những khoản mục tín dụng
mạng lại mức lợi nhuận cao nhất trong danh mục cho vay của
ngân hàng. Các khoản cho vay tiêu dùng thường được định giá
rất cao vì việc định giá này dựa trên cơ sở chi phí cho vay tiêu
dùng lớn và mức độ rủi ro cao.
Khi người tiêu dùng đến vay tiền của ngân hàng, họ
thường quan tâm tới việc có vay được tiền hay không. Và sẵn
sàng chấp nhận mức lãi suất cao để có thể vay được tiền thoả
mãn nhu cầu tiêu dùng.
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Có thể nói, cho vay tiêu dùng đã đem lại cho ngân hàng
nguồn thu nhập cao. Đây là một thị trường rộng lớn, nhiều tiềm
năng, và sẽ tiếp tục phát triển mạnh trong tương lai.
1.2.4. Phân loại cho vay tiêu dùng.
Cho vay tiêu dùng được phân loại dựa trên nhiều tiêu thức
khác nhau giúp ta có cái nhìn toàn diện về cho vay tiêu dùng
trên nhiều giác độ.
1.2.4.1. Căn cứ vào phương thức hoàn trả.
Theo tiêu thức này cho vay tiêu dùng được chia thành 3
loại gồm: cho vay tiêu dùng trả góp, cho vay tiêu dùng trả một
lần, cho vay tiêu dùng tuần hoàn.
*Cho vay tiêu dùng trả góp: là phương thức cho vay trong
đó người đi vay trả nợ gốc cho ngân hàng làm nhiều lần trong
thời hạn tín dụng đã thoả thuận. Cho vay trả góp thường áp dụng
đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản cố
định hoặc hàng lâu bền. Ngân hàng thường cho vay trả góp đối
với người tiêu dùng thông qua hạn mức nhất định. Ngân hàng sẽ

*Cho vay tiêu dùng tuần hoàn: Đây la khoản cho vay tiêu
dùng mà ngân hàng cho phép khách hàng sử dụng thẻ tín dụng
hoặc phát hành séc được phép thấu chi. Trong thời hạn tín dụng
được thoả thuận trước, căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập
kiếm được từng kỳ, khách hàng được ngân hàng cho phép thực
hiện việc vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo hạn
mức tín dụng. Lãi được trả mỗi kỳ có thể tính theo các cách sau:
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Lãi được tính dựa trên số dư nợ trước khi được điều
chỉnh, nghĩa là số dư nợ được dùng để tính lãi là số dư nợ mỗi
kỳ có trước khi nợ được hạch toán.
- Lãi được tính dựa trên số dư nợ đã được điều chỉnh: theo
đó, số dư nợ được dùng để tính lãi là số dư nợ cuối cùng của
mỗi kỳ sau khi khách hàng đã thanh toán nợ cho ngân hàng.
- Lãi được tính dựa trên cơ sở dư nợ bình quân.
1.2.4.2. Căn cứ theo phương thức tài trợ.
Theo phương thức này, cho vay tiêu dùng được chia thành
2 loại là cho vay tiêu dùng trực tiếp và cho vay tiêu dùng gián
tiếp.
* Cho vay tiêu dùng gián tiếp.
Cho vay tiêu dùng gián tiếp là hình thức cho vay trong đó
ngân hàng mua các khoản nợ phát sinh của các doanh nghiệp đã
bán chịu hàng hoá hoặc đã cung cấp các dịch vụ cho người tiêu
dùng. Hinhg thức này ngân hàng cho vay thông qua các doanh
nghiệp bán hàng hoặc làm các dịch vụ mà không trực tiếp tiếp
xúc với khách hàng. Ngân hàng và công ty bán lẻ ký hợp đồng
mua bán nợ. Trong hợp đồng, ngân hàng thường đưa ra các điều
kiện về đối tượng khách hàng được bán chịu, số tiền bán chịu
tối đa, loại tài sản bán chịu. Công ty bán lẻ và người tiêu dùng

- Các khoản cho vay thường có chất lượng cao hơn so với
việc cho vay thông qua doanh nghiệp bán lẻ do ngân hàng có thể
sử dụng trình độ, nghiệp vụ, kinh nghiệm… của cán bộ tín dụng.
Các cán bộ ngân hàng khi cho vay thường chú ý tới chất lượng
khoản vay, còn các doanh nghiệp bán lẻ khi cho vay thường chú
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
ý tới doanh số bán hàng, trình độ phân tích thẩm định tín dụng
còn thấp.
- Hình thức cho vay tiêu dùng trực tiếp linh hoạt hơn cho
vay tiêu dùng gián tiếp. Khi cho vay tiêu dùng trực tiếp ngân
hàng có thể dễ dàng xử lý tốt các tình huống phát sinh, làm thoả
mãn quyền lợi của cả khách hàng và ngân hàng.
1.2.4.3. Căn cứ vào mục đích khoản vay.
Theo mục đích sử dụng tiền vay của khách hàng có thể
phân cho vay tiêu dùng thành 2 loại là cho vay tiêu dùng cư trú
và cho vay tiêu dùng phi cư trú.
*Cho vay tiêu dùng cư trú: là các khoản cho vay nhằm tài
trợ cho nhu cầu mua sắm, xây dựng, cải tạo nhà ở của khách
hàng là các nhân hay hộ gia đình.
*Cho vay tiêu dùng phi cư trú: là các khoản cho vay nhằm
trang trải các chi phí mua sắm đò dùng gia đình, xe cộ, chi phí
học hành, giải trí, du học,y tế…
1.2.5. Quy trình cho vay tiêu dùng.
* Khách hàng lập và nộp hồ sơ vay vốn đến ngân hàng.
Khi có nhu cầu vay vốn, khách hàng gửi cho ngân hàng bộ
hồ sơ vay vốn và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính
xác và hợp pháp của các tài liệu gửi cho ngân hàng. Hồ sơ vay
vốn gồm các giấy tờ sau:
- Giấy đề nghị vay vốn.

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thức rõ ràng về trách nhiệm phải hoàn trả đầy đủ và đúng hạn
các khoản nợ. Do vậy, việc tiếp xúc, gặp gỡ với từng khách
hàng là rất cần thiết bởi vì qua những cuộc gặp gỡ như vậy họ
dễ dàng phát hiện ra những biểu hiện gian dối hoặc nhược điểm
trong tính cách cũng như sự thành thật của người đi vay.
- Mức thu nhập: Mức thu nhập và sự ổn định trong thu
nhập là những thông tin quan trọng trong quá trình đánh giá khả
năng trả nợ của khách hàng. Những khách hàng có mức lương cơ
bản và mức lương còn lại sau khi nộp thuế cao sẽ được đánh giá
cao. Cán bộ tín dụng cũng đồng thời tiến hành kiểm tra người
chủ cơ qua nơi khách hàng làm việc để đánh giá độ chính xác
của thu nhập, độ dài thời gian làm việc, nơi cư trú ghi trên đơn
xin vay.
- Số dư tài khoản tiền gửi: Một tiêu thức gián tiếp về tổng
thu nhập và sự ổn định thu nhập của khách hàng là số dư tiền
gửi trung bình hàng ngày mà khách hàng duy trì trên tài khoản
cá nhân của họ. Cán bộ tín dụng có thể kiểm tra các con số này
thông qua các ngân hàng có liên quan.
- Sự ổn định về việc làm và nơi cư trú: Trong số những yếu
tố chính mà một cán bộ tín dụng sẽ quan tâm là khoảng thời
gian làm việc. Hầu hết các ngân hàng không muốn cho vay
những người mới làm việc tại nơi cư trú hiện tại được một vài
tháng, nhất là cho vay những khoản tiền lớn. Thời hạn sống tại
nơi cư trú hiện tài thường được coi là quan trọng vì nếu khoảng
thời gian một người sống tại một nơi càng lâu thì có thể tin rằng
cuộc sống của người đó càng ổn định. Còn nếu một người
Đinh Ngọc Dương - Lớp Ngân hàng 46 A
21
thường xuyên thay đổi chỗ ở thì sẽ là một yếu tố bất lợi cho

quản lý ngân hàng thường do dự không muốn thực hiện nhiều
khoản cho vay có bảo lãnh vì điều đó có thể dẫn tới tổn thất cho
cả người bảo lãnh mở tải khoản tại ngân hàng.
Nếu khoản vay có tài sản đảm bảo (thế chấp, cầm cố) thì
ngân hàng phải đánh giá về các điều kiện về tinh hợp pháp, số
lượng và xác định giá trị của tài sản đảm bảo theo đúng pháp
luật. Các giấy tờ sở hữu tài sản đảm bảo phải được xác nhận của
cơ quan công chứng Nhà nước và thẩm định kỹ để biết được
mức độ tin cậy của các giấy tờ đó. Trên cơ sở này, ngân hàng
mới ra quyết định cho vay được chính xác.
* Ngân hàng xác định các chỉ tiêu cho vay và ký kết hợp đồng
tín dụng với khách hàng.
Sau khi đã thẩm định hồ sơ vay vốn vay ra quyết định cho
vay ngân hàng tiến hành xác định các chỉ tiêu cho vay:
- Thời hạn cho vay: Căn cứ vào kỳ luận chuyển vốn của
đối tượng vay và khả năng trả nợ của khách hàng, thời hạn cho
vay tiêu dùng có thể là vài tháng hoặc vài năm.
- Lãi suất cho vay: Hầu hết các khoản cho vay tiêu dùng
được định giá dựa vào lãi suất cơ bản cộng với một mức lợi
nhuận cận biên và phần bù rủi ro.
Lãi suất
khoản
cho vay
người
= Chi phí
huy
động
vốn cho
+ Chi
phí

tiền vay theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của ngân
hàng Nhà Nước. Theo quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối
với khách hàng (quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN) hiện hanh
của Việt Nam quy định: Mức cho vay tối đa không vượt quá
70% giá trị của tài sản thế chấp hay cầm cố.
+ Khả năng nguồn vốn của ngân hàng.
+ Giới hạn tổng dư nợ cho vay của ngân hàng đối với
một khách hàng. Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN Việt Nam
quy định tổng dư nợ cho vay của ngân hàng đối với một khách
hàng không vượt quá 50% vốn tự có của ngân hàng thương mại.
* Mở tài khoản tiền vay
Sau khi duyệt cho vay, ngân hàng mở cho khách hàng vay
một tài khoản cho vay để hạch toán tiền vay và thu nợ (nếu
khách hàng vay chưa có tài khoản cho vay).
Căn cứ vào hợp đồng tín dụng ngân hàng phát tiền vay cho
khách hàng vay theo các cách sau:
- Tiền vay được chuyển trả trực tiếp cho đơn vị cung cấp
hàng hoá dịch vụ cho khách hàng.
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Trường hợp khách hàng đã dùng nguồn vốn khác để trả
cho người cung cấp hoặc nếu người cung cấp không có tài khoản
tài ngân hàng thì chuyển vào tài khoản tièn gửi của khách hàng.
- Phát bằng tiền mặt.
* Thu nợ.
Việc thu nợ được tiến hành theo kỳ hạn nợ đã ghi trong
hợp đồng tín dụng. Khách hàng có thể trả nợ trước hạn và phải
chủ động trả nợ cho ngân hàng khi đến hạn. Khách hàng không
trả được nợ khi đến hạn ngân hàng có thể xử lý theo bốn trường
hợp sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status