1
MỤC LỤC
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU
Chương 1
ĐÌNH NỘI TRONG KHÔNG GIAN XÃ VIỆT LẬP
1.1. Tổng quan về xã Việt Lập
1.1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
1.1.2. Lịch sử hình thành, quá trình tồn tại và phát triển
xã Việt Lập
1.1.3. Thành phần dân cư
Trang
1
3
4
11
11
11
13
1.2.1. Lịch sử hình thành và quá trình tồn tại của di tích đình
17
18
21
31
33
54
65
68
68
69
2
Chương 3
GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHI VẬT THỂ ĐÌNH NỘI
3.1. Hội đình làng Nội
3.1.1. Thời gian và lịch hội làng
3.1.2. Quy mô, không gian của hội làng
3.1.3. Các công việc chuẩn bị hội làng
3.1.4. Diễn trình lễ hội
3.2. Giá trị của hội đình Nội
3.3. Thực trạng và giải pháp bảo tồn giá trị văn hóa phi vật thể
của đình Nội
3.3.1. Thực trạng hội đình Nội
3.3.2. Giải pháp bảo tồn lễ hội đình làng Nội hiện nay
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ
KHXH
Khoa học xã hội
Nxb
Nhà xuất bản
76
76
77
78
79
83
95
100
100
101
110
112
117
3
QND
Quõn i nhõn dõn
TP. HCM
4
i vi cỏc lng quờ Vit Nam, ỡnh lng c xem nh biu tng
c trng, chim mt v trớ quan trng gn cht cỏc giai tng xó hi, ỡnh va
l ni th cỳng Thnh hong va l ni din ra cỏc hot ng vn húa ca
cng ng c dân lng xó của nụng thụn Vit Nam. ỡnh lng s tr nờn cú ý
ngha hn nu ta i sõu tỡm hiu, nghiờn cu v búc tỏch tng lp vn húa
cha ng trong nó. Thụng qua ú, cú th bo tn v phỏt huy cỏc giỏ tr vn
húa, gúp phn lm phong phỳ kho tng di sn vn húa dõn tc Vit Nam.
ỡnh Ni, xó Vit Lp, huyn Tõn Yờn, Tnh Bc Giang l mt trong
nhng cụng trỡnh kin trỳc tớn ngng quy mụ, di tớch cú niờn i thi Lờ
Trung Hng. õy l mt trong s ớt cỏc di tớch tiờu biu ca huyn Tõn
Yờn núi riờng v tnh Bc Giang núi chung. Vỡ vy, vic nghiờn cu mt
cỏch cú h thng nhng giỏ tr lch s, vn húa, ngh thut ca ỡnh Ni
gúp phn vo vic bo tn v phỏt huy giỏ tr vn húa truyn thng ca huyn
Tõn Yờn, tnh Bc Giang, ng thi lm phong phỳ thờm nn vn húa dõn tc.
Vi lý do trờn, tôi ó chn: Giỏ tr vn húa, ngh thut ỡnh Ni (xó Vit
Lp, huyn Tõn Yờn, tnh Bc Giang) lm ti Lun vn Thc s, chuyờn
ngnh Vn húa hc.
2. Tỡnh hỡnh nghiờn cu
Đình làng của ngời Việt từ lâu đã là đề tài đợc nhiều học giả trong và
ngoài nớc quan tâm nghiên cứu với những mục đích khác nhau. ỡnh Ni l
cụng trỡnh kin trỳc cú quy mụ ln và nhiều nét độc đáo vựng H Bc xa.
Từ trớc tới nay tuy cha có công trình nào nghiên cứu toàn diện, nhng cũng đã
có một số tác giả quan tâm nghiên cứu ở các góc độ khác nhau, dới đây là một
số công trình đã đề cập đến đình Nội:
- Cuốn sách Thống kê Lễ hội Việt Nam tập 1 do Cục Văn hóa Cơ sở,
Bộ VH, TT&DL xuất bản năm 2008. bảng danh mục các lễ hội truyền
thống của tỉnh Bắc Giang của cuốn sách có liệt kê hội làng Nội ở mục số 11,
Tân Yên trong lịch sử. Các chương khác chủ yếu đề cập đến vấn đề xây dựng
lực lượng, củng cố chính quyền và phát triển kinh tế của địa phương.
- Cuốn “Lịch sử Đảng bộ xã Việt Lập” do HĐND và UBND xã Việt Lập
hoàn thành năm 2003. Trong cuốn sách này đã ghi lại nội dung khái quát nhất
về lịch sử truyền thống của địa phương qua các thời kỳ lịch sử, đậm nét nhất,
tiêu biểu nhất là thời kỳ từ khi có Đảng lãnh đạo cho đến nay. Nội dung cuốn
sách đề cập đến 6 vấn đề gồm: 1/Việt Lập - vùng đất - con người; 2/Việt Lập
từ những đốm lửa cách mạng đầu tiên đến cách mạng tháng Tám năm 1945;
3/Chi bộ và nhân dân Việt Lập kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược;
4/Đảng bộ lãnh đạo nhân dân hàn gắn vết thương chiến tranh cải tạo và xây
dựng CNXH (1954 - 1964)… Đặc biệt, ở phần 1, cuốn sách đã giới thiệu một
cách khái quát nhất về vùng đất, con người và truyền thống cách mạng trong
lịch sử của xã Việt Lập, đây chính là phần tư liệu mà tác giả luận văn có thể
nghiên cứu và kế thừa trong khi triển khai bài viết của mình.
- Cuốn “Di tích Bắc Giang” do tác giả Trần Văn Lạng chủ biên năm
2001, trong cuốn sách từ trang 126 đến trang 136, tác giả đã giới thiệu về di
tích đình Nội với những nội dung như: vị trí tồn tại, lịch sử ra đời và những
lần tu sửa, đề cập đến vị thần được thờ cũng như lễ hội tưởng niệm, về một số
sự kiện diễn ra tại đình làng, về giá trị kiến trúc nghệ thuật của di tích…
- Cuốn “Lễ hội Bắc Giang” do các tác giả Ngô Văn Trụ, Nguyễn Thu
Minh, Trần Văn Lạng hoàn thành năm 2002, trong cuốn sách từ trang 433 đến
trang 437 đã giới thiệu về lễ hội làng Nội với những nội dung như: Địa danh
hành chính, dòng họ và các phe giáp, vị trí tồn tại của ngôi đình, niên đại xây
dựng, trang trí chạm khắc, thành hoàng làng, những sự kiện diễn ra tại đình
Nội, đặc biệt đi sâu vào giới thiệu về lễ hội đình Nội với các nghi lễ và các trò
chơi dân gian nh: vật cù...
7
- Trong “Hồ sơ khoa học di tích đình Nội” do Bảo tàng tỉnh Hà Bắc
- Nghiên cứu, khảo sát di tích trên hai phương diện: Giá trị văn hóa vật
thể bao gồm: kiến trúc, điêu khắc, các di vật, cổ vật. Giá trị văn hóa phi vật
thể bao gồm: các nghi thức, nghi lễ và sinh hoạt văn hóa cộng đồng.
- Nghiên cứu thực trạng di tích, từ đó đề xuất một số giải pháp về việc bảo
tồn và phát huy giá trị di tích đình Nội trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu chính là di tích đình Nội với các giá trị văn hóa
vật thể và phi vật thể, ngoài ra đề tài còn nghiên cứu về làng Nội xưa và nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi không gian:
- Luận văn nghiên cứu di tích đình Nội trong không gian văn hóa của
làng Nội, xã Việt Lập, huyện Tân Yên.
+ Phạm vi thời gian:
- Đối với các giá trị văn hóa vật thể, xác định nghiên cứu từ khi đình
được khởi dựng, trùng tu sửa chữa cho tới nay.
- Đối với các giá trÞ văn hóa phi vật thể, luận văn tập trung nghiên cứu lễ
hội đình Nội xưa và lễ hội nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành trong văn hóa học: Sử học, Bảo tàng
học, Dân tộc học, Văn hóa học, Mỹ thuật học, Văn hóa dân gian…
9
- Phương pháp khảo sát, điền dã: Quan sát, mô tả, phỏng vấn, ghi chép,
đo vẽ, chụp ảnh…
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh trên cơ sở các tư liệu như
sách, hồ sơ, các tư liệu khảo sát thực địa.
6. Những đóng góp của luận văn
- Là công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống về những giá trị văn
Giang - vùng chuyển tiếp giữa các vùng tự nhiên lớn của cả nước - vùng núi
11
Việt Bắc và Đông Bắc với vùng châu thổ sông Hồng. Đồng thời, Việt Lập
chịu ảnh hưởng điều kiện tự nhiên của huyện Tân Yên, dốc thoải theo hướng
Tây Bắc - Đông Nam huyện với độ cao trung bình 10 - 15m so với mặt nước
biển, cứ 1km chiều dài địa hình trung bình hạ bớt độ cao 1m. Như vậy, so với
các xã trong huyện, Việt Lập cùng Quế Nham chịu ảnh hưởng của vùng trũng
và chính là chịu ảnh hưởng của con ngòi chảy qua theo hướng Tây Bắc Đông Nam.
Việt Lập có 14 quả đồi lớn nhỏ, quả đồi cao nhất có độ cao 120m.
Cùng với địa hình đối thấp, cho phép Việt Lập phát triển kinh tế
tổng hợp nông nghiệp và chăn nuôi kể cả nghề cá. Phía Tây Nam
xã còn có 1 con đê dài 6km bao bọc. Ngoài ra, ở Nguyễn Sơn còn
có mỏ Ba rít, loại khoáng sản phi kim loại với trữ lượng nhỏ
khoảng 47.000 tấn. Cấu tạo địa chất Việt Lập cũng có thể cho
phép làm gốm sứ, gạch chịu lửa, cát sỏi xây dựng [30, tr.34].
Cách đây vài chục năm, độ che phủ của đồi núi thấp còn lớn, ngày nay do
sự tác động của con người, cảnh quan địa lý, lịch sử của Việt Lập đã thay đổi.
Đất đai trồng trọt gần như đã được khai thác gần hết giới hạn, rừng gần như
không còn nữa. Hiện trạng này phản ánh trong cơ cấu kinh tế của xã, trong đó
giá trị sản lượng nông nghiệp chiếm tỷ lệ rất lớn. theo độ dốc nghiêng của địa
hình hướng Tây Bắc - Đông Nam, giữa các dải đồi trọc liên tiếp chạy nối đuôi
nhau giữa các dải đồng bằng hẹp làm cho đất đai của xã ngày càng bị xói mòn.
Trong toàn bộ diện tích đất tự nhiên của Việt Lập, diện tích gieo
trồng cây hàng năm có 981 ha. Trong đó, diện tích cây lương thực
835,8 ha, diện tích cây thực phẩm 69,2 ha và diện tích cây công
nghiệp 76 ha. Đất đai Việt Lập chủ yếu nằm trong vùng đất đồi,
ruộng bậc thang và nhóm đất phù sa cũ bạc màu. Đất đai Việt Lập
13
(sau là Giao Châu), thời Hùng Vương, An Dương Vương là đất của bộ Vũ
Ninh - một trong 15 bộ của quốc gia Văn Lang - Âu Lạc” [30, tr.27].
Thời thuộc Minh, đầu thế kỷ XV, huyện Yên Viễn được đổi thành huyện
Thanh Yên, châu Lạng Giang, Phủ Lạng Giang. Tên Yên Thế chính thức xuất
hiện trong sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi như sau: huyện Yên Thế có tên
nỏ và vôi.. tên tẩm thuốc độc dùng vào việc chống giặc Bắc (Trung Quốc).
Vôi dùng vào tạo tác. Trong lời ẩn án và phần chú của sách này cho biết: Tên
huyện Yên Thế có từ thời Trần (có sách chép là Yên Viễn), thời thuộc Minh
đổi là huyện Thanh Yên, thuộc châu Lạng Giang, phủ Lạng Giang, thời Lê lại
đổi là huyện Yên Thế. Lúc này, phủ Lạng Giang có 6 huyện, 340 xã.
Theo sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú cho thấy:
phủ Lạng Giang ở miền Thượng du trấn Kinh Bắc, 6 huyện đều nhiều núi,
những huyện Phượng Nhỡn, Bảo Lộc, Yên Thế (một phần phía Nam là huyện
Tân Yên sau này), Hữu Lũng thì rừng núi liên tiếp nhau, giáp với địa giới
huyện Chí Linh trấn Hải Dương. Sông Lục Đầu trở lên quanh co ở khoảng 6
huyện. Thời Trần, Hưng Đạo Vương thường coi quân ở phủ Lạng Giang, mở
dinh khi ở trại Vạn Kiếp, đánh phá quân Nguyên ở đó.
Sang thời Nguyễn, đầu thế kỷ XIX, huyện Yên thế thuộc phủ Hà
Bắc, xứ Kinh Bắc (năm Minh Mệnh đổi làm phủ Thiên Phúc).
Theo sách Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX cho biết, huyện
Yên Thế gồm 8 tổng, 42 xã, lúc này xã Việt Lập thuộc tổng thứ 8
với tên gọi là Bảo Lộc Sơn. Tổng này gồm có các xã: Bảo Lộc
Sơn gồm các xóm: Bãi Gia, Bò Gian, Can Cát, Cầu Cần, Con Qui,
Đồng Cựu, Giới Gia, Làng Am, Làng Đông, Làng Nguyễn, Làng
Khoát, Nguộn Ngô, Bãi, Mả Đinh, Mả Ngòi; xã Tưởng Sơn có 2
xóm: Trại Đông, Trại Tây; xã Kim Tràng có các xóm: Chu Vàng,
Cầu Quận, Kim Tràng, Lò Nội, Ngọc Trai [30, tr.10].
Kim Tràng
Bảo Lộc Sơn
Hữu Mục
Hữu Mục
Kim Tràng
Bảo Lộc Sơn
Bảo Lộc Sơn
Hữu Mục
Bảo Lộc Sơn
Bảo Lộc Sơn
Bảo Lộc Sơn
Bảo Lộc Sơn
Mục Sơn
Bảo Lộc Sơn
Bảo Lộc Sơn
Bảo Lộc Sơn
Mục Sơn
Mục Sơn
Bảo Lộc Sơn
Bảo Lộc Sơn
Bảo Lộc Sơn
Mục Sơn
Sang thời Pháp Thuộc, năm 1886, ngay sau khi Pháp chiếm được tỉnh
Bắc Ninh, phủ Lạng Thương và thành Tỉnh đạo, chúng lập ngay đạo Yên Thế,
tỉnh lỵ đóng ở Nhã Nam. Năm 1895, Pháp lập đạo quan binh Yên Thế, nhập
thêm các tổng Hương Vĩ, Hữu Thượng và Ngọc Cục, lúc này Việt Lập cũng
như huyện Tân Yên thuộc địa phận của Yên Thế.
Theo sách Bắc Giang địa chí của Trịnh Như Tấu, đạo quan binh Yên
về tên gọi và địa vực cũng như vị trí.
Về lịch sử của làng Nội Hạc - nơi có ngôi đình tồn tại, Nội Hạc là một
trong những làng thuộc xã Việt Lập, trong tiến trình lịch sử làng này gắn liền
với vùng đất Yên Thế hạ (tức huyện Tân Yên ngày nay). Thời Nguyễn, làng
Nội Hạc chính là hai làng hợp lại, đó là làng Nội và làng Hạc thuộc tổng Mục
Sơn. Đến những năm 50 của thế kỷ XX, hai làng này thuộc hai đội sản xuất
16
khác nhau, đến năm 1980 hai làng sát nhập thành hai đội sản xuất của Việt
Lập 1, năm 2001 hai làng này chính thức hợp nhất thành làng Nội Hạc.
Về vị trí địa lý của làng: Phía Bắc giáp làng Đầu Cầu, làng Hạ xã Cao
Thượng; phía Đông giáp làng Trong Giữa (Việt Lập) và làng Hương (xã Liên
Chung); phía Nam giáp làng Lý, làng Cầu Cần, làng Um Ngò (xã Việt Lập);
phía Tây giáp làng Văn Miếu (Việt Lập), làng Cao Thượng (xã Cao Thượng).
Làng có đường liên xã chạy từ Liên Chung, Nghè Bẩy - Cao Thượng và
Nghè Bẩy - Cầu Cần. Làng Nội Hạc cách trung tâm huyện lỵ khoảng 3km,
cách tỉnh lỵ Bắc Giang 13km, cách đường quốc lộ 284 khoảng 2km.
1.1.3. Thành phần dân cư
Việt lập là vùng đất có bề dày lịch sử, do vị trí địa lý và điều kiện tự
nhiên thuận lợi nằm vùng Yên Thế hạ xưa nên cư dân đến định cư từ lâu đời,
dân cư chủ yếu là người Kinh và người Tày. Thuở xưa, đây là vùng đất hoang
sơ, cây cối xanh tươi um tùm, có nhiều thú dữ nên dân cư còn thưa thớt chủ
yếu sống bằng nghề săn bắt, hái lượm. Căn cứ vào các dấu tích khảo cổ học
và tư liệu lịch sử ghi chép về nơi này còn lưu lại cho đến nay, các nhà nghiên
cứu cho rằng từ thời đại kim khí đã xuất hiện cư dân định cư ở đây. Một trong
những di tích và truyền tích còn lại tiêu biểu là về hai vị thần Cao Sơn - Quý
Minh thời các vua Hùng.
Ở vùng đất này có nhiều dòng họ sinh sống nhưng chỉ có một số những
dòng họ gốc như họ Thân, họ Vi được coi là lớp cư dân lâu đời nhất mà hậu
gấp 4 lần. Trong điều kiện là xã nông nghiệp, thu nhập bình quân
đầu người thấp thì việc tăng dân số như trên là một khó khăn cho
việc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Trong cơ cấu dân
số hiện nay, nữ chiếm trên 47%, cơ cấu tuổi trẻ chiếm tỷ lệ cao,
18
khi m kinh t chm phỏt trin, ngnh ngh khụng ỏng k thỡ õy
l mt thỏch thc cho a phng [30, tr.11].
1.1.4. i sng kinh t xa và nay
Vi đặc điểm t nhiờn của vùng đất, về phơng diện kinh tế của c dân nơi
đây cùng phát triển khá đa dạng, song chủ đạo vẫn là kinh tế nông nghiệp.
+ Nông nghiệp: Theo t liệu lịch sử ghi chép về vùng đất, từ thời Lý, Trần,
Lê, tình hình kinh tế nông nghiệp và lâm nghiệp ở vùng đất này phát triển ổn
định. Từ thế kỷ XIX đến thế kỷ XX, do kiều kiện kinh tế nông - lâm có bớc
phát triển nên đời sống kinh tế ở Việt Lập đợc nâng cao, đáng chú ý là các
công trình văn hóa của cộng đồng ở các làng lần lợt đợc tu bổ và xây dựng
khang trang.
Với diện tích hàng ngàn mẫu đất ruộng, các làng chia nhau canh tác với
phơng thức thô sơ con trâu, cái cày. Năng suất lúa thu hoạch khoảng 70- 80
kg/sào. ở thời điểm này, dân số ở Việt Lập cũng không đông, mỗi giáp chỉ có
khoảng trên 20 xuất inh toàn xã tính trung bình có khoảng trên 200 xuất
đinh. Nh thế, ruộng đất cấp cho từng xuất đinh cũng khá nhiều khoảng trên dới 2 mẫu/1 xuất đinh. Mỗi năm làm hết ruộng cũng đợc chừng vài tạ thóc, tình
trạng sở hữu ruộng đất không đều nhau đã dẫn đến phân chia giàu nghèo.
Tổng Bảo Lộc Sơn trong đó có xã Bảo Lộc Sơn là xã mạnh, đồng rộng, bằng
phẳng. ở đây tầng lớp chức sắc nhiều, họ chính là thành phần chi phối chính
ruộng đất ở xã Bảo Lộc Sơn còn hầu hết ngời dân là nông dân làm thuê.
+ Kinh tế thơng nghiệp: Căn cứ vào bài văn khắc trên bia cây hơng đá
năm 1716 tại chùa Thú, nhân dân xã Mục Sơn (nay là xã Việt Lập) lại đứng
lên quyên góp tiền xây dựng lại chùa và đúc chuông kỷ niệm. Qua nội dung
phải có cái để trả, ngời còn sức lao động phải gánh vác việc xã hội, đi phu, đi
lính cho bọn quan Tây, làm bia đỡ đạn cho chúng khi đi chống cớp. Nếu
không có giặc thì những ngời làm lính phải vác súng đi bắt khách nhựa ở hai
đờng mòn của hai dãy núi vòng cung xung quanh huyện và sục sạo vào các
làng bắt rợu lậu Việc bắt rợu lậu ở trong vùng không phải để tiết kiệm lơng
thực, để chống đói mà để cớp đoạt. Rợu Phong Ten nếu không bán đợc, chúng
giao cho Lý trởng và giao cho dân phải mua rồi thu vào cùng thuế. Ban đầu
thuế 1đ20, sau lên 2đ50. Nếu hộ nào thiếu chúng ghép vào tội thiếu thuế là tội
hình sự phải phạt nặng, kể cả thu tài sản.
Trên cơ sở tổ chức hành chính ở xã nh trên, thực dân Pháp đã nắm xuống
tận cơ sở, chúng lợi dụng tình hình rối ren cho lính, i phu đốc thu thuế đinh,
thuế điền và bắt lính. Ngoài ra còn tổ chức bắt rợu lậu và bắt gỗ lậu hay đốt
phá rừng. Trong việc tham gia vào tổ chức hàng xã, bất cứ ai (nhng phải giàu,
20
phú nông) đều phải có lễ (tiền) lo lót trớc theo mức khoán đinh của quan phủ
hoặc sự gợi ý của Chánh - Phó tổng, Lý trởng... ở vùng này gọi cách đó là
bán gia tài mua danh phẩm... Không những thế, năm 1940 Phát xít Nhật kéo
quân vào nớc ta, nhân dân bị một cổ hai tròng, cùng với nạn cớp bóc, nhân
dân phải phá lúa trng đay, trồng thầu dầu phục vụ chiến tranh. Ngoài nghĩa
vụ thuế, chúng còn bắt nhân dân ta bán thóc theo đầu tạ cho chúng. Lợi dụng
tình trạng thóc gạo khan hiếm bọn ngời giàu đua nhau đầu cơ trục lợi. Ngời
dân lao động ngày càng cơ cực do bị bóc lột đến tận xơng tủy.
Hiện nay, ở Việt Lập đời sống kinh tế của ngời dân chủ yếu là làm nông
nghiệp (chiếm trên 98%) làm ruộng lúa nớc hai vụ/năm, năng xuất lúa đạt
250kg đến 300kg/sào [30, tr.14]. Đời sống kinh tế của ngời dân nơi đây còn
gặp nhiều khó khăn. Ngoài ra, trong lúc nông nhàn, một bộ phận ngời dân đi
làm thuê với các nghề khác nhau nh thợ nề, thợ mộc... để cải thiện cho cuộc
sống của gia đình. Bên cạnh đó, có một số hộ gia đình (khoảng trên 20 hộ) do
phụ quốc, Thượng tướng quân, Bắc quân đô đốc phủ, Tả đô đốc trấn thủ Cai
Kỳ kiêm Thị nội thư tả chi hộ phiên, Thái bảo trí sĩ.
Giáp Trinh Phúc: Tiền phong ấm vũ tướng quân đô đốc, phủ đặc tứ
phong tặng thần vũ tứ vệ quân vụ sử đề đốc, sơn lĩnh hầu.
Giáp Phúc Thành: Tiền phong tặng Anh liệt tướng quân, Đô chỉ huy sứ,
Tứ chỉ huy sứ thiên sự, Bảo lĩnh hầu.
Giáp Trung Liêm: Lê triều hoằng tín đại phu, Tự trung quân Văn Hàn.
Ở chùa Thú ghi những tên người công đức vào chùa (bia viết năm
1749), trong đó có các vị quan như:
+ Giáp Đình Trân: Huyện Thừa.
+ Giáp Công Khâm: Hoằng tín đại phu.
+ Giáp Danh Linh: Hiển cung đại phu.
+ Giáp Danh Vương: Hiển cung đại phu.
22
cõy hng ỡnh Võn Cu (Song Võn) trong s nhng ngi cụng c
cú ụng Giỏp Th - tri huyn.
Ngy nay, Vit Lp hi Khuyn hc cng ó c thnh lp nhm
ng viờn, khớch l th h tr k tha truyn thng cha ụng, tip tc phn u
hc tp v tr li quờ hng a kin thc ó hc, trng cựng a phng,
lm rng danh quờ hng, t nc.
* Phong tc tp quỏn
+ Lệ làng xa: vựng Vit Lp cng nh bao lng quờ c truyn khỏc
u cú nhng tc l c c cng ng quy c v lp ra mi ngi cựng
nhau thc hin. Di õy l mt s tc l c c ngi dõn trong cỏc lng
Vit Lp duy trỡ trc cỏch mng thỏng Tỏm nm 1945:
Lệ vào Đinh: Khi con trai 10 tui đều phải làm lễ nhập đinh để vào
làng, họ có nghĩa vụ phải gánh vác việc làng. Những gia đình có trai đinh vào
làng phải sắm sửa một con lợn thịt gánh ra đình trình và khao làng. Khi đó, họ
phía gia đình.
Hin nay, lng Ni v lng Lý ó xõy dng quy ớc về việc xây dựng
nếp sống mới trong việc cới v vic tang. Di õy l nhng quy nh v vic
ci hai lng:
1/Nam, N kt hụn phi theo ỳng lut hụn nhõn v gia ỡnh.
2/Khi ng ký kt hụn phi n UBND xó ng ký hoc xin giy
gii thiu ng ký kt hụn ni khỏc u phi thc hin y cỏc quy nh
do B T phỏp quy nh v hng dn.
3/Gia ỡnh cú cụ dõu, chỳ r phi lm n theo mu v lm giy cam
oan khụng vi phm (np sng vn húa). Np tin t cc l 200.000 vn.
4/Ch t chc hụn l khi UBND xó ó cp giy ng ký kt hụn, t
chc tic mn khụng quỏ 1 ngy, mi mõm c khụng quỏ 1 lớt ru, nghiờm
cm tip thờm v khụng c mi thuc lỏ.
5/Nghiờm cm to hụn, cng hụn, nhng trũ mờ tớn trong ỏm ci.
6/Trong phũng ci trang trớ lch s, khụng phụ chng hỡnh thc.
24
7/Trang phục của cô dâu, chú rể đẹp, giản dị, phù hợp với phong tục
của địa phương.
8/Không mở băng đĩa nhạc quá 22h đêm và trước 5h sáng hôm sau,
không mở các băng hình có nội dung kích động giới trẻ.
9/Khi tổ chức xong việc cưới, cần phải có xác nhận của trưởng thôn là
gia đình đã chấp hành tốt quy định đặt ra của làng và sẽ nhận lại 200.000 vnđ
tiền cước trước khi cưới.
10/Gia đình tổ chức cưới hỏi cần phải thông báo cho ban tổ chức cưới
nếp sống văn hóa về thời gian trước 1 ngày để ban tổ chức bố trí và sắp xếp
thời gian đến dự và trao giấy kết hôn.
+ Tục Lễ giải: Tục này diễn ra khá phổ biến ở nhiều làng xã Tân Yên
trước năm 1945, trong đó có ở các làng của xã Việt Lập, nhưng nó chỉ áp dụng
lễ tế chuyển Cữu đợc tổ chức vào 12h đêm ngày hôm trớc (24 giờ theo giờ Tây)
vào chính giờ chuyển giao ngày cũ và ngày mới. Đội tế đọc bài tế chuyển cữu
cùng kinh niệm Phật và cử ngời vào chuyển Cữu, theo quy định khi chuyển Cữu
nếu ngời chết là nam giới thì phải quay 7 vòng quanh nhà còn nữ giới thì quay 9
vòng, xong tế các cụ bà ra đọc kinh niệm Phật. Lễ tế thứ t: gọi là lễ Thăng D tức
là lễ đa lên kiệu đòn khiêng, để đa linh cữu ra nơi an nghỉ cuối cùng. Lễ tế thứ
năm: gọi là lễ Tam Kỳ lộ khi đến các ngã ba đờng chủ tế ra hiệu cho đoàn đa ma
dừng lại và tiến hành cúng lễ. Mục đích của việc tế là để cho linh hồn siêu thoát
và nhớ đờng về t gia. Lễ tế thứ sáu: gọi là tế Hạ huyệt tức là lễ chôn cất ngời quá
cố, đợc tiến hành từ khi hạ quan tài xuống huyệt cho tới khi đắp đợc mồ yên mả
đẹp.
Xa kia việc tang ma ở Việt Lập diễn ra theo nhiều trình tự khá phức tạp
và tốn kém. hiện nay những nghi thức đó không còn đợc duy trì và thay vào đó
là việc tổ chức lễ tang ma tiết kiệm, đơn giản và gọn nhẹ theo ỳng ni dung
tinh thn ca quy c mi ca cỏc lng. Di õy l ni dung quy c v vic
tang ca lng Ni v lng Lý xó Vit Lp:
1/Gia ỡnh cú ngi qua i phi bỏo cho trng thụn bit rừ lý do cht,
ngy gi v h tờn ngi cht, ng thi Ban T phỏp xó lm th tc khai t
v khụng ngi quỏ c trong nh quỏ 36h.