Đình bảng môn - Giá trị văn hóa nghệ thuật - Pdf 27

Đình Bảng Môn-giá trị văn hoá nghệ thuật
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Đình làng Việt Nam có xuất xứ thế kỷ XV-XVI, từ một khái niệm ban đầu
nh Đình, trạm rồi trở thành một kiến trúc có tính Biểu tợng tinh thần cho một
cộng đồng làng xã. Mặc dù có yếu tố văn hoá Trung Hoa trong cách diễn dịch mô-
típ, nhng Đình làng Việt, vừa là nơi thực hiện các quyền uy thế tục lại vừa là nơi
thực hiện các hình thức tín ngỡng. Đợc phát triển, nở rộ chủ yếu vào thế kỷ XVII
đến giữa thế kỷ XX, đình làng còn là một đặc trng của kiến trúc gỗ truyền thống
Việt Nam. Nhiều đình làng nh Tây Đằng, Chu Quyến (Hà Tây), Thổ Hà (Bắc
Giang), Yên Sở (Hà Nội) là những biểu t ợng văn hoá độc đáo của ngời Việt.
Đình làng Thanh Hoá chiếm một số lợng tơng đối lớn trong các thể loại kiến
trúc gỗ truyền thống ở Thanh Hoá còn lại đến ngày nay. Phần lớn có niên đại xác
định tập trung vào thời kỳ Nhà Nguyễn. Do có lịch sử hình thành muộn hơn các
đình làng phía Bắc (so với Tây Đằng, Chu Quyến, Phù Lu, Đình Bảng...), nên cha
thấy một thức kiến trúc có tính hoàn chỉnh nghiêm chặt, với một không gian nội
thất, gian giữa có gác ban thờ Thành hoàng đầy đủ trong đồ án kiến trúc; vắng bóng
các đề tài sinh hoạt dân gian biểu hiện bằng chạm khắc trên các cấu kiện kiến trúc.
Tuy nhiên, một điều dễ nhận ra nét đặc trng của đình làng xứ Thanh là không gian
kiến trúc khá rộng lớn, thể hiện u thế của vùng đất cha phải bị sức ép về mật độ dân
số nh phía Bắc. Hơn nữa yếu tố văn hoá Nho giáo đợc biểu hiện rõ nét trong tất cả
sự bài trí và chạm khắc. Ngời ta nhận thấy các họa tiết trang trí mang tính nhất
quán là "tứ linh, tứ quý" hoặc sự biến điệu của linh vật, linh điểu, hoa lá tự nhiên.
Về mặt mật độ phân bố đình làng hiện còn, thì Hoằng Hoá, Hà Trung, Yên Định là
những địa phơng có số lợng đình nhiều hơn cả. Hầu hết các công trình này đều đợc
khởi dựng, trùng tu lớn vào những năm các vua Nguyễn trị vì. Mặt khác, những
công trình mang giá trị tiêu biểu của kiến trúc đình làng xứ Thanh, nh tính hoành
tráng về không gian, tính chắc chắn về cấu trúc, tính dản dị và bình dân về nội thất,
tính nghiêm chặt về khắc họa trang trí theo tinh thần Nho giáo đều tập trung ở các
địa phơng trên.
Là một làng cổ ven bờ sông Mã với nhiều ngã giao thông, từ đò ngang (bến
Trầm và bến Từ Quang) nối các khu chợ phía Nam bên tả ngạn sông Mã là chợ

cúc, sen, trúc phong cách tinh tế, hình nét cầu kỳ, hoa mỹ); lớp thế kỷ thứ XIX-
XX (tại nhà tiền đờng có nội dung tứ linh, tứ quý nhng mang phong cách khoẻ
khoắn, mạnh mẽ, sung mãn, khối tạc có diện tích lớn).
Đặt trong bối cảnh đơng thời, đình Bảng Môn đợc xem là trung tâm biểu
hiện đạo học của làng. Chính tại đình làng, mỗi khi có tân khoa Trạng đỗ đạt thì
việc đón rớc trở thành một lễ hội suy tôn Nho học đặc biệt, họ làm lễ tại đình trớc
khi yết bái ông cha. Nh vậy ngôi đình Bảng sớm có bóng dáng một trờng làng cổ xa
của Việt Nam. ở Kinh Đô có Quốc tử giám; ở tỉnh có Trờng thi. Đây là một điểm
rất đặc biệt ở đình Bảng Môn. Khái niệm đình làng giờ hoà nhập, lỡng hợp với khái
niệm đền thờ, khái niệm trờng làng
Với không gian văn hoá hữu hình và vô hình nh trên thì các vấn đề kiến trúc,
điêu khắc, sinh hoạt văn hoá ở đình Bảng Môn có giá trị hết sức độc đáo cần đợc
nghiên cứu cụ thể trong luận văn. Đặt vấn đề nghiên cứu: Đình Bảng Môn- giá
trị văn hoá nghệ thuật nhằm tìm hiểu các giá trị văn hoá- nghệ thuật trong kiến
trúc, trong chạm khắc gắn liền với không gian tín ngỡng của ngời xa. Đề tài đợc
nghiên cứu, khai thác toàn diện các giá trị văn hoá nghệ thuật (bao gồm kiến trúc,
chạm khắc, sinh hoạt văn hoá) ở đình Bảng Môn chắc chắn sẽ góp phần quan trọng
cho sự nghiệp bảo tồn và phát huy di tích lịch sử văn hoá của tỉnh Thanh Hoá và
công tác chuyên môn của chính tác giả.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài:
Từ lâu việc nghiên cứu về đình làng luôn thu hút sự quan tâm của các học giả
nghiên cứu về văn hoá cả trong và ngoài nớc một cách đặc biệt.
Những ngời đầu tiên quan tâm đến các công trình nghệ thuật kiến trúc đình
làng là các học giả thực dân ở trờng Viễn đông bác cổ (E.F.E.O), nhng do hạn chế
về lịch sử (cha có khoa học liên ngành) nên các công trình, bài viết mới chỉ dừng lại
ở việc khảo tả kiến trúc, nghệ thuật một cách sơ sài, nặng tính khảo cứu, cha xem
đình làng nh một sản phẩm văn hoá tích hợp đa yếu tố (lịch sử, kinh tế, xã hội, tâm
linh, tín ngỡng, mỹ thuật, kiến trúc ). Tại Thanh Hoá, những nghiên cứu của các
học giả phơng Tây về hệ thống đình làng hầu nh cha đợc chú ý đến, ngoài những
công trình nghiên cứu của L. Bazacies, M.Bernanose với việc mô tả kiến trúc ở

đề cập một phần đến hệ thống loại hình này ở khu vực Thanh Hoá nhng cha đầy đủ
và chi tiết.
Các di tích nghệ thuật kiến trúc đình làng đợc giới thiệu trong cuốn Thanh
Hoá- di tích và danh thắng của Ban quản lý di tích và danh thắng Thanh Hoá từ tập
1-7 hầu nh nghiêng về giới thiệu địa danh và lễ hội phục vụ du lịch nhiều hơn là
nghiên cứu sâu về mặt văn hoá, kiến trúc, nghệ thuật của di tích. Ngoài ra còn có
địa chí văn hoá tỉnh Thanh Hoá và địa chí huyện Hoằng Hoá nhng chỉ tập trung
giới thiệu lịch sử- văn hoá địa phơng; cha có mục riêng bàn về các di tích nghệ
thuật kiến trúc đình làng.
Nghiên cứu về đình Bảng Môn ở làng Hoằng Bột, xã Hoằng Lộc, huyện
Hoằng Hoá, Thanh Hoá, đáng kể nhất là bài nghiên cứu của Tiến sĩ Hoàng Thanh
Hải [171-177] (Thanh Hoá- di tích và danh thắng tập 2) về nghệ thuật kiến trúc của
đình Bảng Môn nhng cũng mới dựng lại ở phơng diện giới thiệu, khảo tả về kiến
trúc, lịch sử đình, cha đánh giá hết các mặt giá trị đặc sắc về kiến trúc, điêu khắc, lễ
hội, sinh hoạt văn hoá một cách có hệ thống, làm căn cứ xác định đầy đủ toàn bộ
giá trị văn hoá nghệ thuật của đình Bảng Môn.
Trong cuốn Nghệ thuật kiến trúc- chạm khắc gỗ truyền thống Thanh Hoá
(2008) của tác giả Lê Văn Tạo- Hà Đình Hùng, đình Bảng Môn cũng đợc xem xét,
đánh giá dới góc độ kiến trúc nghệ thuật, cha đi sâu vào tìm hiểu lễ hội và sinh hoạt
văn hoá.
Bài nghiên cứu Đình Bảng Môn- một giá trị nghệ thuật kiến trúc, điêu
khắc của tác giả đăng trên Tạp chí thông tin khoa học số 5 của trờng Cao đẳng
Văn hoá nghệ thuật Thanh Hoá (tài liệu lu hành nội bộ) cũng chỉ tập trung giới
thiệu di tích, di vật, kiến trúc, điêu khắc một cách khái lợc.
Trong cuốn Diễn biến kiến trúc truyền thống Việt, vùng châu thổ sông
Hồng (2008) PGS.TS Trần Lâm Biền cũng dành một số quan điểm khẳng định giá
trị kiến trúc của đình Bảng Môn, xem nh một kiến trúc đình làng hình chữ Đinh
xuất hiện hậu cung sớm nhất Việt Nam [TK XVII] (!?).
Ngoài ra, trong lý lịch di tích và hồ sơ xếp hạng di tích đình Bảng Môn (hiện
lu giữ tại Bảo tàng và Ban quản lý di tích và danh thắng Thanh Hoá) chỉ mới dừng

-Nghiên cứu các lớp văn hoá thể hiện qua kiến trúc của hai phần Hậu cung
và nhà Tiền đờng hiện còn ở đình Bảng Môn, xác định niên đại từ thế kỷ XVII-XX.
Tìm kiếm dấu vết kiến trúc và di vật kiến trúc của giai đoạn TK XV-XVI còn sót
lại (đối chiếu với t liệu lịch sử ngôi đình).
-Nghiên cứu về nghi thức thờ cúng, nghi lễ, lễ hội, sinh hoạt văn hoá trong
quá khứ và sự tiếp diễn hiện nay ở đình Bảng Môn.
4. Ph ơng pháp nghiên cứu:
-Vận dụng phơng pháp chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để
nghiên cứu quá trình hình thành và tồn tại của đình Bảng Môn.
-Vận dụng phơng pháp liên ngành tổng hợp về lịch sử, kiến trúc, mỹ thuật,
văn hoá học, dân tộc học để nghiên cứu các lớp văn hoá, các giá trị kiến trúc-
chạm khắc, tín ngỡng, lễ hội ở đình Bảng Môn.
-Vận dụng phơng pháp phân tích văn bản (bia ký, văn tự cổ, t liệu về đình
Bảng Môn) nhằm làm đa dạng và phong phú các giá trị văn hoá- nghệ thuật của
đình Bảng Môn.
- Vận dụng phơng pháp khảo sát thực địa, điền dã, ghi chép, phân tích, so
sánh, miêu tả nhằm tăng thêm giá trị chân thực lịch sử trong luận văn.
5. Đóng góp của luận văn:
-Đa ra đợc cái nhìn tổng thể, đầy đủ về các mặt giá trị văn hoá- nghệ thuật
của đình Bảng Môn (chủ yếu giá trị kiến trúc, điêu khắc, lễ hội) làm cơ sở luận
chứng góp phần khẳng định tính đặc sắc về văn hoá và nghệ thuật của một công
trình kiến trúc đình làng độc đáo tại Thanh Hoá.
-Trên cơ sở giá trị đặc biệt, quý hiếm nhằm đề xuất các giải pháp khả thi
nhất phục vụ công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá nghệ thuật của di tích
trong hoạt động phát triển kinh tế-văn hoá- xã hội của huyện Hoằng Hoá và tỉnh
Thanh Hoá.
6. Bố cục của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn đợc
chia thành 3 chơng.
Chơng 1: Làng Hoằng Bột và đình Bảng Môn

còn có tên gọi là Trang . Bia Đ ờng Bột kiều bi do tiến sĩ Nguyễn Nhân Thiệm
soạn và dựng năm 1591, có nhắc đến địa danh Đà Bột : Hai làng Bột Th ợng,
Bột Thái vốn xa là xã Đà Bột, thói thuần, tục tốt, ngời giỏi, đất thiêng.
Đến thế kỷ thứ XV, Hoằng Lộc có tên gọi là Đà Bột gồm hai làng Bột Thợng
và Bột Hạ. Mỹ Cụ trang cũng đổi thành Mỹ Đà nay là xã Hoằng Minh. Đến cuối
thế kỷ XV, làng Bột Hạ đổi thành Bột Thái (1)- văn khắc Hán Nôm Việt Nam, Nxb
KHXH, 1993, trang 1034 chú (Lỡng Bột) là hai làng Bột Thợng và Bột Hạ). Tuy
chia thành hai xã với bộ máy quản lý làng xã cho phù hợp với bộ máy tổ chức chính
quyền thời bấy giờ, nhng hai làng vẫn cùng chung các hoạt động văn hoá xã hội nh
cùng thờ chung thành hoàng và các lệ làng đã đợc quy định từ trớc khi chia tách
vẫn đợc coi là mẫu quy định chung trong đời sống hằng ngày của cộng đồng dân c
Hoằng Lộc.
Là vùng đất thuộc vùng hạ lu sông Mã, giao thông thuỷ bộ thuận tiện, đất
Hoằng Lộc là nơi quy tụ nhiều dòng họ đến sinh cơ lập nghiệp, nếu vào đầu thế kỷ
X mới có các dòng họ là Lê, Bùi, Nguyễn...đến nay số dòng họ đã lên tới 72, gồm
nhiều vùng khác nhau về đây sinh sống nh: Hậu duệ tớng Nguyễn Thuyên đời Trần
Nhân Tông (1278-1293) từ Bắc vào; họ Ngô từ Hng Yên; họ Trịnh từ Vĩnh Lộc, họ
Hoàng từ Nghệ An, họ Đinh từ Ninh Bình...
Thời Nguyễn Hoằng Lộc gồm hai làng Bột Thợng và Bột Thái thuộc tổng
Hành Vĩ. Đến năm 1831, hai xã này hợp làm một có tên là xã Hoằng Đạo. Sau một
thời gian Hoằng Đạo lại đổi thành Hoằng Nghĩa và Bột Hng và tên này tồn tại đến
trớc Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, Hoằng Nghĩa và Bột Hng sáp nhập với
các xã Thiệu Hoà, Đoan Vĩ, Bình Hng thành xã Hng Thịnh. Tháng Giêng năm
1946, Hoằng Nghĩa và Bột Hng đợc tách riêng thành xã Hoằng Bột. Đến tháng 4
năm 1947, Hoằng Bột sáp nhập với các xã Bái Trung, Đại Bái thành xã Hoằng Lộc.
Cuối năm 1953 Hoằng Lộc lại chia thành 4 xã là Hoằng Lộc, Hoằng Đại, Hoằng
Thành, Hoằng Trạch. Hoằng Lộc trở về vị trí của Hoằng Bột- Bột Thợng- Bột Thái
xa và tên đó tồn tại đến nay. Hiện nay, Hoằng Lộc bao gồm 12 thôn, xóm.
Trải qua hàng ngàn năm lịch sử từ Kẻ Vụt đến Hoằng Lộc, ngời dân nơi đây

Có những ngời nh: chiếc dép Tử Phòng còn truyền lại dây thao Long hổ;
đề cột Tơng Nh mà làm nên chí lớn xe ngựa.
Vậy thì công đức của các vị làm nên cầu này không thể kể ra đây hết đợc.
Bởi vậy phải khắc vào bia đá để truyền lại cho mai sau.
Minh rằng:
Phía Tây Bột Thợng
Có đờng khang trang
Trên từ miếu thần
Xuống đến đại giang
Vốn xa cầu cũ
Bằng đá lát sang
Xe nhiều ngọc quý
Nớc chảy bèo tan
Tháng bảy, tháng tám
Rò rỉ tràn lan
Nớc vũng lầy lội
Ngời đi gian nan
Các cụ Nguyễn làng
Vì dân quyên góp
Tìm ngời chọn gỗ
Khởi công dựng làm
Rồng đâu cha mây
Cầu đâu cha ma
Bên cầu trăng soi
Ngoài hiên đón gió
Ngời đi qua lại
Nh trên đờng bằng
Qua lại bến đó
Nghỉ ngơi chuyện trò
Công này đức này

(Hoằng Quang- Hoằng Hoá- cách Hoằng Lộc khoảng 8km ngày nay) nh một cây
bút chấm vào nghiên mực. Cách lý giải đó là một sự nhìn nhận, đánh giá một cách
khiêm tốn nhng đậm chất phong thuỷ và không thể không chứa đựng niềm tự hào
của các thế hệ đã từng đỗ đạt khi nói về sự thành đạt học hành của quê hơng. Thực
tế hình thế ban đầu của các làng quê vùng đồng bằng sông Mã có không ít làng có
hình thể nh Hoằng Lộc. Nhng không phải làng nào ngoài nghề nông là cơ bản cũng
có nhiều ngời làm nhiều nghề thủ công và có chợ Quăng-một trung tâm buôn bán
nổi tiếng ở Hoằng Lộc. Phải chăng sự hoạt động sôi nổi trên lĩnh vực ngành nghề
và sự giao lu qua buôn bán đã đem đến cho các thế hệ ngời Hoằng Lộc có cái nhìn
khác về xu thế phát triển của xã hội và sự d dật về kinh tế hơn các làng thuần nông
khác cùng với tâm niệm hằn sâu trong tâm khảm ngời dân dới chế độ phong kiến
nhất sĩ, nhì nông mà đạo học ở đây có điều kiện phát triển mạnh mẽ. Câu ca
sau đã phần nào đã góp phần khẳng định điều đó:
Ai về Hoằng Lộc mà coi
Chợ Quăng một tháng bốn hai phiên đều
Trai mỹ miều bút nghiên đèn sách
Gái thanh tân chợ búa cửi canh
Trai thời chiếm bảng đề danh
Gái thời dệt vải vừa lanh (nhanh) vừa tài
(1)- Hoàng Anh Nhân: Khảo sát làng văn hoá xứ Thanh, trang 208.
So với nhiều làng quê khác trong huyện Hoằng Hoá, ngời có học vị cao nhất
là Tiến sĩ của Hoằng Lộc đến năm Tân Sửu, Hồng Đức thứ 12 (1481) đời vua Lê
Thánh Tông, mới có ông Nguyễn Nhân Lễ (1): trong khoa thi này Thanh Hoá có 4
ngời đỗ là: Lu Hng Hiếu, ngời huyện Vĩnh Lộc đỗ Bảng nhãn; Lu Ngạn Quang, ng-
ời xã Đông Anh, Đông Sơn đỗ Hoằng Giáp; Lê Huy Hàn, ngời xã Hoằng Thanh và
Nguyễn Nhân Lễ ngời xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hoá đỗ Tiến sĩ.
Nguyễn Nhân Lễ là Tiến sĩ khai khoa mở đầu cho một thời kỳ nở rộ các
Ông nghè Hoằng Lộc xuất hiện trên con đờng khoa bảng trong thời kỳ phong
kiến.
Làng khoa bảng Hoằng Lộc

lu lại chút ít biểu hiện của nghệ thuật kiến trúc Mạc muộn tại Thanh Hoá.
Đình Bảng Môn thuộc thôn Đình Bảng xã Hoằng Lộc- một xã nằm về phía
Nam huyện Hoằng Hóa, xa kia nó còn có tên gọi là làng Bột Thái, một vùng đất có
tiếng là hiếu học của tỉnh Thanh.
Đình Bảng Môn nằm trong quần thể di tích tơng đối phong phú của xã
Hoằng Lộc bao gồm Văn Chỉ xã Hoằng Lộc, chùa Thiên Nhiên, nhà thờ bảng nhãn
Bùi Khắc Nhất, nhà thờ Nguyễn Quỳnh Tuy nhiên, từ lâu đình Bảng Môn luôn đ -
ợc xem là niềm tự hào của ngời dân bởi nơi đây là biểu tợng trờng tồn để tôn vinh
nền học vấn, một niềm tự hào có khi hơn cả ớc vọng về sự giàu sang.
1.2. Thành hoàng làng và các vị phối thờ
Tìm hiểu về các vị thần của đình Bảng Môn là một vấn đề đặc biệt, trong đó,
có những con ngời nửa huyền thoại, nửa thiêng hoá, lại có những con ngời có tiểu
sử rõ ràng, những con ngời có thật bằng tấm gơng đạo đức và sự hiểu biết trở
Thành hoàng của làng là Nguyễn Tuyên, xung quanh nhân vật này đến nay
vẫn cha có sự khẳng định rõ ràng về tiểu sự. Tuy nhiên, theo thần phả của làng thì
thành hoàng Nguyễn Tuyên sinh ngày 10 tháng 3 năm Đinh Sửu (1017) là con trai
độc nhất của ông Nguyễn Công Thanh và bà Lê Thị Hạnh, một nhà nho nghèo ở
trang Bột Đà, huyện Cổ Đằng, phủ Hà Trung, xứ Thanh Hoa nay là xã Hoằng Lộc,
huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá.
Ông mới lúc sinh ra dung nhan tuấn tú, khôi ngô, cốt cách thần tớng. Năm
17 tuổi, đức độ khoan dung, chí dũng phi thờng, văn võ song toàn, khắp vùng ai
cũng ca ngợi nhà có phúc sinh quý tử . Năm 21 tuổi, niên hiệu Càn Phù, triều Lý
Thái Tông, phía Nam đất nớc ta bị giặc Chiêm Thành lấn chiếm bờ cõi. Thế giặc rất
mạnh, nhà vua phải thân chinh đi dẹp giặc và có thái tử đi cùng. Đại quân qua trang
Bột Đà thấy địa thế quảng mạc, thuỷ bộ đều thuận lợi, nhà vua bèn hạ lệnh dừng
quân. Đại bản danh đóng tại chợ Thiên Quan, nơi Thái Tử nghỉ lại tục gọi là Cồn
Đông Cung. Đêm hôm ấy Nhà vua nằm mộng thấy ánh hào quang toả sáng và có
thần linh hiển linh tại 3 nơi thuộc bản trang. Sáng hôm sau Đức vua phán rằng nơi
đây đất thiêng ắt có ngời tài (Địa linh nhân kiệt) bèn lập đàn lễ cầu, ra lời hiệu
triệu và mở cuộc thi tài. Nguyễn Tuyên đợc đến bái yết Nhà vua. Vua uý lạo và hỏi

Khoác chiếc áo hiển linh nh nhân vật huyền thoại thuộc Tứ Bất Tử trong tín
ngỡng truyền thống Việt Nam (thánh Gióng), ngời dân Bột Thái tin tởng vào sự
linh ứng của Ngài.
Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, vào thế kỷ XV khi Nho học chiếm u
thế, sự học của Nho sinh ở làng Bột Thái đã làm hiển danh đất Trạng, ngôi đền đợc
chuyển tên và bao chứa các giá trị mới của Nho giáo: đình Bảng Môn.
Từ một truyền thuyết lịch sử (vị đại tớng quân Nguyễn Tuyên), pha trộn với
tín ngỡng dân gian từ xa xa (Gò Mối và vị Thần Hoàng làng), một làng cổ ven bờ
sông Mã với nhiều ngã giao thông, đò ngang, đò dọc, ngợc xuôi buôn bán, thông
thơng thịnh đạt, học vấn mở mang. Lại gặp cảnh tôn Nho ức Phật triều Lê, lẽ dĩ
nhiên phải có một cơ sở thích hợp để đề cao những ngời mở mang việc học là điều
cần thiết. Chính vì vậy, các vị đại khoa của làng (có 12 vị) đợc phối thờ trang trọng
trong đình. Nội hàm tín ngỡng
Về sau này, sự học của làng ngày đợc mở mang, trở thành tiếng thơm, niềm
tự hào của Bột Thái mà đình làng từ chỗ là chốn thờ cúng thành hoàng đến việc tôn
vinh học vấn. Các đại khoa, ông nghè, ông cống đỗ đạt, vừa đợc hiển danh, vừa
bớc vào kiến trúc tâm linh để trở thành những vị thần bảo trợ cho đạo học. Có 12
vị đại khoa của Hoằng Lộc và Bảng Môn đợc trân trọng thờ trong đình:
-Ngời đầu tiên là Tiến sĩ khai khoa của Hoằng Lộc, Nguyễn Nhân Lễ (1461-
1522). Đỗ Tiến sĩ khoa thi năm Tân Sửu, Hồng Đức thứ 12 (1481) khi mới 21 tuổi.
Làm quan hơn 40 năm, trải 7 triều vua từ Lê Thánh Tống đến Lê Cung Hoàng và
từng đợc cử giữ các chức Tri huyện các huyện Kim Động, Thọ Xơng, Phú Bình.
Năm Thống Nguyên thứ nhất (1522) đời vua Lê Cung Hoàng, ông đợc thăng làm
Hiến sát sứ xứ Sơn Nam, ông mất năm 1522, thọ 62 tuổi.
-Nguyễn Thanh (1506-1545): đỗ tiến sĩ khoa thi năm Tân Sửu, Quang Hoà
thứ nhất (1541) triều Mạc Phúc Nguyên. Ông đợc nhà Mạc cử giữ chức Hàn Lâm
viện hiệu thảo, Giám sát Ngự sử đạo Lạng Sơn, Hiến sát phó sứ Thanh Hoa. Mất
năm 1545, thọ 40 tuổi, đợc truy tặng chức Thừa chính sứ, tớc Văn khê bá.
-Nguyễn S Lộ (1519-?): đỗ đệ nhất giáp Chế khoa, đệ tam danh (thám hoa)
khoa thi năm Giáp Dần, Thuận Bình thứ 6 (1554). Ông nổi tiếng là ngời học rộng,

Đông các Đại học sĩ, Hữu thị lang bộ Hộ, Bồi tụng, Tả thị lang bộ Công, Tham
tụng. Ông mất ngày 24-7-1743, thọ 59 tuổi, đợc gia phong Thợng th bộ Công, Thái
phó trụ quốc thợng trật, Thái quận công.
-Lê Huy Du (1757-1835): đỗ Tiến sĩ khoa thi năm Đinh Mùi, Chiêu Thống
thứ nhất (1787), đời vua Lê Mẫn đế. Sau khi thi đỗ ông đợc giữ chức Hộ khoa cấp
sự trung và liền theo đó theo Lê Chiêu Thống sang Trung Quốc. Khi Gia Long lập
ra nhà Nguyễn, ông nhận chức Đốc học các trấn Sơn- Hng-Tuyên, đốc học Quốc tử
giám. Năm 1812, giữ chức Đốc học phủ Hoài Đức. Năm 1822 về hu, mở trờng dạy
học ở quê nhà. Lê Huy Du mất tháng Giêng năm ất Mùi, thọ 79 tuổi.
-Nguyễn Thổ (1793-1843): Ông đỗ Tiến sĩ khoa thi năm ất Mùi, Minh Mạng
thứ 16 (1835). Ông từng hộ giá vua Thiệu Trị (1840-1847) trong dịp Bắc tuần và
giữ chức Hàn lâm viện biên tu, phúc khảo trờng thi Hơng ở Huế. Ông mất ngày 10
tháng 8 năm Quý Mão (1843), thọ 51 tuổi.
-Nguyễn Bá Nhạ (1822-1848): Hiệu là Long Châu, đỗ Hoàng giáp khoa thi
năm Quý Mão, Thiệu Trị thứ 3 (1843) khi mới 21 tuổi. Sau đó ông đợc bổ chức Tri
huyện Hàm Thuận. Ông mất năm Mậu Thân, Tự Đức thứ 2 (1848).
T mt truyn thuyt lch s (v i tng quõn Nguyn Tuyờn), pha trn vi tớn
ngng dõn gian t xa xa (Gũ Mi v v Thn Ho ng l ng), m t l ng c ven b sụng
Mó vi nhiu ngó giao thụng, t ũ ngang (bn Trm v b n T Quang) ni cỏc khu
ch phớa nam bờn t ngn sụng Mó l ch Mụi, ch Cũng, Ch Sim, ch v c
bit ni õy l k t im giao thng vi cỏc cỏc ch min tõy sụng Mó theo ũ dc
(ch u, ch Chuc, Ch Cu, ch Gi ng, ch Hu Hin ...). Ngi dõn l ng B t Thỏi
tr th nh th ng lỏi giỳp thụng thng h ng húa c a x Thanh vi cỏc tnh Bc b.
Vic phỏt trin thng mi v vi c m mang hc vn l ng B t Thỏi xem ra cú nhiu
tỏc ng qua li thun chiu, khỏc hn vi tinh thn c h Nho giỏo ng thi. Vic
buụn bỏn Bt Thỏi l vi c ca ngi nụng dõn kiờm vic nhõn lỳc nụng nh n, nh
li th cú giao thụng thy, b thun li, li c m mang c sỳy bi cỏc nho sinh
t, quan chc trong l ng m vựng t n y t rt sm ó tr th nh m t t im
thng mi (ch Quan hay ch Qung cú t th k XV)
Vi bi cnh vn húa - xó hi nh trờn, di tớch ỡnh Bng Mụn h m ch a rt

trọng, danh vọng nhất xứ Thanh bấy giờ, lại hơn Nguyễn Bá Nhạ trên 30 tuổi, nh-
ng Hà Duy Phiên vẫn không đợc làng cho ngồi chiếu cùng với Nguyễn Bá Nhạ
mà phải ngồi dới cùng với các cử nhân khác.
Tơng truyền trong buổi hội ngộ thú vị này, Hà Duy phiên ra câu đối:
ỡnh Bng Mụn nm trong qun th di tớch ca xó Hong Lc, huyn Ho ng Hoỏ,
bao gm: Vn ch xó Hong Lc, chựa Thiờn Nhiờn, nh th bng nhón Bựi Khc
Nht, nh th Nguyn Qunh T lõu ỡnh Bng Mụn luụn c xem l ni m t h o
ca ngi dõn bi õy l m t biu tng trng tn ca s tụn vinh hc vn, khoa
bng, t ca l ng. õy l m t l ng khoa b ng in hỡnh Vit Nam, theo cỏc t
liu vn t, kh c, gia ph, sc phong hin lu ti l ng, trong s hn sỏu trm v tin
s qua cỏc thi k, cú ti 12 v i khoa vinh danh t khoa thi nm Hng c th 12
(1481) n khoa thi cui cựng thi Nguyn (1919) v l ng cú t i 7 v tin s c ghi
tờn Vn bia Quc T Giỏm.
1.3. Đình Bảng Môn- lịch sử xây dựng
Về lịch sử hình thành ngôi đình, có hai vấn đề đáng quan tâm, thứ nhất là
huyền thoại dân gian, thứ hai là t liệu lịch sử.
Theo truyền thuyết, ngôi đình có từ thế kỷ XV, ban đầu là một kiến trúc giản
đơn đợc dựng lên trên địa điểm linh ứng của vị thành hoàng làng Nguyễn Tuyên (vị
trí dựng đình trớc đây là một gò mối ụ lên trên mặt đất), lúc này nó có một tên gọi
khác là miếu Tiền đ ờng. Có thể công trình chỉ là một đơn nguyên hình chữ nhất.
Kiến trúc này tơng đối khiêm tốn, quy mô nhỏ bé, ba gian, đơn sơ, mái đợc lợp
bằng lá. Nó đợc tồn tại song trùng với quá trình kinh tế ngày càng thịnh đạt, học
vấn ngày đợc mở mang của Bột Thái. Trong không khí khoa cử thịnh đạt của triều
Lê, các vị có học thức và tâm huyết với sự học của làng đã đề xuất mở rộng đình
Bảng Môn. Tình hình này dẫn đến việc cần có một kiến trúc vừa đảm bảo chức
năng tín ngỡng (thờ thành hoàng Nguyễn Tuyên) lại vừa đảm trách một yêu cầu thế
tục mới (chốn tôn vinh sự học và các vị đỗ đạt trong khoa cử của làng ngày một
nhiều) nên đình Bảng Môn đợc chú ý sửa chữa, tôn tạo lại, và cũng có thể trong giai
đoạn này, bố cục chữ Đinh mới đợc xuất hiện.
T liệu lịch sử cho thấy đình Bảng Môn đợc tu sửa lớn dới triều Lê. Vào năm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status