xác định giá trị công ty thương mại và sản xuất vật tư thiết bị giao thông vận tải bằng phương pháp giá trị tài sản thuần để phục vụ công tác cổ phần hoá - Pdf 13

Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
LỜI NÓI ĐẦU
Từ cuối những năm 80, làn sóng hợp nhất doanh nghiệp, mua bán
doanh nghiệp, chia tách cơ cấu lại doanh nghiệp phát triển rất mạnh trên thế
giới. Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường cũng là một hàng hoá, nó
cũng có giá trị sử dụng, giá trị và giá cả. Kinh tế thị trường càng phát triển, sự
cạnh tranh giữa các doanh nghiệp càng sâu sắc, đòi hỏi sự cơ cấu lại theo
hướng hợp nhất, mua bán…diễn ra thường xuyên đòi hỏi phải xác định giá trị
của doanh nghiệp làm cơ sở cho những hoạt động đó.
Tuy nhiên do đặc tính doanh nghiệp là một hàng hoá đặc biệt bao gồm
nhiều bộ phận cấu thành, cả những bộ phận hữu hình như tài sản vật tư, nhà
xưởng, cả những bộ phận vô hình như danh tiếng, mối quan hệ các khâu trong
doanh nghiệp, cũng như giữa doanh nghiệp với môi trường bên ngoài, năng
lực của lãnh đạo và nhân viên và tính đơn chiếc của doanh nghiệp nên việc
xác định giá trị doanh nghiệp là một việc phức tạp.
Việt Nam sau hơn 10 năm đổi mới theo hướng phát triển nền kinh tế
nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường có điều tiết của nhà nước,
thì sự chia tách, sáp nhập, liên doanh, liên kết giữa các doanh nghiệp nhằm
tăng sức mạnh trên thị trường diễn ra khá phổ biến. Trong khu vực kinh tế
quốc doanh, chủ trương của nhà nước là: đổi mới quản lý doanh nghiệp nhà
nước nhằm nâng cao hiệu quả các doanh nghiệp theo hướng chỉ giữ 100%
vốn nhà nước đối với những doanh nghiệp hoạt động trong những ngành kinh
tế quan trọng đem lại số thu lớn cho ngân sách nhà nước, đảm bảo cân đối lớn
cho nhà nước còn lại tiến hành chuyển hình thức kinh doanh, hình thức sở
hữu hoặc giải thể. Tất cả những sự kiện đó làm cho vấn đề xác định giá trị
doanh nghiệp càng trở nên cấp thiết. Tuy nhiên, việc xác định giá trị doanh
nghiệp ở nước ta hiện nay vẫn mang tính áp đặt vì chủ yếu việc xác định giá
trị doanh nghiệp hiện nay gắn với cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước nên
nếu không phải là nhà nước được lợi thì cũng là người lao động được hưởng.
1
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

DOANH NGHIỆP
I. DOANH NGHIỆP VÀ GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP.
1. Doanh nghiệp và các giá trị đặc trưng của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thành lập nhằm sản xuất
cung ứng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ trên thị trường với mục đích sinh lời.
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động của doanh nghiệp rất phong phú và đa
dạng nhưng nhìn chung các doanh nghiệp có những nét đặc trưng chủ yếu là :
- Doanh nghiệp là một tổ chức sản xuất ra sản phẩm hàng hoá dịch vụ
cho xã hội.
Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp là quá
trình kết hợp và biến đổi các yếu tố đầu vào tạo thành các yếu tố đầu ra là sản
phẩm đem lại giá trị mới. Chính sự tạo ra giá trị mới này đưa đến sự tăng
trưởng kinh tế, phồn thịnh xã hội và củng cố địa vị của doanh nghiệp .
- Doanh nghiệp là một đơn vị phân phối.
Trong quá trình hoạt động, khi tiêu thụ các sản phẩm đầu ra, doanh
nghiệp có một khoản thu nhập và trên cơ sở đó thực hiện việc phân phối cho
các tác nhân trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào quá trình như trả lương cho
người lao động, thanh toán cho người cung ứng, trả lãi vay, nộp thuế, chia cổ
tức…Như vậy, doanh nghiệp là khâu đầu của việc phân phối lần đầu và các
chính sách phân phối của doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng lớn đến rất nhiều đối
tượng.
- Doanh nghiệp là một tổ chức sống.
3
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Qúa trình hoạt động của doanh nghiệp là quá trình vận động không
ngừng để thực hiện các mục tiêu của nó. Nhiều nhà kinh tế cho rằng:”Doanh
nghiệp là 1 tổ chức sống giống như con người”. Điều đó đòi hỏi khi nhìn nhận
đánh giá một doanh nghiệp phải đặt nó trong trạng thái vận động.
Trong nền kinh tế thị trường, mỗi doanh nghiệp đều hoạt động nhằm
nhiều mục tiêu khác nhau. Các mục tiêu chung nhất của doanh nghiệp là:

người mua và cũng là căn cứ chủ yếu để người mua lượng định giá trị của
doanh nghiệp.
- Doanh nghiệp là một hàng hoá đơn chiếc:
Doanh nghiệp là tế bào của nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên mỗi doanh
nghiệp có đặc điểm riêng về cơ sở vật chất kỹ thuật, về điều kiện và vị thế
kinh doanh. Do vậy, mỗi doanh nghiệp đưa ra xác định giá trị là một hàng hoá
đơn chiếc, cá biệt, không giống nhau giữa các doanh nghiệp. Do đó, đòi hỏi
trong việc xác định giá trị doanh nghiệp cần xem xét thận trọng và lựa chọn
phương pháp phù hợp.
- Kết quả định giá doanh nghiệp không phải là giá cả của doanh
nghiệp .Cũng giống như các loại hàng hoá khác, giá trị thị trường của doanh
nghiệp chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế khách quan như quy luật giá
trị, quy luật cung cầu,…nên kết quả xác định giá trị doanh nghiệp chỉ là một
căn cứ cơ sở để xem xét thương lượng mà thôi.
2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp.
Từ khái niệm trên chúng ta thấy rằng, kết quả hoạt động của doanh
nghiệp trong tương lai sẽ quyết định giá trị doanh nghiệp. Kết quả hoạt động
của doanh nghiệp phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố bao gồm các nhân tố thuộc
về môi trường kinh doanh và các nhân tố thuộc nội tại doanh nghiệp. Vì vậy
5
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
để xác định giá trị doanh nghiệp trước hết chúng ta cần phải hiểu được các
nhân tố chủ yếu quan trọng và ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp.
Có nhiều nhân tố tác động, ảnh hưởng và làm thay đổi kết quả sản xuất
kinh doanh của các doanh nghiệp từ đó ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp.
Các nhân tố đó có thể là các nhân tố thuộc môi trường kinh doanh và cũng có
thể là các nhân tố thuộc nội tại doanh nghiệp.
Các nhân tố thuộc về môi trường kinh doanh tác động đến giá trị doanh
nghiệp là các nhân tố không thuộc phạm vi kiểm soát của chính doanh nghiệp
và chịu tác động bởi diễn biến kinh tế xã hội của quốc gia và những quy định,

qua các hệ thống, các văn bản pháp quy.
+ Quan điểm bảo vệ sản xuất, bảo vệ các nhà đầu tư, bảo vệ người tiêu
dùng.
+ Quan điểm khuyến khích đầu tư trong nước và nước ngoài.
+ Quan điểm phân biệt đối xử thể hiện qua luật thuế, luật cạnh tranh,
luật sở hữu trí tuệ.
+ Năng lực hành pháp của chính phủ và ý thức chấp hành pháp luật của
các công dân các tổ chức sản xuất.
+ Xu hướng quan điểm trong quan hệ ngoại giao và hợp tác kinh tế của
chính phủ với các quốc gia khác; quan điểm cá nhân của người đứng đầu
chính phủ cũng tác động tới quá trình sản xuất kinh doanh.
- Môi trường văn hoá xã hội
Mỗi doanh nghiệp tồn tại trong một môi trường văn hoá nhất định: Lối
sống, văn hoá, tác phong, quan niệm về chân thiện mỹ, quan niệm về nhân
cách; về văn minh xã hội thể hiện trong tập quán sinh hoạt và tiên dùng…
7
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Môi trường xã hội thể hiện ở môi trường số lượng cơ cấu dân cư, giới
tính độ tuổi, mật độ dân số, thu nhập bình quân đầu người.
- Môi trường kỹ thuật công nghệ.
Các sản phẩm sản xuất ra hàng ngày, ngày càng đa dạng và phong phú
đáp ứng nhu cầu ngày càng cao trong đời sống vật chất đời sống tinh thần con
người, hàm lượng tri thức có khuynh hướng gia tăng trong giá bán sản phẩm.
Trên giác độ doanh nghiệp đó không chỉ là cơ hội mà còn là thách thức đối
với sự tồn tại của doanh nghiệp, sự thiếu nhạy bén trong việc chiếm lĩnh
những thành tựu khoa học mới nhất có thể là nguyên nhân đưa doanh nghiệp
tới chỗ phá sản.
2.2.1.2.Môi trường kinh doanh đặc thù.
- Quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng: thị trường là yếu tố quyết
định đến đầu ra đối với sản phẩm của doanh nghiệp, thị trường đối với một

nghiệp đảm bảo làm sao không vượt quá những quy ước xã hội.Tức là thực
hiện đảm bảo đúng chính sách.Những doanh nghiệp có tiềm lực tài chính
vững chắc,kinh doanh bằng thực lực.Vì vậy khi thực hiện doanh nghiệp
chúng ta cần phải xem xét yếu tố này.
2.2.2.Các nhân tố thuộc nội tại doanh nghiệp.
2.2.2.1.Hiện trạng về tài sản trong doanh nghiệp.
Tài sản trong một doanh nghiệp bao gồm tài sản cố định và tài sản lưu
động.Tuỳ thuộc vào loại hình sản xuất hay kinh doanh mà cơ cấu tài sản trong
các doanh nghiệp khác nhau sẽ khác nhau.
Đối với các doanh nghiệp sản xuất, trình độ của trang thiết bị và công
nghệ sản xuất là một nhân tố quan trọng quyết định chất lượng, số lượng sản
phẩm sản xuất ra. Chính vì vậy, đối với các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực sản
9
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
xuất,khối lượng,trình độ trang thiết bị máy móc, thiết bị và dây chuyền công
nghệ là một trong yếu tố quan trọng quyết định kết quả SXKD.
Đối với các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực kinh doanh thương mại, dịch
vụ,quá trình SXKD luôn gắn liền với quá trình lưu thông phân phối hàng hoá,
dịch vụ thì TSCĐ chủ yếu là văn phòng cửa hàng phương tiện vận tải so với
các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, tỷ trọng TSCĐ trong
tổng số tài sản của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại,
dịch vụ không lớn hơn nhưng có vai trò quan trọng ảnh hưởng tới hiệu quả
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Thông thường, các công ty kinh doanh
có trụ sở,văn phòng khang trang bề thế luôn tạo được cảm giác yên tâm, tin
tưởng cho khách hàng, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc thoả thuận và đi
đến các hợp đồng kinh tế.
Như vậy, hiện trạng TSCĐ (bao gồm cả khối lượng và trình độ công
nghệ) có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp từ đó ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp. TSCĐ càng lớn,càng hiện
đại càng làm tăng giá trị của doanh nghiệp. Ngược lại TSCĐ càng lạc hậu,

Trong nền kinh tế thị trường vị trí ngành nghề kinh doanh có ảnh
hưởng quan trọng đến giá trị doanh nghiệp. Một ngành nghề kinh doanh có tỷ
suất lợi nhuận cao, ổn định và đang có xu hướng phát triển, mở rộng thì các
doanh nghiệp thuộc ngành nghề kinh doanh đó sẽ được quan tâm hơn và như
vậy, các doanh nghiệp đó sẽ có giá trị lớn hơn. Ngược lại, các doanh nghiệp ở
những ngành nghề kinh doanh đang có xu hướng co lại, tỷ suất lợi nhuận thấp
và rủi ro cao thì giá trị cũng bị giảm đi.
2.2.2.4. Vị trí địa lý.
Một doanh nghiệp có vị trí thuận tiện, gần các trung tâm kinh doanh
buôn bán, gần mặt đường lớn, thuận tiện trong vận chuyển thì kinh doanh có
rất nhiều thuận lợi trong việc quan hệ, giao dịch với khách hàng trong việc
nhanh nhạy với nhu cầu thị hiếu của khách hàng để điều chỉnh kế hoạch
11
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
SXKD của mình…Ngoài ra, một vị trí địa lý tốt sẽ tạo điều kiện cho doanh
nghiệp giảm được chi phí vận chuyển nguyên vật liệu cũng như chi phí vận
chuyển thành phẩm đi tiêu thụ, từ đó doanh nghiệp giảm giá vốn hàng hoá,
tăng tỷ suất lợi nhuận, tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Vị trí địa lý tốt sẽ là lợi thế của doanh nghiệp và chắc chắn sẽ được nhà
đầu tư đánh giá cao, từ đó làm tằng giá trị của doanh nghiệp .
2.2.2.5. Theo trình độ tay nghề của người lao động.
Trong các doanh nghiệp, trình độ tay nghề của người lao động càng cao
càng tạo điều kiện cho việc sản xuất ra các sản phẩm đạt chất lượng cao. Hơn
thế nữa, trình độ lành nghề của người lao động sẽ rạo ra năng suất lao dộng
cao, sản phẩm sản xuất ra nhiều với giá thành thấp do sử dụng tiết kiệm
nguyên nhiên vật liệu và giảm chi phí quản lý trên một đơn vị sản phẩm. Vì
vậy, người ta luôn cho rằng: Trình độ tay nghề của người lao động đang ảnh
hưởng tới thành phẩm SXKD và từ đó ảnh hưởng tới giá trị doanh nghiệp.
Một đội ngũ những người lao động lành nghề, làm việc với năng suất,
chất lượng và hiệu quả kinh tế cao không phải doanh nghiệp nào cũng có.

nghiệp càng cao. Tuy nhiên, khi nghiên cứu xem xét bảng cân đối kế toán,
cũng cần lưu ý là: giá trị trên bảng cân đối kế toán là giá trị lịch sử và chưa
phản ánh đầy đủ giá trị của các tài sản vô hình tiềm ẩn của doanh nghiệp.
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: là báo cáo tài chính tổng hợp
phản ánh tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong
một kỳ kế toán bao gồm kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và kết quả các
hoạt động khác. Đồng thời báo cáo cũng nêu tình hình thực hiện nghĩa vụ đối
với nhà nước về thuế và các khoản nộp khác. Khi mua một doanh nghiệp
người mua quan tâm đến lợi nhuận sẽ thu được trong tương lai nhưng lợi
nhuận trong quá khứ của doanh nghiệp cũng là một căn cứ quan trọng, nên
13
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
việc xem xét lợi nhuận thực hiện của doanh nghiệp thể hiện trên báo cáo kết
quả hoạt động kinh doanh là việc cần thiết và quan trọng ảnh hưởng đến việc
định giá mua doanh nghiệp.
Tóm lại, nghiên cứu các nhân tố tác động, ảnh hưởng đến giá trị doanh
nghiệp giúp ta thấy được các nhân tố làm gia tăng gía trị và các nhân tố làm
giảm giá trị doanh nghiệp, trong đó có những nhân tố có thể định lượng được,
nhưng có những nhân tố không định lượng được đòi hỏi người làm công tác
xác định giá ngoài những hiểu biết chuyên môn còn phải có giác quan nghề
nghiệp nhạy cảm và sức thuyết phục người đầu tư.
Đối với bên bán, sau khi nắm được các nhân tố tác động, ảnh hưởng
đến giá trị doanh nghiệp, họ sẽ tìm thấy những điểm yếu của doanh nghiệp
mình mà cố gắng cải thiện những yếu điểm đó trước khi đưa ra bán. Họ sẽ tìm
mọi cách để nêu bật các điểm mạnh của doanh nghiệp nhằm tăng thêm giá trị
doanh nghiệp. Người bán phải phân tích cho được những điểm mạnh điểm
yếu của doanh nghiệp mình dưới lăng kính của người mua.
Đối với người mua, hiiêủ được các nhân tố tác động, ảnh hưởng đến giá
trị doanh nghiệp sẽ giúp người mua nắm được thực chất giá trị doanh nghiệp
mà mình đang quan tâm. Và điều quan trọng hơn là qua phân tích của bản

dự tính tại doanh nghiệp đó.
Như trên đã nói, khi người mua trả cho người bán giá trị doanh nghiệp
là để thu được các khoản thu nhập từ kết quả hoạt động của doanh nghiệp
trong tương lai. Giá trị doanh nghiệp phụ thuộc vào hai yếu tố : Các khoản thu
nhập trong tương lai và tỷ suất lợi nhuận mong muốn của các nhà đầu tư.
Yếu tố thứ nhất là các khoản thu nhập trong tương lai được xác định
dựa vào việc dự đoán kết quả hoạt động SXKD trong tương lai. Kết quả hoạt
15
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
động SXKD trong tương lai của doanh nghiệp được dự tính càng cao thì giá
trị doanh nghiệp càng cao và ngược lại.
Yếu tố thứ hai là tỷ suất lợi nhuận vốn mong đợi của nhà đầu tư. Đây là
chi phí cơ hội sử dụng vốn mà người đầu tư trù tính trên cơ sở xem xét tỷ suất
lợi nhuận vốn tối thiểu cần đạt được với mức độ rủi ro gặp phải.
- Giá trị của một tài sản được xác định trên cơ sở những lợi nhuận
tương lai của nó.
Theo nguyên tắc kế toán, giá hạch toán là gốc ( hay còn gọi là giá lịch
sử ), mọi hàng hoá tài sản của doanh nghiệp đều được hạch toán, phản ánh
trên sổ sách theo giá mua vào. Giá thị trường không tính đến yếu tố lạm phát.
Do đó, trong trường hợp có lạm phát, giá hạch toán sẽ không phản ánh đúng
giá trị thực chất của tài sản, hàng hoá mà doanh nghiệp đang quản lý, sử
dụng.
Khác với nguyên tắc kế toán, định giá doanh nghiệp là quá trình xác
định giá trị của một doanh nghiệp đang là một thực thể hoạt động, mọi tài sản
đều được coi là đang tham gia vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp tham ra vào quá trình tạo ra lơị nhuận của doanh nghiệp. Vì
vậy, giá trị của một tài sản được xác định trên cơ sở những lợi nhuận tương lai
của nó. Một tài sản sẽ có giá trị cao khi nó có khả năng tạo ra nhiều lợi nhuận
trong tương lai và ngược lại.
- Giá trị tài sản ròng ảnh hưởng đến giá trị của doanh nghiệp.

thực.
II. PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP TRONG
CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG.
Hiện nay trên thế giới đang sử dụng rất nhiều phương pháp để đánh giá
doanh nghiệp : phương pháp vốn hoá lợi nhuận, phương pháp lưu lượng tiền
17
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
tệ chiết khấu, phương pháp xác định giá trị theo tài sản, phương pháp so sánh
công ty, phương pháp chi phí, phương pháp thâm nhập thị trường…Tuy
nhiên, có thể gộp lại thành hai phương pháp chính để xác định giá trị dựa vào
giá trị tài sản ròng và phương pháp hiện tại hoá nguồn tài chính tương lai.
Trong phạm vi chuyên đề này, chúng ta sẽ tập trung trình bày hai
phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp chủ yếu đó.
1. Phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp theo giá trị tài sản
thuần.
1.1. Cơ sở lý luận.
Theo phương pháp này quan niệm doanh nghiệp cũng giống như một
hàng hoá thông thường, giá trị của một doanh nghiệp được tính bằng tổng giá
trị thị trường của số tài sản mà doanh nghiệp đang sử dụng vào sản xuất kinh
doanh.
1.2. Phương pháp xác định.
Mặc dù giá trị doanh nghiệp được coi là tổng giá trị các tài sản cấu
thành doanh nghiệp nhưng để thực hiện một giao dịch mua bán doanh nghiệp
người ta phải xác định tài sản thuần.
Công thức xác định: V = A- Db
Trong đó: V: Giá trị tài sản thuần của doanh nghiệp.
A: Tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp.
Db: Tổng số nợ phải trả của doanh nghiệp.
Theo công thức này người ta có hai cách tính
Cách 1: Dựa vào số liệu trên bảng cân đối kế toán.

19
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
dự trữ. Do vậy, số lượng kế toán phản ánh giá trị tài sản đó cũng được coi là
không đáng tin cậy ở thời điểm đánh giá doanh nghiệp.
Cách 2: Xác định giá trị tài sản thuần theo giá thị trường.
Để xác định theo phương pháp này trước hết người ta loại ra khỏi danh
mục đánh giá những tài sản không cần thiết và không đáp ứng yêu cầu xuất
kinh doanh, sau đó đánh giá số tài sản còn lại trên nguyên tắc sử dụng giá trị
thị trường để tính cho từng tài sản hoặc từng loại tài sản cụ thể.
Đối với tài sản cố định và tài sản lưu động là hiện vật đánh giá theo giá
thị trường, nếu trên thị trường hiện đang có bán, trong thực tế thường không
tồn tại. Tài sản cố định cũ đã qua sử dụng ở nhiều mức độ khác nhau khi đó
người ta sử dụng theo công cụ hay khả năng phục vụ của tài sản để áp dụng tỷ
lệ khấu trừ trên giá trị tài sản cố định mới đối với những tài sản cố định không
còn tồn tại trên thị trường, người ta áp dụng một hệ số quy đổi so với những
tài sản tương tự có tính năng tương đương nhưng khác loại.
Các tài sản bằng tiền được xác định bằng cách kiểm kê đối chiếu số dư
trên tài khoản. Nếu là ngoại tệ được quy đổi bằng đồng ngoại tệ theo tỷ giá tại
thời điểm đánh giá, vàng bạc kim khí đá quý cũng được đánh giá như vậy.
Các khoản phải thu do khả năng đòi nợ các khoản này ở nhiều mức độ
khác nhau. Do vậy, bao giờ người ta cũng bắt đầu từ việc đối chiếu công nợ,
xác minh tính pháp lý, đánh giá độ tin cậy của từng khoản thu nhằm loại ra
những khoản mà doanh nghiệp không có khả năng đòi nợ.
Đối với các khoản đầu tư ra bên ngoài doanh nghiệp về nguyên tắc phải
đánh giá một cách toàn diện giá trị doanh nghiệp hiện đang sử dụng các
khoản đầu tư đó. Tuy nhiên, nếu khoản đầu tư này không lớn người ta tính
trực tiếp vào giá thị trường của chúng dưới hình thức chứng khoán hoặc căn
cứ vào số liệu của các bên đối tác liên doanh để xác định theo cách thứ nhất
đã được đề cập ở trên.
20

+ Phương pháp này đã bỏ qua phần lớn các yếu tố phi vật chất nhưng
lại có giá trị thật sự và nhiều khi lại chiếm tỷ trọng rất lớn trong doanh nghiệp
như: trình độ quản lý, trình độ tay nghề công nhân, uy tín thị phần của doanh
nghiệp. Có những doanh nghiệp có tài sản không đáng kể xong triển vọng
sinh lời lại rất cao.
Trong nhiều trường hợp xác định giá trị tài sản ròng quá phức tạp như
xác định giá trị của một tập đoàn có nhiều chi nhánh, có nhiều chứng khoán
đầu tư ở nhiều doanh nghiệp khác nhau, mỗi chi nhánh lại có một số lượng
các tài sản lớn đặc biệt đã qua sử dụng (hoặc không còn bán trên thị trường)
trong trường hợp đó đòi hỏi phải tổng kiểm kê đánh giá lại một cách chi tiết
mọi tài sản của các chi nhánh dẫn đến chi phí tốn kém, thời gian kéo dài, kết
quả phụ thuộc nhiều vào các thông số kỹ thuật của tài sản, như vậy sai số có
khả năng ở mức cao.
- Ưu điểm.
+ Phương pháp đã chỉ ra giá trị của những tài sản cụ thể cấu thành giá
trị doanh nghiệp, giá trị của các tài sản là căn cứ cụ thể có tính pháp lý rõ ràng
nhất về khoản thu nhập mà người mua chắc chắn sẽ nhận được khi sở hữu
doanh nghiệp, nó khẳng định số tiền mà người mua bỏ ra luôn luôn được đảm
bảo bằng một lượng tài sản có thực.
+ Việc định giá trị thị trường của số tài sản có thể bán tại thời điểm
đánh giá đã chỉ ra một khoản thu nhập tối thiểu mà người sở hữu sẽ nhận
được. Đó cũng là mức giá thấp nhất là cơ sở đầu tiên mà các bên có liên quan
đưa ra trong quá trình đàm phán về giá bán của doanh nghiệp.
+ Đối với những doanh nghiệp nhỏ mà số tài sản không nhiều việc định
giá tài sản không đòi hỏi nhiều kỹ thuật phức tạp. Giá trị yếu tố vô hình không
đáng kể, các doanh nghiệp có chiến lược kinh doanh không rõ ràng thiếu căn
cứ xác định các khoản thu nhập trong tương lai. Đây là phương pháp thích
hợp nhất.
22
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

ròng) thuộc về chủ sở hữu doanh nghiệp giá trị của doanh nghiệp được đo
bằng độ lớn của khoản lợi nhuận thuần mà doanh nghiệp có thể mang lại cho
chủ sở hữu trong suốt thời gian tồn tại doanh nghiệp.
2.1.2. Phương pháp xác định.
Để đảm bảo sự nhất quán trong việc đánh giá các khoản lợi nhuận
thuần phát sinh ở các thời điểm khác nhau trong tương lai, người ta thực hiện
quy đổi chúng về thời điểm hiện tại theo một lãi suất nhất định còn gọi là tỉ
suất hiện tại hoá. Vì vậy giá trị doanh nghiệp được tính bằng công thức như
sau :
( ) ( )
n
n
ii
i
V
+
++
+
+
+
=
1
Pr

1
Pr
)1(
Pr
2
21

)1(
Pr
2
21
0
( )
i
i
t
n
t
Pr
1
1
Pr
1
=
+
Σ=
=
Trong đó:
P
r
: là khoản lợi nhuận thuần có thể đạt đượchàng năm trong tương lai,
để xác định được P
r
người ta thường căn cứ vào số liệu lợi nhuận thuần mà
doanh nghiệp đã đạt được trong quá khứ sau đó tính số trung bình kết quả về
lợi nhuận thuần có thể lấy trong 3 năm, 5 năm, 10 năm.
i : là tỉ suất hiện tại hoá được khuyến nghị là phải chọn một mức lãi

nghiệp không có nhiều tài sản để khấu hao, khả năng tích luỹ vốn từ lợi nhuận
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status