Giá trị văn hóa, nghệ thuật chùa Yên Đông ( xã Yên Hải, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh ) - Pdf 28

1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Quảng Ninh có truyền thống văn hóa lâu đời, là cái nôi của nền văn hóa
cổ Hạ Long, là nơi có thương cảng Vân Đồn, một thương cảng cổ nổi tiếng
sầm uất của nước ta trong nhiều thế kỷ. Quảng Ninh còn là vùng đất đã chứng
kiến biết bao chiến công hiển hách chống giặc ngoại xâm mà nổi bật là chiến
thắng Bạch Đằng lịch sử, phá tan giặc Nguyên Mông thế kỷ XIII. Truyền
thống ấy còn được lưu truyền và phát huy đến tận ngày nay, khi quân và dân
vùng mỏ đứng lên chống lại chế độ thực dân Pháp và đế quốc Mỹ khi chúng
sang xâm lược nước ta. Cũng từ nơi đây, giai cấp công nhân Việt Nam đã
được hình thành và phát triển, góp phần vào công cuộc bảo vệ và xây dựng
đất nước.
Là một tỉnh tiếp giáp với vùng đồng bằng Bắc Bộ, nên Quảng Ninh
cũng chịu ảnh hưởng của vùng văn hóa Bắc Bộ. Rất nhiều các công trình kiến
trúc, đền đài, miếu mạo, chùa chiền được xây dựng trên mảnh đất này, để
phục vụ nhu cầu tôn giáo, tín ngưỡng của nhân dân, như: Khu di tích danh
thắng chùa Yên Tử, nơi ra đời của thiền phái Trúc Lâm Việt Nam; đền Cửa
Ông thờ Đức Ông Trần Quốc Tảng, chùa Quỳnh Lâm, đình làng Trà Cổ, đình
làng Phong Cốc Hà Nam, đình làng Quan Lạn....Bên cạnh đó, văn hóa Quảng
Ninh còn mang những sắc thái riêng, đặc trưng của vùng duyên hải Bắc Bộ
với những làng chài ven biển, như làng chài Cửa Vạn, Ba Hang, Vông Viêng,
Cặp La....
Ngày nay, trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
Quảng Ninh với vai trò là một trong ba trung tâm kinh tế lớn của miền Bắc,
2
đã từng bước xây dựng và phát triển trên các lĩnh vực Kinh tế- xã hội. Với
mục tiêu: “ xây dựng Quảng Ninh trở thành một địa bàn động lực, một trong
những cửa ngõ giao thông quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đối
với khu vực và quốc tế, một khu vực phát triển năng động của kinh tế ven
biển và biển, có tốc độ tăng trưởng cao và bền vững, có thế và lực ngày càng

- Cuốn:“ Sáng giá chùa xưa” của PGS Chu Quang Trứ nghiên cứu kiến trúc
các ngôi chùa ở Việt Nam với nền văn hóa dân tộc cổ truyền. Trong đó, tác
giả giới thiệu về một số ngôi chùa và các di vật đặc sắc trong các ngôi chùa ở
Việt Nam.
- Cuốn “ Chùa Việt Nam” của GS Hà Văn Tấn nghiên cứu về toàn cảnh các
ngôi chùa Việt Nam trong lịch sử và trong đời sống văn hóa dân tộc
cũng như những đặc điểm của Phật giáo và văn hóa tâm linh của dân tộc
được thể hiện ở các ngôi chùa Việt Nam. Tác giả đi vào giới thiệu khái
quát về 118 ngôi chùa trên khắp mọi miền đất nước qua các thời kỳ.
- Tác giả Trần Mạnh Thường trong cuốn “ Đình chùa, lăng tẩm nổi tiếng ở
Việt Nam” giới thiệu lịch sử, kiến trúc các thành lũy, đền tháp, đình chùa ở
Việt Nam từ xưa đến nay.
- Tác giá Nguyễn Huy Quang trong luận văn tốt nghiệp Cao học với đề tài: “
Chùa Láng- những giá trị văn hóa nghệ thuật” đề cập đến chùa Láng, đi sâu
phân tích các giá trị văn hóa nghệ thuật của chùa Láng.
Nằm ở ven biển phía Tây Nam của Quảng Ninh, Yên Hưng là huyện có
hệ thống các di tích lịch sử văn hóa đặc sắc với các công trình kiến trúc, đền
4
chùa, miếu mạo ...tiêu biểu của một làng quê Việt Nam. Có nhiều các công
trình nghiên cứu về mảnh đất này, khi trước đây nó có tên là tỉnh Quảng Yên.
Về giá trị văn hóa, nghệ thuật trong các di tích lịch sử văn hóa của
huyện Yên Hưng, tác giả Đinh Kiều Sơn với đề tài tốt nghiệp Cao học“ Giá
trị văn hóa nghệ thuật đình Phong Cốc” đi sâu vào nghiên cứu các giá trị văn
hóa, nghệ thuật của một ngôi đình nổi tiếng ở huyện Yên Hưng.
Chùa Yên Đông, nằm ở xã Yên Hải, cũng được đề cập đến trong một
số cuốn sách :
- Trong Địa chí Quảng Ninh ( tập 3), do Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh
xuất bản năm 2003 đã khái quát về lịch sử hình thành của ngôi chùa cũng như
hệ thống hiện vật còn lưu giữ được ở trong chùa.
- Cuốn: “ Di tích và danh thắng Quảng Ninh” của Ban quản lý di tích thắng

xã Yên Hải, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh.
- Làm rõ các giá trị văn hóa, nghệ thuật được thể hiện qua kiến trúc và
nghệ thuật điêu khắc, trang trí của chùa Yên Đông.
- Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị chùa Yên Đông trong
đời sống hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: chùa Yên Đông (xã Yên Hải, huyện Yên
Hưng, Quảng Ninh).
6
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: chùa Yên Đông trong không gian xã Yên Hải
+. Về thời gian: từ khi xây dựng chùa Yên Đông đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Vận dụng quan điểm của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử và tư tưởng Hồ Chí Minh để nghiên cứu giá trị di tích lịch sử, văn hóa.
Tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu:
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành Văn hóa học, mỹ thuật học, dân
tộc học...Những phương pháp này giúp người viết có những tiếp cận, nghiên
cứu và đánh giá về các hiện tượng , các vấn đề văn hóa một cách khoa học và
khách quan.
- Phương pháp điền dã điều tra xã hội học kết hợp khảo sát thực địa,
chụp ảnh- ghi hình và phỏng vấn trực tiếp, nhằm kiểm tra, đánh giá chính xác
dựa trên những thông tin đầy đủ mà người viết thu thập được.
- Phương pháp phân tích- tổng hợp: dựa trên những thông tin đã có qua
điều tra, khai thác thần tích, truyền thuyết, thư tịch và tìm hiểu, kết hợp với
những công trình đi trước để có một cái nhìn tổng thể về di tích, đồng thời đối
chiếu so sánh và phân tích những kết quả đó mà đưa ra kết luận cuối cùng cho
luận văn.
6. Những đóng góp của đề tài:
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu hệ thống toàn diện các giá trị văn

sống. “ Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy ở Hoàng Tân rất nhiều công cụ sản
xuất, sinh hoạt bằng đá, như: rìu, bôn, búa, đục, bàn mài, mũi khoan, chày
nghiền của nền văn hóa Hạ Long thời kỳ đá mới, tiếp đến là các đồ đồng của
nền văn minh Đông Sơn triều đại các vua Hùng ở vùng của biển, lúc bấy giờ
đất Yên Hưng thuộc Bộ Dương Tuyền hay Hải Tuyền thời vua Hùng. Đó là
các bình đồng, thạp đồng, vòng tay đồng, lưỡi cày đồng, tấm che ngực, dao
găm, mũi tên đồng, rìu đồng...và các hũ bình gốm có chất liệu và mang phong
cách văn hóa gốm Phùng Nguyên, Hoa Lộc” [21,tr 8].
Dưới thời nghìn năm Bắc thuộc, dưới sức ép đồng hóa mạnh mẽ của
ngoại bang, người dân ở Yên Hưng vẫn giữ được bản sắc văn hóa truyền
thống của người Việt. Tiếp thu kỹ thuật làm gốm của người Hán để chế tác ra
các đồ gốm dân dụng và gạch nung để xây dựng hầm mộ, nhà cửa. Ở Yên
9
Hưng hiện còn hàng trăm ngôi mộ cổ mang phong cách mộ Hán và một khối
lượng lớn các đồ gốm thời Đông Hán trong lòng đất, minh chứng vùng đất
Yên Hưng là một trong những trung tâm chính trị cai trị nước Nam của nhà
Đông Hán.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư bản khắc năm Chính Hòa 18 ( 1679)[7,tr
236]: đời Đinh, Lê, Yên Hưng thuộc trấn Triều Dương; đời Lý Thái Tổ năm
Thuận Thiên thứ 14 ( 1023) đổi trấn Triều Dương thành châu Vĩnh An; đời
Trần, vua Trần Thái Tông năm Thiên ứng Chính Bình thứ 11 (1242) gọi châu
Vĩnh An là lộ Hải Đông có tám huyện: Yên Bang, Chi Phong, Yên Lập, Yên
Hưng, Tân An, Đại Độc, Vạn Ninh, Vân Đồn. Nhà Lê, đầu đời Thuận Thiên
(1428) gội là Yên Bang ( An Bang) thuộc Đông Đạo. Năm Quang Thuận
(1460-1469) đặt là An Bang Thừa Tuyên; từ năm Gia Thái đời vua Lê Thế
Tông ( 1573-1577) vì kiêng húy tên vua Lê Anh Tông, mới đổi An Bang
thành Yên Quảng, huyện Yên Hưng thuộc Yên Quảng, trấn Yên Quảng có
một phủ ( Hải Đông), sáu huyện ( Chi Phong, Yên Hưng, Hoành Bồ, Thủy
Đường, Kim Thành, An Dương) và ba châu ( Vạn Ninh, Vĩnh An, Vân Đồn).
Năm 1802, vua Gia Long trả Kinh Môn Lệ vào trấn cũ Hải Dương; vẫn lấy

Yên Hưng, nửa đầu thế kỷ XIX (1800-1850) là thời gian các làng xã xây dựng
đình làng, chùa làng, trong khi đó nhiều nơi khác trong nước đất đai hoang
hóa, dân cư phiêu tán. Điều đặc biệt ở đây là tập quán sử dụng ruộng đất công
– công điền được duy trì với số lượng lớn và tồn tại dai dẳng đến sát cuộc cải
cách ruộng đất chính là kết quả của quá trình khai khẩn lấn biển của tập thể
các làng xã và thành quả đó được cộng đồng làng xã bảo vệ. Đây cũng là một
trong những đặc điểm quan trọng nhất của chế độ ruộng đất của Yên Hưng
nói chung và của đảo Hà Nam nói riêng. Đó là các tập quán:
11
- Tập quán sử dụng ruộng công cho những công việc chung của làng xã:
Cũng như các làng xã khác ở đồng bằng bắc bộ, ngoài bộ phận lớn ruộng đất
để chia cho dân đinh, nơi đây còn dành một phần diện tích ruộng công để
dùng vào những việc chung của làng xã: thờ cúng, khuyến học, trọng lão, sửa
sang tu bổ hay làm mới đình, chùa...Bên cạnh đó, làng còn dành một bộ phận
đáng kể ruộng công cho việc thưởng biếu cho những người đỗ đạt, có công
với làng, người cao tuổi hay chức dịch. Lảng xã còn thưởng ruộng công cho
những người có công đòi ruộng trong các cuộc tranh chấp ruộng đất với các
làng xã bên cạnh. Ngoài ra, làng xã cũng thường đem bán ( có thời hạn) một
số diện tích ruộng công để lấy kinh phí chi cho các việc công.
- Tục lệ phân chia ruộng công: lệ chia ruộng công tuân thủ chặt chẽ một
số nguyên tắc như thời điểm bặt phần ruộng và chính thức nhận ruộng phải
đảm bảo không ảnh hưởng đến vấn đề thời vụ. Nhìn chung, việc chia ruộng ở
đây đều kết hợp hai nguyên tắc: kính xỉ và kính ước . Khẩu phần ruộng được
chia thì tùy theo diện tích ruộng công và số dân đinh trong xã. Lệ chia ruộng-
“ đổ chương” cũng tùy từng xã mà có quy định khác nhau, có thể là 3,4 hoặc
6 năm thì “ đổ chương” một lần. Ngoài số công điền được chia cho dân đinh,
làng còn cấp ruộng cho các họ làm ruộng họ và lo việc hội hè, tế đám của
làng. Đối với trường hợp ngụ cư thì có lệ: người ngụ cư khi mới nhập làng thì
chưa được nhận ruộng khẩu phần. Những người nào cha ông đã ngụ cư từ
trước mới được cấp ruộng. Tuy nhiên, mỗi lần nhận ruộng người ngụ cư nếu

hiện vật là các di tích quý như: 43 sắc phong, 12 chuông đồng, gần 400 tượng
thờ, 142 bia đá, hơn 600 câu đối, đại tự và các gia phả, thần tích, các đồ thờ tự
khác có niên đại từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX. Trong đó có 39 di tích đã được
xếp hạng cấp quốc gia, 15 di tích xếp hạng cấp tỉnh, dự kiến sẽ có khoảng
13
50% di tích ở Yên Hưng được xếp hạng cấp quốc gia và cấp tỉnh. Ngoài ba lễ
hội lớn trong vùng là Lễ hội Tiên công, Lễ hội Bạch Đằng, Lễ hội xuống
đồng, ở Yên Hưng còn hàng trăm hội hè khác gắn với các đình làng, chùa
làng và từ đường, dòng họ.
Về tôn giáo- tín ngưỡng, cư dân Yên Hưng có tục thờ Tiên công và
cúng gia tiên ở gia đình và từ đường dòng họ; tục thờ thành hoàng của các
làng xã ở đình, đền, nghè, miếu; tục thờ Mẫu Liễu Hạnh; tục thờ thần Biển và
một số nhân thần, thần núi, thần sông khác. Các vị thần được thờ ở các đình,
đền, miếu của các làng xã ở Yên Hưng đa số là các nhân thần như: Đức thánh
Trần Hưng Đạo Đại vương; Đức thánh Niệm ( Phạm Tử Nghi); các vị thần
khác khi còn sống có công đánh giặc cứu nước phò vua giúp dân; các vị Tiên
công ( có công đầu tiên quai đê lấn biển lập làng) khi mất đều được suy tôn
làm thần thờ ở đình làng, ở đền, miếu của làng xã, ở từ đường của các dòng
họ....Ở Yên Hưng mỗi làng có một chùa, ngày nay hiện còn 23 ngôi chùa
làng. Chùa làng được xây dựng từ khá sớm, đa số vào khoảng giữa thế kỷ
XVI. Chùa làng ở Yên Hưng là đối trọng của đình làng, mỗi làng đều có một
ngôi đình thờ vọng Thành hoàng và ngày xưa dành cho nam giới tế lễ, ăn
khao, hội họp. Đối trọng với ngôi đình là ngôi chùa dành cho nữ giới sinh
hoạt. Theo thống kê năm 2009, Yên Hưng có 4.354 người theo đạo Phật, các
Phật tử đa số là nữ trung niên và cao tuổi.
Bên cạnh tín ngưỡng thờ thần, thánh và một bộ phận theo Phật giáo,
Công giáo, hầu hết cư dân ở Yên Hưng rất coi trọng tục thờ cúng tổ tiên dưới
các hình thức thờ cúng ở từ đường ( nhà thờ dòng họ), thờ cúng ở nhà trưởng
của mỗi chi và ở mỗi gia đình. Hiện ở Yên Hưng có 104 từ đường, các từ
đường được xây dựng từ thế kỷ XVII tới XX, thờ thủy tổ tới các thế tổ và các

phía tây xã Phong Lưu, lập nên xã Hải Trà, sau đổi thành Hải Triền, và đến
đời Tự Đức thì đổi thành Hải Yến.
Nhóm thứ năm, do Phạm Thanh Lảnh, người xã Quang Lang ( Nam Hà
ngày nay) khai sáng làng Lái, sau đó làng Lái đổi tên thành Vị Khê và trở
thành một thôn của xã Vị Dương.
Nhóm thứ sáu, do một nhóm cư dân quê gốc ở phường Kim Liên, phủ
Hoài Đức, thành Thăng Long, khai khẩn ở vùng Tây Bắc xã Phong Lưu (vùng
đất cao nằm sát sông Chanh), lập làng Bồng Lưu. Sau đó Bồng Lưu sát nhập
với Phong Lưu thành làng mới với tên gọi Phong Lưu.
Sau khi các làng xã kể trên được khai lập, một nhóm dân cư vùng Tả
Quan, Chí Linh đến khai khẩn vùng đất cao phía Tây Bắc xã Hải Triền, lập
lên một làng mới gọi là làng Quan. Sau đó, theo các bô lão trong làng cho
biết, làng Quan thờ Thành hoàng là một vị sư tên gọi là Huyền Quang, quê ở
Hương Vạn Tải ( vùng Gia Lương, Hà Bắc ngày nay) nên làng đổi tên là làng
Hương. Đến đầu đời Nguyễn, làng Hương đổi tên là Hưng Học.
Đến đời nhà Mạc, một số cư dân sống bằng nghề chài lưới ở Hà An
( Hà An cách Hà Nam bởi sông Rút), do bão lũ, giặc dã... đã về phía ngoài đê
làng Lưu Khê khai khẩn lập làng Quỳnh Biểu. Về sau Quỳnh Biểu trở thành
một thôn của xã Lưu Khê.
Như vậy, có thể thấy công cuộc khẩn hoang thành lập làng xã ở Hà
Nam trong thế kỷ XV diễn ra dưới hình thức tự động tổ chức khẩn hoang của
nhân dân- một trong những hình thức khai hoang chính ở Yên Hưng nói riêng
và đồng bằng Bắc bộ nói chung cho đến đầu thế kỷ XX.
16
Theo tương truyền vào đời Hậu Lê, vua Lê Thánh Tông ( 1460- 1497)
khi đi tuần thú vùng biển Đông Bắc, qua vùng đảo Tuần Châu ( Vịnh Hạ
Long- Quảng Ninh) thuyền ngự đang rong ruổi, chợt nghe văng vẳng tiếng
một người con gái hát rằng:
Tay cầm bán nguyệt xênh xang
Hàng trăm quân lính lai hàng chị đây

nên đất của làng dần thu hẹp lại. Song sự tích “ Bà Chúa Ngóe” vẫn còn được
gìn giữ và lưu truyền trong dân gian. Những ngày lễ hội ở đình làng Hải Yến,
ở dòng họ Đặng ( Trên) đều khấn cung thỉnh đến Bà chúa Lê triều để truy ơn
công lao to lớn của Bà đối với dân làng Hải Yến.
Sau cách mạng tháng Tám, chính quyền cách mạng chia tổng Hà Nam
thành ba xã: Nam Hòa, Phong Cốc, Trung Bản ( sau đổi thành ba xã: Nam
Hòa, Hồng Thái, Liên Hòa). Xã Nam Hòa gồm năm thôn: thôn Tân Lập ( xã
Hưng Học), thôn Tân Tạo ( xóm Đông Cốc), thôn Tân Tiến ( xã Hải Yến),
thôn Yên Thế ( xã Yên Đông), thôn Hùng Thắng ( xã Cẩm La).
Năm 1957, do yêu cầu phát triển kinh tế và quản lý nhà nước, chính
phủ đã tách xã Nam Hòa thành ba xã: Cẩm La, Yên Hải và Nam Hòa. Xã Yên
Hải gồm hai thôn Yên Đông và thôn Hải Yến, tên gọi và địa giới giữ nguyên
cho đến ngày nay.
*. Làng Yên Đông
Xóm: xóm Đông, xóm Chợ, xóm Nam, xóm Dưới, xóm Giọn.
18
Xứ đồng: Cửa Chợ, Cửa Lũy, đồng Họ, đồng Bún, Đường Dâu, Mả
Gai, Trang Lưu, Cái Đôi, Dầu Dầu, Cây Mít, Quyển Bồng, Hồ Lấp, Cái Hăm,
Nam Bản, Đồng Chuông, Cái Hải, Thổ Cống, Nhà Thờ, Trên Đồng, Bìa
Đông.
Sông ngòi: Cửa Chợ, Vòng Bơi, Kênh Gà, Cầu Cá, Bến Bị, Cầu Miếu,
Cầu Mới, Thổ Cống, Cái Nôi, Ván.
Bến: bến Bị, bến Đầm, Chợ Đông, Cầu Cá.
Hồ: hồ Mạch, hồ Quán, hồ Tam Quan.
Đìa: đìa Đông
Cống: cống Đá, Sau Chùa, Đá Bia, Đá Chợ Đông, Quán Gion.
Cầu: cầu Đường Họ, cầu Cá, cầu Mới.
Đượng: Nghè La, đượng Năng, Giữa Đồng Trên, Giữa Đồng Dưới,
Ngã Tư, Cây Bún, Cây Me, đượng Năm, Trung Lưu, Dầu Dầu, Cây Mít, Bà
Giọn, Bà Cáy, Cờ, Chiêng, đượng Trống, đượng Ngựa.

Đình Yên Đông thờ Thành Hoàng làng là ông Nguyễn Văn Minh, quê ở Bắc
Ninh, đỗ tiến sĩ ở triều Lê nhưng không ra làm quan mà theo vua Quang
Trung đi đánh giặc. Ông được giao trọng trách trấn ải và lập được nhiều công
lớn ở vùng Hải Đông. Theo thần tích , thần phả và sắc phong của thành hoàng
làng Yên Đông thuộc xã Phong Lưu xưa, nay thuộc xã Yên Hải, Hà Nam,
20
thành hoàng tên thật là Nguyễn Đăng Minh, được các triều vua sắc phong là
Uy Minh đại vương. Ngài là người xã Hoài Bão, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc
Ninh ( nay là thôn Hoài Thượng, xã Hoài Bão, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc
Ninh). Năm 24 tuổi, ngài đỗ đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân, khoa Đinh
Mùi, niên hiệu Phúc Thái thứ tư ( 1646) đời Lê Chân Tông. Ngài đã từng làm
Quốc tử giám tế tửu, tước nam. Ông thọ 74 tuổi. Khi chết ông được thờ ở Bắc
Ninh nhưng nhân dân An Đông thấy ông có công lớn ở vùng Hải Đông và lại
rất linh ứng ở vùng này nên đã xin chân nhang về thờ và tôn ông làm Thành
Hoàng làng.Ông đã được các vua Gia Long, Tự Đức, Duy Tân sắc phong “
Thông Đạt Đại Vương”, gia tặng “ Phụ Cảm chính trực Hiệp tương đôn
ngưng chi thần”. Đình nằm phía sau chùa chính một khoảng sân 11m, quay
hướng Tây, phía trước có hai trụ đèn lồng lớn, trên bức hoành trấn môn có hai
chữ “ hạ mã”, mọi người dân đi qua đình đều phải xuống ngựa dắt qua. Đình
có bốn mái, lợp ngói mũi hài, bờ nóc có lưỡng câu chầu mặt trời và đầu kìm,
các đao đình uốn cong hình đầu rồng. Kiến trúc kiểu chữ đinh (J), gồm 5 gian
tiền đường dài 9,5m rộng 4,5m, hai gian hậu cung dài 5,4m rộng 4,5m. Hệ
thống vì kèo cột gỗ kiểu giá chiêng chồng rường bụng lợn đơn giản, có 3 cửa
chính, 2 gian 2 bên xây kín có cửa sổ nhỏ, 2 đầu hồi bít đốc, tường xây gạch
đỏ, mái lợp ngói tây, cửa giữa chấn song gió lùa, 2 cửa 2 bên ván ghép.
Đình Hải Yến có tên chữ là “Hải Yến đình” thuộc xóm Tây (xóm Hai)
thôn Hải Yến, xã Yên Hải, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh. Làng Hải Yến
trước đây có tên là Hải Triền. Làng Hải Triền được lập vào thời Lê do một số
cư dân ở Tuần Châu và Hải Dương đến quai đê lấn biển lập nên. Đầu thế kỷ
XIX, Hải Triền được đổi thành Hải Yến.

quan Tham Trấn trấn Chanh ( quan trấn thủ trấn Chanh tức tỉnh Quảng Yên).
Thời gian ngài làm quan, kinh tế trong vùng phát triển thịnh vượng, dân cư
đông đúc. Ngài đã đứng ra mở chọ phiên ở xã Phong Lưu tại làng Yên Đông
vào các ngày mungf3 và mùng 8 âm lịch để phát triển kinh tế địa phương.
Chợ Yên Đông đã trở thành nơi giao lưu buôn bán hàng hóa của đảo Hà Nam
với các miền lân cận như Thủy Nguyên, Cát Hải, Hà Bắc, Thái Bình....
Bên cạnh đó, để tưởng nhớ công lao của các vị Tiên Công đã có công
khai phá vùng đất, dựng làng lập ấp, trên địa bàn xã Yên Hải còn có hệ thống
di tích thuộc nhà thờ ( từ đường ) các dòng họ, mà thủy tổ là các cụ đã có
công đầu trong việc khai hoang lấn biển. Bao gồm:
- Từ đường họ Bùi (Bùi Huy Ngoạn), tên thường gọi là Từ đường họ
Bùi, tên chữ là Bùi tộc từ. Đây là nơi thờ cụ thuỷ tổ của dòng họ là cụ Bùi
Huy Ngoạn. Từ đường họ Bùi thuộc xóm Nam Cầu, xã Yên Hải, huyện Yên
Hưng, tỉnh Quảng Ninh.
Cụ Bùi Huy Ngoạn là người vùng Kinh thành Thăng Long, từng là
Hiệu sinh của Quốc tử giám. Dưới triều vua Lê Thái Tông (Thế kỉ XV) có
chủ trương mở rộng kinh thành, khuyến khích nhân dân đi khai hoang, tìm
quê hương mới. Cụ Bùi Huy Ngoạn đã cùng 16 cụ khác ở phường Kim Liên,
phủ Hoài Đức, huyện Thọ Xương, thành Thăng Long đã xuôi thuyền theo
dòng sông Hồng vừa chài lưới kiếm ăn, vừa đi tìm cùng đất định cư mới. Họ
tới vùng đất hạ lưu sông Bạch Đằng thấy nơi đây có nhiều điều kiện thuận lợi
nên đã ở lại khai hoang, trải qua bao khó khăn, đã biến vùng bãi bồi ở cửa
sông Bạch Đằng trở thành một vùng trù phú, bờ xôi ruộng mật. Nhớ ơn của
các cụ, nhân dân đã lập miếu thờ, tôn các cụ là các bậc tiên công.
23
Đến đời thứ 6, con cháu dòng họ Bùi xây dựng từ đường riêng để thờ
cụ thuỷ Bùi Huy Ngoạn. Trải qua thời gian, công trình đã được trùng tu nhiều
lần nhưng vẫn giữ được dáng các phần kiến trúc cũ. Từ đường kiến trúc theo
kiểu chữ Môn, chính giữa là nhà thờ, 2 bên tả hữu có nhà tả vu, hữu vu. Nhà
thờ chính theo kiểu chữ Nhị (=), gồm bái đường và hậu cung. Kết cấu bộ vì

trùng tu. Từ đường được xây theo kiểu chữ Nhất (−). Cổng xây theo kiểu tam
quan, lối ra vào là 2 cửa phụ 2 bên, cổng chính bịt kín dùng làm nơi hoá vàng,
làm theo kiểu chồng diêm 8 mái, lợp ngói vẩy rồng, đầu dao mềm mại. Công
trình chính gồm 3 gian, mái lợp ngói vẩy rồng, kết cấu theo kiểu hồi văn cánh
bảng, nửa dưới xây bằng dá, nửa dưới bằng gạch. Vì kèo được làm bằng gỗ
lim, chạm khắc hoa lá cách điệu. Những nét chạm kênh bong ở bức cốn sắc
nét, mềm mại thể hiện sự khéo léo, tinh xảo của nghệ nhân. Trong nhà thờ
hiện còn lưu giữ được nhiều hiện vật có giá trị nghệ thuật cao, có niên đại thời
Nguyễn như: hoành phi, câu đối, đồ tế khí, sắc phong, trướng thờ .v.v.. Các
hiện vật này được sơn son thếp vàng, chạm khắc cầu kì, nội dung hàm súc, ý
nghĩa. Đề tài trang trí là tứ linh, hoa văn cách điệu. Ngoài ra còn có một cuốn
gia phả (Vũ thượng tộc gia phả bạ) được soạn năm Khải Định thứ 9. Đây là
nguồn tư liệu, hiện vật quý phản ánh rõ nét sự phát triển của văn hoá bản địa,
phục vụ công tác nghiên cứu lịch sử, mỹ thuật, văn hoá, nhu cầu tham quan,
du lịch của địa phương. Nhà thờ họ Vũ (thờ Vũ Giai) cũng giống như các nhà
thờ dòng họ khác ở Hà Nam có hình thức sinh hoạt văn hoá riêng biệt là lễ tế
tổ tiên đầu năm và ngày lễ tạ cuối năm âm lịch. Dịp đầu năm âm lịch, gia đình
nào vinh dự có cụ thọ 80, 90, 100 tuổi trở lên đều có 1 lễ mang lên từ đường
họ để cáo yết tổ tiên và gia đình nào có điều kiện thì tổ chức làm lễ thượng
25
thọ tại nhà. Con cháu trong dòng họ, làng xã đến làm lễ sống hoặc nói lời
chúc thọ các cụ. Sau đó, các cụ thượng được rước đến Từ đường để làm lễ
cáo yết tổ tiên vào ngày 7 tháng giêng. Ngày 02/12 âm lịch, là ngày chạp tổ
của dòng họ cũng như cả vùng Hà Nam. Con cháu xa gần sửa soạn sắm lễ
dâng cúng tổ tiên, báo cáo những việc đã làm được trong năm vừa qua. Ngoài
những ngày lễ trên, từ đường họ Vũ còn có ngày giỗ cụ thuỷ tổ vào ngày
11/10 âm lịch, ngày lễ khao tổ vào mùng 4 tết Nguyên đán, và ngày lễ Khai
quang mộc dục vào cuối năm.
- Từ đường họ Vũ (Vũ Tam Tỉnh) còn có tên gọi là từ đường họ Vũ
Tam, tên chữ là “Chỉ đường qua”, đây là lối chơi triết tự, chữ “Chỉ” và chũ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status