ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRƢƠNG THỊ THU HƢƠNG
KHAI THÁC TIỀM NĂNG CỦA LOẠI HÌNH
DU LỊCH VĂN HOÁ Ở HUYỆN YÊN HƢNG
TỈNH QUẢNG NINH LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
Hà Nội - 2013
1
MỤC LỤC MỞ ĐẦU 4
1. Lý do chọn đề tài: 4
2. Mục đích nghiên cứu 6
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6
4. Phương pháp nghiên cứu 6
5. Đóng góp của luận văn 7
6. Bố cục của đề tài 7
CHƢƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ DU LỊCH VĂN HOÁ VÀ CÁC
ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HOÁ Ở HUYỆN YÊN
HƢNG( THỊ XÃ QUẢNG YÊN) TỈNH QUẢNG NINH 8
1.1. Một số vấn đề lý luận chung về du lịch văn hoá 8
1.1.1. Du lịch văn hoá 8
1.1.2.Tiềm năng du lịch văn hoá 8
1.1.3.Tài nguyên du lịch văn hoá 9
1.1.4.Khách du lịch 9
1.1.5.Điểm du lịch 9
1.1.6. Tổ chức quản lý du lịch văn hoá 10
1.1.7. Sản phẩm du lịch văn hoá 12
1.1.8. Cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch văn hoá 12
1.1.9.Bảo tồn di sản văn hoá 13
1.2.Điều kiện phát triển du lịch văn hoá ở huyện Yên Hƣng (thị xã
Quảng Yên) tỉnh Quảng Ninh 13
1.2.1.Điều kiện bên trong 13
1.2.2. Điều kiện bên ngoài 19
Tiểu kết chƣơng 1 21
3.2.4. Giải pháp về nguồn nhân lực du lịch 68
3.2.5. Giải pháp về tổ chức quản lý du lịch 69
3.2.6. Tuyên truyền quảng bá, xúc tiến du lịch 70
Tiểu kết chƣơng 3 70
KẾT LUẬN 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
PHỤ LỤC
thập phương đến với các loại hình du lịch văn hoá, tôn giáo, nhất là vào
những dịp lễ hội.
Đến Quảng Ninh, du khách còn có cơ hội để thưởng thức các món ăn
được chế biến từ các loài hải sản, các đặc sản của địa phương rất phong phú
và đa dạng.
Tỉnh Quảng Ninh có 14 đơn vị hành chính trong đó có: 4 thành phố,
1 thị xã và 9 huyện gồm: thành phố Hạ Long; thành phố Móng Cái; thành
5
phố Cẩm Phả; thành phố Uông Bí; thị xã Quảng Yên( huyện Yên Hưng
trước đây); huyện Đông Triều; huyện Tiên Yên; huyện Bình Liêu; huyện
Ba Chẽ; huyện đảo Cô Tô, huyện Đầm Hà, huyện Hải Hà; huyện Hoành
Bồ; huyện Vân Đồn.
Quảng Yên là một thị xã thuộc tỉnh Quảng Ninh. Ngày 25 tháng 11
năm 2011, thị xã Quảng Yên được thành lập trên cơ sở huyện Yên Hưng
của tỉnh Quảng Ninh.
Thị xã Quảng Yên là thị xã đồng bằng ven biển ở phía Tây Nam tỉnh
Quảng Ninh, là vùng đất có lịch sử hình thành và phát triên lâu đời với
nhiều nét văn hoá đặc sắc.
Thị xã Quảng Yên có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch văn hoá.
Tài nguyên du lịch văn hoá của Quảng Yên phong phú và đa dạng. Hiện
Quảng Yên có 237 di tích lịch sử văn hóa, trong đó có 33 di tích đã được
công nhận là di tích lịch sử văn hóa quốc gia, trong đó đặc biệt là di tích
lịch sử Bạch Đằng. Cùng với những di tích lịch sử văn hóa đó, tại Quảng
Yên cũng có nhiều lễ hội khá nổi tiếng như lễ hội Bạch Đằng, lễ hội Tiên
Công, lễ hội Xuống Đồng…nhiều phong tục tập quán, truyền thống văn
hóa cổ truyền của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ cũng được lưu giữ cùng
với nhiều món ăn, hải sản độc đáo.
Ngoài ra, Quảng Yên cũng có những thuận lợi để đẩy mạnh phát
triển du lịch nhờ vị trí gần các điểm du lịch đang được đầu tư mạnh mẽ như
báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu về văn hoá, mạng internet, các báo
cáo, quy hoạch phát triển du lịch Quảng Ninh giai đoạn 2011- 2020.
- Phương pháp thực địa: trực tiếp thu thập thông tin, quan sát… tại
địa bàn thị xã Quảng Yên .
7
- Phương pháp tổng hợp: trên cơ sở những thông tin về lý luận cũng
như thực tiễn đã thu thập được, tập hợp để rút ra những ý chính, khai quát
vấn đề.
- Phương pháp so sánh: đối chiếu để tìm ra những điểm tương đồng
cũng như khác biệt giữa các nhân tố nghiên cứu.
5. Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hoá giá trị các tài nguyên du lịch văn hoá của thị xã
Quảng Yên tỉnh Quảng Ninh.
- Thông qua khảo sát thực tế hoạt động du lịch ở thị xã Quảng Yên
để đánh giá được những điểm mạnh và yếu của hoạt động du lịch văn hoá
của thị xã Quảng Yên.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển du lịch văn hoá thị xã
Quảng Yên tỉnh Quảng Ninh.
6. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu , kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục ra, phần
nội dung chính của luận văn gồm 3 chương sau:
Chương 1: Lý luận chung về du lịch văn hoá và các điều kiện phát
triển du lịch văn hoá ở huyện Yên Hưng (thị xã Quảng Yên) tỉnh Quảng
Ninh.
Chương 2: Thực trạng du lịch văn hoá ở huyện Yên Hưng (thị xã
Quảng Yên) tỉnh Quảng Ninh.
Chương 3: Giải pháp nhằm phát triển du lịch văn hoá ở huyện Yên
Hưng (thị xã Quảng Yên) tỉnh Quảng Ninh.
9
1.1.3.Tài nguyên du lịch văn hoá
Tài nguyên du lịch văn hoá là cơ sở để tạo nên các loại hình du lịch
văn hoá. Tài nguyên du lịch văn hoá là tất cả những gì do xã hội cộng đồng
tạo ra có sức hấp dẫn du khách được đưa vào phục vụ phát triển du lịch. Nó
được phân làm hai loại là tài nguyên du lịch văn hoá vật thể và tài nguyên
du lịch phi vật thể.
Tài nguyên du lịch vật thể như: Những công trình kiến trúc, mỹ
thuật, điêu khắc, trang phục, nhà ở, bảo tàng…có giá trị văn hoá.
Tài nguyên du lịch phi vật thể như: Ngôn ngữ, tôn giáo, tín ngưỡng,
phong tục tập quán, lễ hội, ẩm thực, văn học nghệ thuật, âm nhạc, vũ đạo,
làng nghề….
1.1.4.Khách du lịch
Theo luật du lịch: “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi
du lịch, trừ trường hợp đi học,làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở
nơi đến”[30,tr.9]
Khách du lịch được chia làm khách du lịch nội địa và khách du lịch
quốc tế:
- Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài
thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm lãnh thổ Việt Nam.
- Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định
cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch. Công dân Việt Nam, người nước
ngoài cư trú ở Việt Nam ra nước ngoài du lịch.
1.1.5.Điểm du lịch
Theo PGS-TS Trần Đức Thanh: “theo nghĩa chung nhất, điểm du
lịch là những chỗ hoặc cơ sở mà khách du lịch hướng đến và lưu trú, điểm
du lịch có thể là những chỗ không có dân cư. Đó là nghĩa rộng của điểm du
lịch. Tuy nhiên trong kinh tế du lịch, điểm du lịch là một nơi, một vùng hay
của các cơ quan nhà nước trong việc quản lý nhà nước về du lịch.
- Cấp, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về hoạt động du lịch.
- Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm
pháp luật về du lịch.
Đối với chính quyền địa phương
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn
của mình và theo sự phân cấp của Chính phủ có trách nhiệm thực hiện quản
lý nhà nước về du lịch tại địa phương; cụ thể hóa chiến lược, quy hoạch, kế
hoạch, cơ chế, chính sách phát triển du lịch phù hợp với thực tế tại địa
phương và có biện pháp bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, vệ sinh
môi trường tại khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch.
Đối với cơ sở, đơn vị kinh doanh du lịch
- Thành lập doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh theo quy định của
pháp luật.
- Kinh doanh du lịch theo đúng nội dung trong giấy đăng ký kinh
doanh, giấy phép đăng ký kinh doanh du lịch đối với ngành, nghề cần có
giấy phép.
- Thông báo bằng văn bản với cơ quan nhà nước về du lịch có thẩm
quyền thời điểm bắt đầu kinh doanh hoặc khi có thay đổi nội dung trong
giấy đăng ký kinh doanh, giấy phép kinh doanh du lịch.
- Thông tin rõ ràng, công khai, trung thực số lượng, chất lượng, giá
cả các dịch vụ, hàng hoá cung cấp cho khách du lịch; thực hiện đầy đủ các
nghĩa vụ đã cam kết với khách du lịch; bồi thường thiệt hại cho khách du
lịch do lỗi của mình gây ra.
- Áp dụng biện pháp bảo đảm an toàn tính mạng, sức khoẻ, tài sản
của khách du lịch; thông báo kịp thời cho cơ quan có thẩm quyền về tai nạn
hoặc nguy cơ rủi ro có thể xảy ra đối với khách du lịch.
12
- Thực hiện chế độ báo cáo, thống kê, kế toán, lưu trữ hồ sơ, tài liệu
thăm dò, khai quật khảo cổ, bảo quản di tích lịch sử danh lam thắng cảnh,
di vật cổ vật bảo vật quốc gia, tu bổ và phục hồi di tích lịch sử danh lam
thắng cảnh.
Việc bảo tồn di sản văn hoá nhằm phát hiện, khôi phục, tu bổ lại
phòng ngừa và hạn chế nguy cơ bị hư hại, làm thay đổi những yếu tố
nguyên gốc của các di sản văn hoá.
1.2.Điều kiện phát triển du lịch văn hoá ở huyện Yên Hƣng (thị xã
Quảng Yên) tỉnh Quảng Ninh
1.2.1.Điều kiện bên trong
1.2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển thị xã Quảng Yên tỉnh
Quảng Ninh.
Quảng Yên là vùng đất có lịch sử phát triển lâu đời. Cách đây
khoảng 3000 đến 3500 năm khu Hoàng Tân của thị xã Quảng Yên đã có
người Viêt cổ sinh sống. Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy ở đây rất nhiều
công cụ sản xuất sinh hoạt bằng đá như: rìu, búa, đục chày nghiền của nền
văn hoá Hạ Long thời kỳ đá mới. Tiếp đó là các bình đồng, thạp đồng,
vòng tay đồng, mũi tên đồng, rìu đồng…của nền văn minh Đông Sơn.
Lịch sử hình thành Quảng Yên gắn liền với lịch sử hình thành và
phát triển của tỉnh Quảng Ninh vì một thời gian dài thị trấn Quảng Yên đã
từng là trung tâm chính trị của một vùng đất rộng lớn từ Móng Cái đến
Uông Bí và sông Bạch Đằng.
14
Theo Đại Việt sử ký toàn thư bản khắc năm Chính Hoà 18(1697): đời
Đinh Lê Quảng Yên thuộc trấn Triều Dương.
+ Năm Thuận Thiên thứ 14(1023) đời Lý Thái Tổ: đổi trấn Triều
Dương thành châu Vĩnh An.
+ Năm Thiên ứng Chính Bình thứ 11(1242) đời Trần Thái Tông gọi
Châu Vĩnh An là lộ Hải Đông.
+Năm 1428 đựơc gọi là Yên Bang( An Bang). Từ năm Gia Thái đời
Hoành Bồ, phía Đông giáp Thành phố Hạ Long, phía Nam giáp đảo Cát
Hải và cửa Nam Triệu, phía Tây giáp huyện Thủy Nguyên (Thành phố Hải
Phòng).
Quảng Yên nằm ở cửa ngõ phía Nam đi vào Quảng Ninh và kề thành
phố Hạ Long và trên nhiều tuyến giao thông quan trọng. Về đường bộ có
các trục đường quốc lộ 18, 10; về đường sắt gần tuyến đường Hà nội – Hạ
Long; về đường thủy nằm trên tuyến đường ven biển Bắc Bộ nối Hải
Phòng – Quảng Ninh với các tỉnh ven biển trong nước và quốc tế. Do có vị
trí như vậy nên mặc dù Quảng Yên nằm ở vị trí tương đối tách biệt nhưng
vẫn có nhiều lợi thế trong lưu thông thương mại, liên kết không gian kinh
tế với thành phố Hạ Long và các tỉnh trong nước, quốc tế.
1.2.1.3.Điều kiện tự nhiên
a.Địa hình
Với tổng diện tích tự nhiên là 31.343,99 ha, trong đó đất nông nghiệp
chiếm 19.798, 09 ha, phi nông nghiệp là 10.670,64 ha và đất chưa sử dụng
là 875,26 ha, địa hình lãnh thổ Quảng Yên tương đối đa dạng. Hệ thống các
sông lạch trong thị xã đã chia cắt lãnh thổ của Quảng Yên thành các đảo nhỏ.
Đóng góp lớn nhất vào việc phân cắt địa hình trong địa bàn thị xã phải kể
đến sông Chanh - một nhánh lớn của sông Bạch Đằng. Sông này chia Quảng
Yên thành hai khu vực địa hình rất rõ rệt là khu vực Hà Bắc và Hà Nam.
Khu vực Hà Bắc ở về phía tả ngạn sông Chanh với địa hình chủ yếu
là đồi núi thấp và nghiêng dần về phía biển. Khu vực này chiếm khoảng
62% tổng diện tích tự nhiên toàn thị xã.
Khu vực Hà Nam ở phía hữu ngạn sông Chanh thực chất là vùng bãi
bồi mới được khai phá từ khoảng thế kỷ 15 bằng việc quai đê lấn biển, mở
rộng các bãi bồi ven sông và bãi sú vẹt ven biển. 16
b.Khí hậu
của các tàu có trọng tải lớn, thuận lợi để xây dựng cảng biển phục vụ phát
triển du lịch.
d.Sinh vật
Quảng Yên có sự phong phú và đa dạng về sinh vật do ảnh hưởng
của sự phong phú đa dạng của địa hình. Với chiều dài hơn 30km đường bờ
biển và diện tích bãi bồi rộng lớn, nguồn thủy hải sản của Quảng Yên vô
cùng phong phú về chủng loại cả thủy hải sản tự nhiên lẫn các loài được
nuôi trồng. Trong số đó, có nhiều loài thủy hải sản quý, có giá trị kinh tế
cao như tôm he, tôm rảo, cá đối, cá song, rau câu, sò huyết, hầu… Đây
chính là điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế nói chung và phát triển
du lịch nói riêng. Trên tổng diện tích tự nhiên Quảng Yên hiện nay có
khoảng 5.200ha rừng, trong đó có hơn 3.300ha rừng tự nhiên và gần 1.900
ha rừng trồng. Trong hơn 3000ha rừng tự nhiên của thị xã, ngoài một diện
tích lớn rừng nhiệt đới trên vùng đồi núi thấp thì vùng bãi lầy ven cửa sông,
ven các đảo còn có một diện tích rừng ngập mặn tương đối lớn với thành
phần chủ yếu là sú, vẹt và đước. Mặc dù các loại rừng này có thành phần
loài không phong phú, rừng ngập mặn không điển hình nên ít có ý nghĩa
đối với hoạt động du lịch nhưng cũng góp phần tạo nên cảnh quan đẹp với
môi trường sinh thái trong lành cho cuộc sống của nhân dân trong vùng nói
chung và cho khách du lịch nói riêng.
Đối với hoạt động du lịch hiện nay, các khu rừng trồng ít có giá trị
hơn nhiều so với rừng tự nhiên. Song đối với Quảng Yên, các khu rừng
trồng hiện nay lại có giá trị đối với du lịch do diện tích rừng trồng ở đây
chủ yếu là rừng thông. Các khu rừng thông này ngoài giá trị kinh tế còn tạo
nên cảnh quan đẹp, làm tăng giá trị của vùng đồi núi thấp của Quảng Yên
nói riêng và Quảng Ninh nói chung.
18
Bên cạnh đó, các loài cây ăn quả đang ngày càng được trồng rộng rãi
trên địa bàn thị xã với nhiều loại quả có khả năng đáp ứng nhu cầu tiêu
300 cầu cống, bao gồm:
-Hệ thống đường quốc lộ: có chiều dài 23km, trong đó có quốc lộ 18
từ Đông Mai đến Yên Lập dài 8,5 km và quốc lộ 10 từ Biều Nghi đến phà
Rừng dài 14km.
- Hệ thống đường xã: gồm có 5 tuyến với tổng chiều dài 35,6 km.
Trong đó có 32,1 km đường đã được đổ nhựa đường và xi măng.
- Hệ thống đường giao thông nông thôn khá tốt, 100% số xã đã có
đường giao thông tới trung tâm xã.
- Hệ thống bến bãi: toàn thị xã có 1 bến xe liên thị xã là bến xe
Quảng Yên và có bến xe nội thị xã là bến xe Liên Vị.
- Thị xã Quảng Yên có 3 mặt tiếp giáp với sông biển nên có 80,5 km
đường thuỷ trong đó có 1 bến phà, 1 bến tàu vận chuyển khách, 2 bến đò, 7
bến neo đậu tàu thuyền.
Những năm qua, mạng lưới giao thông đường bộ đã được chú ý đầu
tư nâng cấp. Một số công trình nâng cấp hệ thống giao thông đã được hoàn
thành như tuyến cầu Chanh- Phong Cốc- Liên vị.
1.2.2. Điều kiện bên ngoài
Quảng Yên là một địa bàn phát triển quan trọng của tỉnh Quảng Ninh
và là cầu nối của trục kinh tế Hải Phòng - Quảng Ninh, trong chiến lược
phát triển của tỉnh Quảng Ninh và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Quảng
Yên được xác định là trung tâm du lịch của vùng du lịch trọng điểm Yên
Tử -Bạch Đằng- Hạ Long.
20
Ngoài ra, do lợi thế về mặt vị trí tương quan với thành phố Hải
Phòng và thành phố Hạ Long cũng như vịnh Hạ Long – di sản thiên nhiên
thế giới, nằm kề với các quốc lộ 18 và quốc lộ 10 vừa được nâng cấp rất
thuận lợi cho giao thông vận chuyển khách đường bộ. Cùng với vị trí tiếp
giáp với Vịnh Hạ Long và đảo Cát Bà(sẽ xây dựng các tuyến đường bộ và
đường thuỷ nối trực tiếp nhằm giúp ngắn khoảng cách giữa thành phố Hạ
22
CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG DU LỊCH VĂN HOÁ Ở HUYỆN YÊN
HƢNG (THỊ XÃ QUẢNG YÊN) TỈNH QUẢNG NINH
2.1. Tài nguyên du lịch văn hoá ở huyện Yên Hƣng (thị xã Quảng Yên)
2.1.1.Tài nguyên du lịch văn hoá vật thể
2.1.1.1. Các di tích lịch sử
* Bãi cọc Bạch Đằng
Sông Bạch Đằng là con sông gianh giới về phía tây nam giữa Quảng
Ninh và Hải Phòng. Đây là con sông không dài( chỉ khoảng 32 km) nhưng
là con sông sâu và rộng nhất Quảng Ninh. Sông Bạch Đằng là con đường
thủy tốt nhất để đi vào Hà Nội (Thăng Long ngày xưa) từ miền nam Trung
Quốc, từ cửa sông Nam Triệu các chiến thuyền đi vào sông Kinh Thầy,
sông Đuống và cuối cùng là sông Hồng đoạn chảy qua Hà Nội.
Sông Bạch Đằng mở đầu trang sử chói lọi của mình bằng chiến
thắng vang dội của Ngô Quyền vào năm 938: Ngô Quyền đánh thắng quân
xâm lược Nam Hán. Tiếp đó là Trận thủy chiến sông Bạch Đằng năm 981:
Hoàng đế Lê Đại Hành đập tan quân Tống xâm lược. Đến năm 1288: Hưng
Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đại thắng quân xâm lược Nguyên ( trong cuộc
kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ 3.
Bãi cọc Bạch Ðằng nằm trong khu đầm nước của phường Yên Giang
giáp đê sông Chanh thuộc phường Yên Giang, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng
Ninh. Bãi cọc này được sử dụng trong trận chiến chống quân Nguyên Mông
vào năm 1288. Bãi cọc bao gồm hàng trăm cọc bằng những thân cây gỗ lim
của giặc.
Ngày 9 tháng 4 năm 1288 khi đạo binh của Ô Mã Nhi đến cửa sông
Bạch Đằng, Trần Quốc Tuấn đã cho thuyền nhỏ ra khiêu chiến, khi nước
triều rút, các cánh quân mai phục từ các nhánh sông lao ra quyết chiến làm
cho quân địch không kịp trở tay, cùng với chiến thuật hoả công, chỉ trong