Web site kinh doanh thuốc thú y và thủy sản - Pdf 32

Đồ án tốt nghiệp GVHD:TS Lưu Ngọc Quang
Phần I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ GIỚI THIỆU MỘT SỐ
CÔNG CỤ LẬP TRÌNH
Chương I. TỔNG QUAN VỀ INTERNET
I.1. INTERNET
I.1.1. TÌM HIỂU SƠ LƯỢC VỀ INTERNET
Internet là một mạng máy tính có phạm vi toàn cầu bao gồm nhiều mạng nhỏ cũng
như các máy tính riêng lẻ được kết nối với nhau để có thể liên lạc và trao đổi thông tin.
Thông qua mạng Internet bạn có thể viết thư, đọc báo, xem bản tin, giải trí, tra cứu... Đặc
biệt từ năm 1993 trở đi, mạng Internet không chỉ cho phép chuyển tải thông tin nhanh
chóng mà còn giúp cung cấp thông tin, nó cũng là diễn đàn và là thư viện toàn cầu đầu tiên.
Các thông tin được đặt rải rác trên toàn cầu có thể truyền thông được với nhau nhờ một
thiết bị là Modem và đường dây điện thoại.
Ngày nay, số lượng người truy cập vào mạng Internet trên toàn thế giới đang ngày
càng tăng lên nhanh chóng. Qua đó có thể thấy rằng Internet đã đưa chúng ta vào thế giới
có tầm nhìn rộng hơn.
Hệ điều hành UNIX là hệ phát triển mạnh với rất nhiều công cụ hỗ trợ và đảm bảo
các phần mềm ứng dụng có thể chuyển qua lại trên các họ máy tính khác nhau (máy mini,
máy tính lớn và máy vi tính). Bên cạnh là hệ điều hành UNIX BSD còn cung cấp nhiều thủ
tục Internet cơ bản, đưa ra khái niệm Socket và cho phép chương trình ứng dụng thâm nhập
vào Internet một cách dễ dàng.
Internet có thể tạm hiểu là liên mạng gồm các máy tính nối với nhau theo một nghi
thức và một số thủ tục chung gọi là TCP/IP (Transmission Control Protocol /Internet
Protocol). Thủ tục và nghi thức này trước kia đã được thiết lập và phát triển cho một đề án
nghiên cứu của Bộ Quốc Phòng Mỹ với mục đích liên lạc giữa các máy tính nối đơn lẻ và
các mạng máy tính với nhau mà không phụ thuộc vào các hãng cung cấp máy tính. Sự liên
lạc này vẫn được bảo đảm liên tục ngay cả trong trường hợp có nút trong mạng không hoạt
động.
Trên quan điểm Client/Server thì có thể xem Internet như là mạng của các mạng của
các Server, có thể truy xuất bởi hàng triệu Client. Việc chuyển và nhận thông tin trên
Internet được thực hiện bằng nghi thức TCP/IP. Nghi thức này gồm hai thành phần là

tin cậy vì nó có liên quan đến vấn đề sinh tử. Kế hoạch ARPANET đã đưa ra nhiều đường
nối giữa các máy tính. Điều quan trọng nhất là các máy tính có thể gởi các văn thư bởi bất
kỳ con đường khả dụng nào, thay vì chỉ qua một con đường cố định. Đây chính là nơi mà
vấn đề về giao thức đã xuất hiện.
Web site kinh doanh thuốc thú y và thủy sản. SVTH: Nguyễn Đăng Trình
2
Đồ án tốt nghiệp GVHD:TS Lưu Ngọc Quang
I.1.3. GIAO THỨC
Giao thức hay còn gọi là nghi thức là các phương tiện để làm cho sự thông tin trở
nên khả hữu. Đầu tiên ARPANET đã đưa ra giao thức Host-to-Host Protocol, nhưng giao
thức này không đáng tin cậy và nó chỉ giới hạn trong một số máy. Vào cuối năm 1970, một
số mạng đã xuất hiện như mạng UUCP đã nối được hàng trăm máy rồi hàng ngàn máy.
Vào cuối năm 1980 mạng NSFNET của National Science Foundation được phát triển để
nối 5 trung tâm siêu máy tính của nó. Đây là một mạng hấp dẫn cho tất cả các nhà nghiên
cứu và các viện đại học cũng như các viện nghiên cứu. Năm 1972, bắt đầu thế hệ thứ hai
của giao thức mạng, đã làm phát sinh ra một nhóm giao thức được gọi là Transmission
Control Protocol/ Internet Protocol viết tắt là TCP/IP. Năm 1983, TCP/IP là bộ giao thức
cho ARPANET, TCP/IP đã trở thành một trong những giao thức mạng được dùng rộng rãi
nhất. Sau cùng tất cả các mạng được tài trợ bởi cá nhân hay xã hội: mạng ARPANET,
MILNET, UUCP, BITNET, CSNET và NASA Science Internet đã liên kết trong một mạng
khu vực NSFNET và ARPANET giải tán và ngày càng có nhiều mạng khác thêm vào...
Ngày nay để thực hiện việc truyền thông qua mạng phải thông qua trình duyệt Web
và ta cũng cần một giao thức để thực hiện công việc này. Mặc dù hiện nay cũng đang có rất
nhiều giao thức để truyền thông tin nhưng nhìn chung có hai giao thức thường được các lập
trình viên sử dụng đó là: TCP/IP (IP: là giao thức Internet, TCP: giao thức truyền tải) và
giao thức UDP (giao thức gói dữ liệu người dùng).
Giao thức TCP/IP:
Hình 2: Mô hình mạng TCP/IP.
TCP/IP là một giao thức hướng kết nối (connection) thiết lập một kết nối truyền
thông giữa địa chỉ cổng IP. Liên kết này đảm bảo việc truyền dữ liệu trên mạng là không

để giải quyết việc này các nhà quản lý mạng đã chọn một hệ thống tên vùng (DNS) để quản
lý. Các địa chỉ IP được duy trì bởi một hệ thống máy phục vụ tên vùng. Các máy phục vụ
này có khả năng tìm kiếm địa chỉ IP tương ứng với tên vùng. Tuy nhiên liên lạc qua lại
giữa các máy tính chỉ là một vấn đề truyền thông tin trên mạng. Để một chương trình ứng
dụng như Mail, Chat, E-mail liên lạc với một ứng dụng khác như máy Server phục vụ thì
máy Server này phải có cách gửi dữ liệu đến các chương trình riêng bên trong một máy
tính. Địa chỉ cổng là địa chỉ 16 bit nằm bên trong một máy tính thường kết hợp với một
giao thức đặc biệt như TCP/IP, UDP. Một máy Server phải cài đặt chương trình ứng dụng
phục vụ lắng nghe các yêu cầu đến. Trong việc truyền nhận thông tin dựa trên TCP/IP, một
ứng dụng thiết lập một connection với một ứng dụng khác bằng cách gắn một socket cho
mỗi port number. Do đó sẽ không thể có hai ứng dụng dùng chung một port.
Bộ protocol TCP/IP bao gồm:
 TCP (Transmission Control Protocol): đây là loại protocol có cầu nối connection
oriented) cung cấp khả năng truyền dòng dữ liệu không lỗi, 2 chiều (full duplex) cho các
quá trình cho người sử dụng.
 UDP(User Datagram Protocol): loại protocol không thiết lập cầu nối
(connectionless) cho các quá trình của user. Không giống như TCP, nó không đảm bảo dữ
liệu khi truyền đi có đến nơi chính xác hay không.
 ICMP (Internet Control Message Protocol): protocol xử lý lỗi và điều khiển thông tin
giữa các gateway và các host.
 IP (Internet Protocol): IP là protocol cung cấp dịch vụ phân phối các package cho
TCP, UDP và ICMP.
 ARP (Address Resolution Protocol): Protocol ánh xạ 1 địa chỉ Internet thành địa chỉ
phần cứng(MAC address).
 RAPR(Address Resolution Protocol): Protocol ánh xạ một địa chỉ phần cứng thành
địa chỉ IP.
Web site kinh doanh thuốc thú y và thủy sản. SVTH: Nguyễn Đăng Trình
4
Đồ án tốt nghiệp GVHD:TS Lưu Ngọc Quang
Mạng Internet sử dụng giao thức TCP/IP: TCP/IP được thiết kế để có thể kết nối các

Close Stream and
Socket
Close Stream and Socket
Start
App
Continue?
yesno
Disconnect
Connect attempt
Exchange data
Đồ án tốt nghiệp GVHD:TS Lưu Ngọc Quang
Tên được thiết kế để giúp cho việc truy cập được dễ dàng cho người sử dụng. Địa chỉ IP
dùng cho các máy tính và các thiết bị mạng liên lạc với nhau.
Tất cả các máy trong hệ thống mạng (LAN, WAN, Internet) đều có ít nhất 2 địa chỉ:
địa chỉ vật lý và địa chỉ Internet. Ðịa chỉ vật lý còn được gọi là Ethernet address là một dãy
bit gồm 48 bit được gán bởi các nhà sản xuất, địa chỉ này được biểu diễn dưới dạng số thập
lục phân (hecxa).
Như thế mỗi card mạng (interface card) có một địa chỉ duy nhất địa chỉ này được
quy định từ nhà sản xuất card mạng. Tuy nhiên địa chỉ vật lý không thể hiện khả năng xác
định vị trí của hệ thống trên mạng. Ðể giải quyết vấn đề đó người ta đưa ra địa chỉ IP(IP
Address).
Ðịa chỉ IP phải là duy nhất trên mạng và có một dạng thống nhất, mỗi địa chỉ IP
gồm có 4 byte và có 2 thành phần: địa chỉ đường mạng (Network ID) và địa chỉ host (Host
ID).
Phân loại địa chỉ IP:
Có tất cả 5 lớp địa chỉ IP nhưng hiện nay có 3 lớp được sử dụng là lớp A, B, và C.
 Lớp A: Dùng cho hệ thống mạng có số lượng địa chỉ host rất lớn, số lượng này có
thể lên đến 16 triệu địa chỉ host. Ðể có thể nhận biết địa chỉ thuộc lớp nào người ta căn cứ
vào bit đầu tiên trong phần network ID
 Lớp B: Dùng cho hệ thống mạng trung bình số lượng Host ID lên đến khoảng 65

Khả dụng ở nhiều học viện giáo dục hoặc công ty lớn. Thay vì sử dụng Modem, những
tổ chức này thuê bao một đường truyền chuyên dụng để cung cấp truy nhập Internet 24/24
giờ.
I.2. CÁC DỊCH VỤ THÔNG TIN TRÊN INTERNET
I.2.1. DỊCH VỤ MIỀN (DNS: Domain Name System)
Việc định danh các phần tử của liên mạng bằng các con số như trong địa chỉ IP rõ
ràng là không làm cho người sử dụng hài lòng, bởi chúng khó nhớ, dễ nhầm lẫn. Vì thế
người ta đã xây dựng hệ thống đặt tên (name) cho các phần tử của Internet, cho phép người
sử dụng chỉ cần nhớ đến các tên chứ không cần nhớ đến các địa chỉ IP nữa. Ta có thể biết
thêm thông tin cách hoạt động của dịch vụ này thông qua RFC 1035.
Hệ thống này được gọi là DNS (Domain Name System). Ðây là một phương pháp
quản lý các tên bằng cách giao trách nhiệm phân cấp cho các nhóm tên. Mỗi cấp trong hệ
thống được gọi là một miền (domain), các miền được tách nhau bởi dấu chấm. Số lượng
domain trong một tên có thể thay đổi nhưng thường có nhiều nhất là 5 domain. Domain có
dạng tổng quát là local-part@domain-name.
trong đó :
+ Local-part thường là tên của một người sử dụng hay nhóm người sử dụng do
người quản lý mạng nội bộ qui định.
+ Còn domain-name được gán bởi các Trung tâm thông tin mạng (NIC) các cấp.
Domain cấp cao nhất là cấp quốc gia, mỗi quốc gia được gán một tên miền riêng biệt gồm
hai chữ cái. Ví dụ vn (Việt Nam), us (Mỹ), ca (Canada), fr (Pháp), v.v...Trong từng quốc
gia lại được chia thành 6 domain cao nhất và tiếp tục đi xuống các cấp thấp hơn.
Domain Phạm vi sử dụng
gov các tổ chức chính phủ (phi quân sự)
edu các cơ sở giáo dục
com các tổ chức kinh doanh, thương mại
mil các tổ chức quân sự
org các tổ chức khác
net các tài nguyên mạng
I.2.2. ĐĂNG NHẬP TỪ XA (TELNET)

trong một số trường hợp nó có thể đổi tên, tạo, xoá thư mục….FTP Client sử dụng dịch vụ
để lấy (get) các tập tin từ FTP Server về máy của mình (download) hoặc gởi (put) các tập
tin lên FTP server (upload).
FTP theo nghĩa tiếng việt là nghi thức truyền tập tin giữa các máy tính này đến máy
tính khác thông qua mạng. Nếu như nghi thức TCP/IP gồm có các lớp Application, TCP,
IP, Network, Datalink và Physical thì FTP thuộc lớp ứng dụng (Application).
WWW là một dịch vụ hấp dẫn, nó thay thế hầu hết những chức năng của FTP. Tuy
nhiên chỉ có FTP mới cho phép sao chép tập tin từ máy tính Client đến Server. Nếu một
người dùng từ xa muốn làm điều này thì chắc chắn họ phải dùng FTP. Những loại tập tin có
Web site kinh doanh thuốc thú y và thủy sản. SVTH: Nguyễn Đăng Trình
8
telnet <domain-name or IP-address>
ftp>put source-file destination-file
ftp>get source-file destination-
file
Đồ án tốt nghiệp GVHD:TS Lưu Ngọc Quang
thể truyền được bằng FTP rất phong phú, từ các tập tin tư liệu (Document) cho đến các tập
tin Multimedia như tập tin hình ảnh, âm thanh.
I.2.4. THƯ ĐIỆN TỬ (Electronic Mail)
Là dịch vụ được sử dụng nhiều nhất và có hiệu quả nhất. Người gởi chỉ cần soạn
thảo thư (giống như soạn thảo văn bản). Khai báo địa chỉ E-mail của người nhận trên
Internet rồi thực hiện một số thao tác theo mẫu hướng dẫn. Bức thư điện được chuyển đi
và cuối cùng lưu trữ trong máy của người nhận. Người nhận cũng chỉ thực hiện một số thao
tác đơn giản để lấy thư, đọc thư và nếu cần thì cho in ra. Cách liên lạc này thuận tiện hơn
nhiều so với gởi thư thông thường qua bức điện hoặc Fax, lại rẻ và nhanh hơn. Cách thực
hiện việc chuyển thư không cần phải kết nối trực tiếp với nhau để chuyển thư, thư có thể
được chuyển từ máy này đến máy khác cho tới máy đích. Giao thức truyền thống sử dụng
cho hệ thống thư điện tử của Internet là SMTP (Simple Mail Transfer Protocol). Cơ chế
hoạt động của thư điện tử (E-mail):
Hình 4: Sơ đồ hoạt động của mạng E-mail

Phần khác của ứng dụng thư điện tử là cho phép người sử dụng đính kèm
(attachments) theo thư một tập tin bất kỳ (có thể dạng nhị phân chẳng hạn chương trình
chạy). E-mail đã và đang hết sức thành công đến nỗi những người sử dụng Internet phục
vụ dùng nó đối với hầu hết các trao đổi của họ. Một lý do làm E-mail Internet phổ biến là
vì việc thiết kế nó rất cẩn thận: giao thức làm cho việc "phát thư" có độ tin cậy cao. Không
chỉ hệ thống thư tín trên máy của người gởi tương tác trực tiếp trên máy của người nhận
mà giao thức còn đặt tả một thông điệp không thể bị xoá bởi người gởi cho đến khi người
nhận đã thật sự có một phiên bản của thông điệp trên bộ lưu trữ (đĩa cứng chẳng hạn) của
họ.
Như vậy để gởi/nhận thư người sử dụng chỉ cần quan tâm tới cách sử dụng chương
trình E-mail Client. Hiện nay có nhiều chương trình E-mail Client như Microsoft Outlook
Express, Eudora Pro, Peagasus mail,....
I.2.5. TÌM KIẾM TỆP (Archie)
Phát triển tại đại học McGill ở Canada, Archie là một loại thư viện khổng lồ sẽ tự
động và đều đặn tạo ra một số lớn các thông tin gởi đến máy chủ trên Internet và lập chỉ
mục các tập tin của chúng để tạo ra một cơ sở dữ liệu duy nhất có thể tìm kiếm được.
CSDL này còn là mục lục của dữ liệu danh mục, một sự biên dịch các tập tin có sẵn trên
mọi máy chủ. Archie quét qua các máy chủ Internet một cách thường xuyên, và CSDL này
thường xuyên được cập nhật. Thực sự thì Archie không phải là một hệ thống độc lập, thay
vì vậy nó là một nhóm các máy chủ. Mỗi máy chủ Archie đáp ứng cho sự tra hỏi các máy
chủ Internet của chính nó để tạo nên cơ sở dữ liệu cho chính nó.
I.2.6. GOPHER
Hệ thống Gopher phát triển bởi đại học Minnesota và được miễn phí cho các hoạt
động phi lợi nhuận. Gopher có thể được dùng trên một số hệ thống máy tính như: UNIX,
DOS, Microsoft Windows, Macintosh, OS/2...Phần mềm Client chạy trên máy tính của bạn
có thể chạy trên bất kỳ máy nào của Gopher. Với Gopher bạn có thể đi xuyên qua Internet
và đi đến những nơi mà không có người dùng nào đã từng đi đến, cách mà nó thực hiện bởi
tổng hợp các công cụ Internet như: Telnet, FTP để khi bạn tìm ra một đề mục tương quan
đến những gì bạn đang tìm kiếm, bạn có thể đi trực tiếp đến nó mà không cần một trình tiện
ích, hãy nhập vào địa chỉ của mục tiêu việc tìm kiếm....Gopher sẽ lấy tất cả điều này cho

Web site là gì?
Web hình thành từ hàng triệu Web site trên Internet. Web site là tập hợp trang Web
do cá nhân hoặc công ty đăng ký hiển thị trên Web. Một Web site tiêu biểu thường gồm
nhiều trang Web, bắt đầu bằng trang chủ (home page), liệt kê nội dung của Site. Một Web
site tiêu biểu còn chứa siêu liên kết dẫn đến những trang Web còn lại trong phạm vi site và
đến các web site khác. Các Web site có thể chỉ gồm một trang do cá nhân tạo thành hoặc là
một sản phẩm của công ty và chứa vài trăm trang. Mỗi trang Web có một địa chỉ Internet
không trùng lặp gọi là URL (Uniform Resource Locator). Bạn có thể tạo một Web site bằng
HTML (Hypertext Markup Language), DHTML, XML...
HTML là ngôn ngữ lập trình cho phép mọi máy tính kết nối với Web để truy cập và
xem trang Web, định hướng di chuyển qua chúng bằng siêu liên kết. Web site được các
máy tính - gọi là máy phục vụ Web (Web Server) - gởi lên Web. Máy phục vụ và máy tính
cho phép các máy khách truy cập trên mạng. Máy phục vụ thường chia sẻ tập tin với máy
khách nào đăng nhập nó. Máy phục vụ Web sử dụng phần mềm máy phục vụ HTTP để
cung cấp tài liệu HTML khi nhận được yêu cầu từ chương trình trên máy khách kết nối với
Web site kinh doanh thuốc thú y và thủy sản. SVTH: Nguyễn Đăng Trình
11
Đồ án tốt nghiệp GVHD:TS Lưu Ngọc Quang
Web, chẳng hạn như trình duyệt Web. Trình duyệt Web (Web Brower) là chương trình cho
phép bạn định vị, yêu cầu và hiển thị tài liệu trên World Wide Web.
Cơ chế hoạt động của Web server
 Máy server Web dùng giao thức HTTP để lấy tài nguyên Web xác định thông qua
URL. HTTP là một giao thức mức ứng dụng được thiết kế sao cho truy cập tài nguyên
Web nhanh chóng và hiệu quả. Giao thức này dựa vào mô hình request-reponse. Dịch vụ
Web xây dựng theo mô hình client/server, trong đó Web browser đóng vai trò là Client gởi
các yêu cầu dưới dạng URL đến Web server. Web server trả lời bằng cách trả về một trang
HTML (Hypertext Markup Language).
 Trang HTML có thể là một trang tĩnh, tức là nội dung của nó đã có dạng xác định và
được lưu trên Web site hoặc một trang Web động (nội dung không xác định trước) mà
Server tạo ra tại thời điểm Client yêu cầu để trả lời cho yêu cầu của Client hoặc một trang

Web site kinh doanh thuốc thú y và thủy sản. SVTH: Nguyễn Đăng Trình
12
Đồ án tốt nghiệp GVHD:TS Lưu Ngọc Quang
một siêu liên kết. Sau đó người sử dụng có thể nhảy đến một file bất kỳ bằng cách click vào
siêu liên kết tương ứng trong Directory listing.
I.2.9. DỊCH VỤ CHAT
Chat là tài nguyên được mọi người sử dụng trên Internet ưa chuộng nhất. Nó cho
phép bạn thiết lập các cuộc đối thoại thông qua máy vi tính với người dùng khác trên
Internet. Sau khi bạn đã thiết lập được hệ thống này, những gì bạn gõ trên máy tính của bạn
gần như tức thời được gởi đến máy tính kia và ngược lại. Những cuộc trao đổi thông qua
chương trình Chat là sự đối thoại giữa hai người với nhau thông qua ngôn ngữ viết nên sẽ
chậm hơn so với đối thoại trực tiếp bằng lời nói nhưng có lợi ích nhất là với những người
không cùng ngôn ngữ vì gõ-đọc dễ hơn nghe-nói và trong một số trường hợp khác thì gõ
(viết) dễ hơn là nói.
I.2.10. INTERNET PHONE
Internet phone là một dịch vụ mới được phát triển tại Việt Nam, nó cho phép người
dùng máy tính có kết nối Internet và được trang bị card âm thanh, microphone để đàm thoại
với người dùng máy điện thoại ở bất cứ nơi đâu.
Web site kinh doanh thuốc thú y và thủy sản. SVTH: Nguyễn Đăng Trình
13
Đồ án tốt nghiệp GVHD:TS Lưu Ngọc Quang
Chương II. TÌM HIỂU CƠ SỞ DỮ LIỆU ORACLE
II.1. TỔNG QUAN VỀ ORACLE
II.1.1. ORACLE LÀ GÌ?
Oracle là một hệ quản trị cơ sở dữ liệu quan hệ client/server. Để đi sâu vào nghiên
cứu cơ sở dữ liệu Oracle cần có một số khái niệm cơ bản về hệ quản trị cơ sở dữ liệu
quan hệ.
1. Hệ quản trị cơ sở dữ liệu quan hệ. (RDBMS Relation Database
Management system)
Mỗi cơ sở dữ liệu quan hệ là một tập hợp dữ liệu được tổ chức trong những bảng

Các hệ thống này dùng ứng dụng truy xuất trực tiếp các file dữ liệu trên một đĩa
cứng cục bộ hoặc một hệ phục vụ file mạng. Các hệ thống này thực hiện các dịch vụ CSDL
và truyền nhận logic như một phần của ứng dụng client. Trong việc thực thi này, ứng dụng
client đóng vai trò client và vai trò hệ phục vụ.
 Host_based system:
Hệ thống này thường dùng trong các mainframe và mini_computer. Những hệ thống
này thực thi tất cả hoặc hầu hết dịch vụ CSDL và chức năng của client trên một máy tính
trung tâm lớn. Người dùng xem và tác động đến ứng dụng client bằng cách dùng một thiết
bị đầu cuối từ xa. Truyền nhận giữa client và CSDL thực thi thực hiện trên một host
computer và host computer đóng vai trò của client và server.
 Client / server system:
Hệ thống này được thiết kế từ dịch vụ CSDL riêng lẻ đến client bằng cách cho phép
truyền nhận giữa chúng là mở và linh hoạt hơn.
 Dịch vụ CSDL được thực thi trên một máy tính mạnh, cho phép quản trị tập
trung, bảo mật và dùng chung tài nguyên. Do đó, hệ phục vụ trong client / server là CSDL
và hệ phục vụ của chính nó. Những ứng dụng client được thực thi trên các nền khác nhau
bằng cách dùng nhiều công cụ khác nhau. Quá trình này cho phép linh hoạt hơn và các ứng
dụng của người sử dụng có tính chất rất cao.
Hiện nay, nhiều tổ chức kết hợp sử dụng cả ba hệ thống này. Ưu, nhược điểm của
chúng có thể được tóm tắt qua bảng sau:
Đặc điểm File_based Host_based Client / Server
Giá cả Rẻ Đắt Biến động
Độ tin cậy Kém Cao Từ trung bình đến tốt
Tính bảo mật Kém Tốt Từ trung bình đến tốt
Phát triển ứng dụng Đòi hỏi kỷ năng
Phải có nhân viên
lành nghề
Phải có nhân viên
lành nghề
CSDL Trung bình(~ 50MB) Rất lớn(hàng GB) Rất lớn (hàng GB)

Oracle Enterprise Manager: Một phần mềm có giao diện rất tốt hỗ trợ cho việc quản lý
các đối tượng của cơ sở dữ liệu Oracle.
Develper 6.0, Developer/2000, Jdeveloper for Oracle 8i: gồm Oracle Form Builder,
Oracle Report Builder, Oracle Procedure Builder, Oracle Project Builder được tích hợp vào
môi trường phát triển.
Designer 2000: phát triển các ứng dụng Oracle.
Power Object: cung cấp môi trường phát triển ứng dụng nhanh với các đặc trưng kéo
thả và quản lý CSDL.
Oracle Names: Tạo các liên kết CSDL chứa các thông tin nút mạng trên một mạng
bằng cách sử dụng từ điển toàn cục chung Oracle Names.
Multi-protocol Interchange: cung cấp một nhu cầu giao tiếp trên các thủ tục khác biệt
bằng cách gửi thông điệp SQL* Net từ thủ tục này sang thủ tục khác.
Oracle Network Manager: Quản lý cấu hình và quản lý mạng CSDL phân tán được
thực hiện dễ dàng với Network Manager. Network Manager được sử dụng không chỉ để
quản lý từ điển Oracle Names mà còn tạo ra các file cấu hình cho các thành phần
Client/Server của SQL*Net và định nghĩa cho các đường kết nối cho các nút Multi-Protocol
Interchange.
II.2. GIỚI THIỆU VỀ CƠ SỞ DỮ LIỆU ORACLE
Web site kinh doanh thuốc thú y và thủy sản. SVTH: Nguyễn Đăng Trình
16
Đồ án tốt nghiệp GVHD:TS Lưu Ngọc Quang
II.2.1. LỚP VẬT LÝ VÀ LỚP LOGIC CỦA CSDL ORACLE
CSDL Oracle gồm có hai lớp: lớp vật lý và lớp logic.
a. Lớp vật lý
 Lớp vật lý của CSDL Oracle là một số tập tin nằm trên đĩa. Vị trí vật lý của những
tập tin này không liên quan đến chức năng của CSDL nhưng có thể liên quan đến hiệu năng
của CSDL. Dữ liệu trong những tập tin này thường được truy xuất bởi các công cụ của
Oracle thông qua ngôn ngữ truy vấn có cấu trúc SQL.
 Lớp vật lý bao gồm ba loại tập tin: các tập tin dữ liệu (data file), các tập tin điều
khiển (control file) và các tập tin phuc hồi (Redo log files).

là nơi chứa tự điển dữ liệu. Tự điển dữ liệu chứa thông tin về các table, index, cluster,…
Tablespace SYSTEM là vị trí mặc định của tất cả các đối tượng khi một CSDL được tạo ra.
Thông thường, người ta tạo nhiều tablespace để phân hóa các đối tượng khác nhau
của CSDL đồng thời dành riêng tablespace SYSTEM cho từ điển dữ liệu, đây cũng là một
phương pháp hữu hiệu để bảo đảm cơ sở dữ liệu luôn khỏe mạnh.
Có thể mở rộng không gian một CSDL theo 3 cách sau:
Thêm một tập tin dữ liệu vào một tablespace.
Cú pháp:
ALTER TABLESPACE TABLESPACE_NAME ADD DATAFILE
‘DATAFILE.ORA’;
Thêm một tablespace mới.
Cú pháp:
CREATE TABLESPACE TABLESPACE_NAME DATAFILE ‘DATAFILE.ORA’;
Tăng kích thước tập tin dữ liệu.
ALTER DATABASE DATAFILE ‘DATAFILE.ORA’ AUTOEXTENT ON NEXT
MIN_NUMBER MB MAXSIZE MAX_NUMBER MB;
Kích thước của tablespace là tổng kích thước của các tập tin dữ liệu tạo nên tablespace
và kích thước của CSDL là tổng kích thước của các tablespace trong CSDL đó.
II.2.3. SCHAME CƠ SỞ DỮ LIỆU
Một schame CSDL là một tập hợp các cấu trúc logic các đối tượng hay schame
objects. Schame objects này bao gồm tables, indexes, clusters, views, stored procedures,
database triggers and sequences.
1. Table
Một bảng là một đơn vị cơ sở lưu trữ vật lý trong CSDL Oracle, mà nó bao gồm
một tên bảng và các hàng, các cột của dữ liệu trong đó mỗi cột có một kiểu dữ liệu với
chiều dài xác định cho cột đó.
a) Tạo Table
Cú pháp:
CREATE TABLE tênbảng (tên_cột kiểu_dữ_liệu(độdài) [,…n]);
- Tạo ràng buộc khóa chính cho bảng:

Cú pháp:
DROP TABLE tên_bảng;
Chú ý:
Trước khi xóa một bảng, phải hủy bỏ mọi quan hệ phụ thuộc giữa bảng và các đối
tượng khác.
2. View
View là một đối tượng CSDL nó lưu trữ một query đã định nghĩa trước. Công dụng
của view là hiển thị dữ liệu trong một hay nhiều bảng và xử lý như một bảng ảo nghĩa là có
thể nhập dữ liệu vào nhiều bảng cùng một lúc thông qua view.
a) Tạo view
Cú pháp:
CREATE VIEW tên_view AS (SELECT < tên_cột [,…n] > FROM <tên_bảng[,…n]>;
b) Xóa view
Ta có thể xóa view với cú pháp:
DROP VIEW tên_view;
3. Cluster
Cluster là một nhóm các bảng có cùng chung cột lưu trữ vật lý như một bảng để chia
sẻ cột chung cho các bảng trong nhóm đã tạo nên cluster.
Web site kinh doanh thuốc thú y và thủy sản. SVTH: Nguyễn Đăng Trình
19
Đồ án tốt nghiệp GVHD:TS Lưu Ngọc Quang
Cluster giúp giảm nhập/xuất đĩa và cải thiện thời gian truy cập nhờ nối các bảng cluster
đồng thời cũng làm giảm không gian lưu trữ các bảng góp phần thu gọn không gian cho
CSDL.
Có thể tạo cluster theo cú pháp:
CREATE CLUSTER tên_cluster(<tên_cột kiểu_dữ_liệu(độ dài)[,…n]>);
Tương tự như các đối tượng khác của Oracle ta có thể xóa Cluster theo cú pháp:
DROP CLUSTER tên_cluster;
4. Index
Index là cấu trúc tùy chọn kết hợp với các table và các cluster. Ta có thể tạo ra các

nocache có thể sử dụng .
Web site kinh doanh thuốc thú y và thủy sản. SVTH: Nguyễn Đăng Trình
20
Đồ án tốt nghiệp GVHD:TS Lưu Ngọc Quang
6. Trigger
Trigger là một đối tượng CSDL được chạy tự động khi một sự kiện INSERT,
UPDATE, DELETE trên bảng hay view có mốc nối với trigger.
7. Stored procedure và function
Một stored procedure hay function là một đối tượng CSDL gồm một tập các lệnh
SQL hay PL/SQL tạo thành một tập tin thực thi để thực hiện một tác vụ đặc biệt nào đó.
Stored procedure và function cho phép ta kết hợp dễ dàng và linh động chức năng có
tính thủ tục với một ngôn ngữ lập trình có cấu trúc SQL.
Các procedure và các function gần như giống nhau chỉ khác là function luôn trả về
một hay nhiều giá trị, còn procedure thì không trả về giá trị nào.
II.2.4. DATA BLOCKS, EXTENTS VÀ SEGMENTS
1. Quan Hệ Giữa Segments, Extents và Data Blocks
Oracle định vị không gian CSDL logic cho tất cả dữ liệu trong một CSDL. Các đơn vị
của không gian CSDL là các data block, extent và segment.
Đơn vị không gian logic nhỏ nhất của CSDL Oracle là data block. Một data block
tương ứng với một số byte vật lý trên đĩa nhất định.
Mức kế của không gian CSDL logic gọi là extent. Một extent là một số xác định các
data block liên tục được định vị để chứa một loại thông tin xác định.
Mức lưu trữ CSDL trên extent là segment. Một segment là một tập các extent được
định vị cho một loại cấu trúc CSDL đặt biệt.
Oracle định vị các segment theo đơn vị một extent. Khi các extent đang có của một
segment đầy, Oracle định vị thêm một extent mới khác cho segment đó. Do các extent mới
được định vị thêm khi cần thiết nên các extent của một segment có thể không nằm liên tục
trên đĩa.
Một segment được lưu trữ trong một tablespace. Trong một tablespace một segment
có thể trải trên nhiều tập tin dữ liệu (datafile).

trị cũ của dữ liệu thay đổi bởi một chuyển tác. Các segment rollback được sử dụng để cung
cấp tính nhất quán khi đọc, phục hồi chuyển tác và phục hồi CSDL.
II.2.5. BẢO MẬT CƠ SỞ DỮ LIỆU ORACLE
Oracle cho phép truy xuất cơ sở dữ liệu bằng cách sử dụng một tên đăng nhập và
mật khẩu. Mô hình bảo mật cơ sở dữ liệu Oracle cần sự xác nhận mật khẩu của tất cả các
người sử dụng trong cơ sở dữ liệu. Sự điều khiển đối tượng cơ sở dữ liệu của một người sử
dụng có thể truy xuất, mức độ truy xuất của người sử dụng có thể có trên đối tượng và
quyền đặt các đối tượng mới vào cơ sở dữ liệu Oracle,…ở một mức cao, những sự điều
khiển này được gọi là các đặc quyền (privilege).
Các người sử dụng trong cơ sở dữ liệu Oracle được tạo ra bằng lệnh create user.
Cú pháp:
CREATE USER tên_user IDENTIFIED BY password;
a) Gán các đặc quyền hệ thống cho user
Web site kinh doanh thuốc thú y và thủy sản. SVTH: Nguyễn Đăng Trình
22
Đồ án tốt nghiệp GVHD:TS Lưu Ngọc Quang
Các đặc quyền hệ thống cấp cho user khả năng tạo ra, biến đổi hay xóa các đối
tượng cơ sơ dữ liệu, lưu trữ dữ liệu cho ứng dụng trong Oracle. Một user muốn làm được
một điều gì đó trong CSDL Oracle thì ít nhất user đó phải có đặc quyền gọi là connect.
Có hai phân loại trong phạm vi đặc quyền hệ thống của CSDL Oracle:
- Các đặc quyền hệ thống liên quan đến việc quản lý các đối tượng. Các đối tượng
này bao gồm table, index, triger, …Ba hành động trên các đối tượng được quản lý bởi đặc
quyền hệ thống là định nghĩa hay tạo ra đối tượng, thay đổi đối tượng đã tạo hay xóa đối
tượng.
- Một đặc quyền liên quan đến khả năng một user quản lý các hoạt động toàn cục đặt
biệt. Những hoạt động này bao gồm các chức năng như giám sát hoạt động CSDL, tạo
thống kê để hỗ trợ sự tối ưu hóa dựa trên giá thành,…những hoạt động này chỉ có user có
đặc quyền restricted session là làm được.
Gán đặc quyền hệ thống được thực hiện bằng lệnh grant. Để gán một đặc quyền hệ
thống, người gán hoặc cần có đặc quyền tự gán with admin option hoặc user được gán

chẽ dựa vào Perl. Đến năm 1998, phiên bản 3 của PHP được công bố, từ đây PHP mới
chính thức phát triển theo hướng tách riêng của mình. PHP trở thành ngôn ngữ lập trình có
cấu trúc và tính năng đa dạng, chính vì thế được các nhà lập trình Web ưa dùng.
Ngôn ngữ kịch bản PHP có thể nhúng vào HTML nên đây chính là điểm khác của
nó với các ngôn ngữ khác như Perl hoặc C, thay vì một chương trình được viết với nhiều
dòng lệnh để xuất ra trang HTML, bạn viết một kịch bản HTML trong đó gắn mã nguồn
PHP để làm một vài việc. Mã nguồn PHP thực hiện trên máy phục vụ và trả về máy khách
yêu cầu nó kết quả dưới dạng các trang HTML. Khối mã nguồn PHP được bao quanh giữa
các thẻ đặc biệt mà nó cho phép nhảy vào hay ra khỏi chế độ PHP.
Có thể sử dụng bốn cách tổ chức các thẻ để biểu thị các khối của mã nguồn PHP:
a) Ví dụ:
<?php echo “Cách thứ nhất”; ?>
b) Ví dụ:
<? echo “Cách thứ hai”; ?>
c) Ví dụ:
<script language = “php”>
echo “Cách thứ ba”;
</script>
d) Ví dụ:
<% echo “Cách thứ tư”; %>
Tuy nhiên cách đầu tiên được ưa chuộng và dùng phổ biến hơn.
III.2. PHP CÓ THỂ LÀM GÌ?
Web site kinh doanh thuốc thú y và thủy sản. SVTH: Nguyễn Đăng Trình
24
Đồ án tốt nghiệp GVHD:TS Lưu Ngọc Quang
PHP chủ yếu đặt trọng tâm trên kịch bản phía máy phục vụ vì thế bạn có thể làm bất
cứ điều gì mà các chương trình CGI khác có thể làm được, như tập hợp dữ liệu hình thức,
tạo ra nội dung các trang động hoặc gửi và nhận các cookie. Nhưng PHP có thể làm được
nhiều hơn thế. Cụ thể là kịch bản PHP có thể sử dụng trên ba nền chính sau:
 Kịch bản phía máy phục vụ: đây là nền mục tiêu chính và truyền thống nhất đại diện

dụng cho các chương trình thanh toán trên mạng.
Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, chúng ta có được nhiều mở rộng thú
vị khác, các hàm cho bộ máy tìm kiếm mnoGoSearch, các hàm cổng IRC, nhiều tiện ích
nén, chuyển đổi, thông dịch,…
III.3. CÁC KIỂU DỮ LIỆU
Web site kinh doanh thuốc thú y và thủy sản. SVTH: Nguyễn Đăng Trình
25

Trích đoạn II.3.3 MÔ HÌNH VẬT LÝ DỮ LIỆU III.2 THIẾT KẾ GIAO DIỆN NGƯỜI/MÁY III.2.1 THIẾT KẾ CÁC BIỂU MẪU VÀ TÀI LIỆU IN Chương II TỔNG KẾT VÀ ĐÁNH GIÁ PHỤ LỤC XỬ LÝ ĐẶT HÀNG
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status