Đề tài: “Xây dựng Website hỗ trợ quản lý kinh doanh thuốc thú y và thủy sản trên mạng internet” - Pdf 12

Đồ án tốt nghiệp GVHD:TS Lưu Ngọc Quang
Web site kinh doanh thuốc thú y và thủy sản. SVTH: Nguyễn Đăng Trình
1 Đề tài:
“Xây dựng Website hỗ trợ quản lý kinh doanh
thuốc thú y và thủy sản trên mạng internet”
Đồ án tốt nghiệp GVHD:TS Lưu Ngọc Quang
Web site kinh doanh thuốc thú y và thủy sản. SVTH: Nguyễn Đăng Trình
2
Phần I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ GIỚI THIỆU MỘT SỐ
CÔNG CỤ LẬP TRÌNH

của các Server, có thể truy xuất bởi hàng triệu Client. Việc chuyển và nhận thông tin trên
Internet được thực hiện bằng nghi thức TCP/IP. Nghi thức này gồm hai thành phần là
Internet Protocol (IP) và Transmission Control Protocol (TCP).
IP cắt nhỏ và đóng gói thông tin chuyển qua mạng, khi đến máy nhận thì thông tin
đó sẽ được ráp nối lại. TCP bảo đảm cho sự chính xác của thông tin được truyền đi cũng
như của thông tin được ráp nối lại, đồng thời TCP cũng sẽ yêu cầu truyền lại thông tin
thất lạc hay hư hỏng. Tùy theo thông tin lưu trữ và mục đích phục vụ mà các Server trên
Đồ án tốt nghiệp GVHD:TS Lưu Ngọc Quang
Web site kinh doanh thuốc thú y và thủy sản. SVTH: Nguyễn Đăng Trình
3

Internet sẽ được phân chia thành các loại khác nhau như Web Server, Email Server hay
FTP Server. Mỗi loại server sẽ được tối ưu hóa theo mục đích sử dụng.
Đồ án tốt nghiệp GVHD:TS Lưu Ngọc Quang
Web site kinh doanh thuốc thú y và thủy sản. SVTH: Nguyễn Đăng Trình
4

Theo quan điểm người sử dụng, Internet trông như là bao gồm một tập hợp các
chương trình ứng dụng, sử dụng những cơ sở hạ tầng của mạng để truyền tải những công
việc thông tin liên lạc. Chúng ta dùng thuật ngữ "Interoperability" để chỉ khả năng những
hệ máy tính nhiều chủng loại hợp tác lại với nhau để giải quyết vấn đề. Hầu hết người sử
dụng truy cập Internet thực hiện công việc đơn giản là chạy các chương trình ứng dụng
trên một máy tính nào đó gọi là máy Client mà không cần hiểu loại máy tính đang được
truy xuất (Server), kỹ thuật TCP/IP, cấu trúc hạ tầng mạng hay Internet ngay cả con

I.1.3. GIAO THỨC

Giao thức hay còn gọi là nghi thức là các phương tiện để làm cho sự thông tin trở
nên khả hữu. Đầu tiên ARPANET đã đưa ra giao thức Host-to-Host Protocol, nhưng giao
thức này không đáng tin cậy và nó chỉ giới hạn trong một số máy. Vào cuối năm 1970,
một số mạng đã xuất hiện như mạng UUCP đã nối được hàng trăm máy rồi hàng ngàn
máy. Vào cuối năm 1980 mạng NSFNET của National Science Foundation được phát
triển để nối 5 trung tâm siêu máy tính của nó. Đây là một mạng hấp dẫn cho tất cả các nhà
nghiên cứu và các viện đại học cũng như các viện nghiên cứu. Năm 1972, bắt đầu thế hệ
thứ hai của giao thức mạng, đã làm phát sinh ra một nhóm giao thức được gọi là
Transmission Control Protocol/ Internet Protocol viết tắt là TCP/IP. Năm 1983, TCP/IP là
bộ giao thức cho ARPANET, TCP/IP đã trở thành một trong những giao thức mạng được
dùng rộng rãi nhất. Sau cùng tất cả các mạng được tài trợ bởi cá nhân hay xã hội: mạng
ARPANET, MILNET, UUCP, BITNET, CSNET và NASA Science Internet đã liên kết
trong một mạng khu vực NSFNET và ARPANET giải tán và ngày càng có nhiều mạng
khác thêm vào
Ngày nay để thực hiện việc truyền thông qua mạng phải thông qua trình duyệt Web
và ta cũng cần một giao thức để thực hiện công việc này. Mặc dù hiện nay cũng đang có
rất nhiều giao thức để truyền thông tin nhưng nhìn chung có hai giao thức thường được
các lập trình viên sử dụng đó là: TCP/IP (IP: là giao thức Internet, TCP: giao thức truyền
tải) và giao thức UDP (giao thức gói dữ liệu người dùng).

Giao thức TCP/IP:


6

các Protocol TCP, UDP. Do đó ta sử dụng mô hình mạng TCP/IP gồm bốn lớp được mô
tả bằng hình 2.
 Application layer: chứa các ứng dụng mạng. Lớp này tương ứng với hai lớp trên
cùng (application và presentation layer) của mô hình OSI.
 Transport layer: cung cấp các dịch vụ truyền nhận dữ liệu giữa các quá trình với
nhau. Các quá trình này có thể trao đổi thông tin với nhau thông qua địa chỉ của máy tính
gửi/nhận và cổng thông tin. Cấp này tương ứng với hai cấp kế tiếp (session và transport
layer) của mô hình OSI.
 Network layer: đảm nhận việc xác định, tìm đường và phân phối các gói thông tin
với địa chỉ đích. Network layer trong mô hình TCP/IP tương ứng với hai lớp network và
data link của mô hình OSI.
 Physical layer: sử dụng các giao tiếp chuẩn hiện có như Enthernet, Tokenring, để
phục vụ cho việc gởi và nhận dữ liệu.
Các máy tính trên mạng liên lạc với nhau bằng địa chỉ IP. Để gởi gói dữ liệu từ
máy nguồn tới máy đích, nó phải có một số cách nhận diện những máy này. Trên mạng
được nhận dạng bằng cách dùng một hay nhiều địa chỉ IP. Một máy tính có thể có nhiều
hơn một địa chỉ IP nếu nó có nhiều hơn một Card mạng. Các địa chỉ IP là một số 32 bit
rất khó nhớ để giải quyết việc này các nhà quản lý mạng đã chọn một hệ thống tên vùng
(DNS) để quản lý. Các địa chỉ IP được duy trì bởi một hệ thống máy phục vụ tên vùng.
Các máy phục vụ này có khả năng tìm kiếm địa chỉ IP tương ứng với tên vùng. Tuy nhiên
liên lạc qua lại giữa các máy tính chỉ là một vấn đề truyền thông tin trên mạng. Để một
chương trình ứng dụng như Mail, Chat, E-mail liên lạc với một ứng dụng khác như máy
Server phục vụ thì máy Server này phải có cách gửi dữ liệu đến các chương trình riêng
bên trong một máy tính. Địa chỉ cổng là địa chỉ 16 bit nằm bên trong một máy tính
thường kết hợp với một giao thức đặc biệt như TCP/IP, UDP. Một máy Server phải cài
đặt chương trình ứng dụng phục vụ lắng nghe các yêu cầu đến. Trong việc truyền nhận
thông tin dựa trên TCP/IP, một ứng dụng thiết lập một connection với một ứng dụng khác
bằng cách gắn một socket cho mỗi port number. Do đó sẽ không thể có hai ứng dụng

trên mạng Internet có thể kết nối với nhau. Ngoài ra TCP cung cấp khả năng truyền không
lỗi từng gói dữ liệu gởi đi đến máy nhận, giao thức này phải có trách nhiệm thông báo và
kiểm tra xem dữ liệu có đến đủ hay chưa, có lỗi hay không có lỗi. Trước khi chuyển dữ
liệu bao giờ cũng có việc thiết lập kênh truyền giữa hai máy. Do phải duy trì mối kết nối
và kiểm tra dữ liệu nên sử dụng TCP phải đòi hỏi chiếm thêm một số tài nguyên và cách
lập trình cho giao thức này hơi khó (phải thực hiện các bước kiểm tra dữ liệu theo yêu cầu
của TCP). Truyền dữ liệu theo giao thức TCP thường áp dụng cho các dịch vụ như truyền
tập tin, các dịch vụ trực tuyến trên Internet đòi hỏi có độ chính xác cao.



Web site kinh doanh thuốc thú y và thủy sản. SVTH: Nguyễn Đăng Trình
8

Địa chỉ IP: Để có thể thực hiện truyền tin giữa các máy tính trên mạng, mỗi máy
trên mạng Internet đều có một tên riêng và một địa chỉ dạng số tương ứng gọi là địa chỉ
IP. Tên được thiết kế để giúp cho việc truy cập được dễ dàng cho người sử dụng. Địa chỉ
IP dùng cho các máy tính và các thiết bị mạng liên lạc với nhau.
Tất cả các máy trong hệ thống mạng (LAN, WAN, Internet) đều có ít nhất 2 địa
chỉ: địa chỉ vật lý và địa chỉ Internet. Ðịa chỉ vật lý còn được gọi là Ethernet address là
một dãy bit gồm 48 bit được gán bởi các nhà sản xuất, địa chỉ này được biểu diễn dưới
dạng số thập lục phân (hecxa).
Như thế mỗi card mạng (interface card) có một địa chỉ duy nhất địa chỉ này được
quy định từ nhà sản xuất card mạng. Tuy nhiên địa chỉ vật lý không thể hiện khả năng
xác định vị trí của hệ thống trên mạng. Ðể giải quyết vấn đề đó người ta đưa ra địa chỉ
IP(IP Address).
Ðịa chỉ IP phải là duy nhất trên mạng và có một dạng thống nhất, mỗi địa chỉ IP
gồm có 4 byte và có 2 thành phần: địa chỉ đường mạng (Network ID) và địa chỉ host
(Host ID).

Phân loại địa chỉ IP:
Có tất cả 5 lớp địa chỉ IP nhưng hiện nay có 3 lớp được sử dụng là lớp A, B, và C.
 Lớp A: Dùng cho hệ thống mạng có số lượng địa chỉ host rất lớn, số lượng này có
thể lên đến 16 triệu địa chỉ host. Ðể có thể nhận biết địa chỉ thuộc lớp nào người ta căn cứ

9

kết nối để chạy Internet Explorer. Dịch vụ trực tuyến thu cước phí hàng tháng (chưa áp
dụng cho người ở Việt Nam).

b. Nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP)
Là một công ty nhỏ hơn, chuyên dụng hơn, cung cấp tùy chọn không nhiều bằng dịch
vụ trực tuyến. ISP cho phép truy nhập Internet theo giờ với cước phí thấp hoặc truy cập
không giới hạn với cước phí cao hơn. Họ còn cấp cho khách một tài khoản E-mail. Ở Việt
Nam hiện có ba dịch vụ ISP đang hoạt động: VNN, FTP và NetNam.

c. Truy nhập trực tuyến (direct access)
Khả dụng ở nhiều học viện giáo dục hoặc công ty lớn. Thay vì sử dụng Modem,
những tổ chức này thuê bao một đường truyền chuyên dụng để cung cấp truy nhập
Internet 24/24 giờ.

I.2. CÁC DỊCH VỤ THÔNG TIN TRÊN INTERNET

I.2.1. DỊCH VỤ MIỀN (DNS: Domain Name System)

Việc định danh các phần tử của liên mạng bằng các con số như trong địa chỉ IP rõ
ràng là không làm cho người sử dụng hài lòng, bởi chúng khó nhớ, dễ nhầm lẫn. Vì thế
người ta đã xây dựng hệ thống đặt tên (name) cho các phần tử của Internet, cho phép
người sử dụng chỉ cần nhớ đến các tên chứ không cần nhớ đến các địa chỉ IP nữa. Ta có
thể biết thêm thông tin cách hoạt động của dịch vụ này thông qua RFC 1035.
Hệ thống này được gọi là DNS (Domain Name System). Ðây là một phương pháp
quản lý các tên bằng cách giao trách nhiệm phân cấp cho các nhóm tên. Mỗi cấp trong hệ
thống được gọi là một miền (domain), các miền được tách nhau bởi dấu chấm. Số lượng
domain trong một tên có thể thay đổi nhưng thường có nhiều nhất là 5 domain. Domain
có dạng tổng quát là local-part@domain-name.

trên một hệ thống TCP/IP. Bởi vì Internet là một mạng TCP/IP, Telnet sẽ làm việc một
cách hài hoà giữa các máy tính nối đến nó nếu như dịch vụ Telnet được cài đặt trên máy
tính của bạn. Các thành phần Telnet và Server thỏa thuận trong cách mà chúng sẽ dùng
kết nối. Vì thế mặc dù các hệ thống không cùng loại chúng vẫn tìm thấy một ngôn ngữ
chung. Telnet cũng có những giới hạn của nó, nếu lưu thông trên mạng kết nối từ xa có
thể khiến cho sự cập nhật từ màn hình trở nên chậm hơn. Telnet thường dùng cho các
mục đích công cộng và thương mại, cho phép những người dùng ở xa tìm kiếm các cơ sở
dữ liệu lớn, phức tạp và nó cũng là nguồn tài nguyên có giá trị trong giáo dục giúp cho
việc nghiên cứu của bạn trở nên hấp dẫn hơn.
Ðể khởi động Telnet, từ trạm làm việc của mình người sử dụng chỉ việc gõ:
I.2.3. TRUYỀN TỆP (FTP: File Transfer Protocol)

Là dịch vụ truyền tập tin (tệp) trên Internet. FTP cho phép dịch chuyển tập tin từ
trạm này sang trạm khác, bất kể trạm đó ở đâu và sử dụng hệ điều hành gì, chỉ cần chúng
đều được nối với Internet và có cài đặt FTP. FTP là một chương trình phức tạp vì có
nhiều cách khác nhau để xử lý tập tin và cấu trúc tập tin và cũng có nhiều cách lưu trữ tập
tin khác nhau. Để khởi tạo FTP từ trạm làm việc của mình người sử dụng chỉ gõ:
FTP<domain name or IP address>
FTP sẽ thiết lập liên kết các trạm xa và bạn sẽ đăng nhập vào hệ thống
(login/password). Vì FTP cho phép truyền tập tin theo cả hai chiều. Để chuyển tập tin của
mình đến trạm ở xa dùng lệnh put và ngược lại dùng lệnh get để lấy thông tin về. Ngoài ra
trong một số trường hợp nó có thể đổi tên, tạo, xoá thư mục….FTP Client sử dụng dịch
vụ để lấy (get) các tập tin từ FTP Server về máy của mình (download) hoặc gởi (put) các
tập tin lên FTP server (upload).

thực hiện việc chuyển thư không cần phải kết nối trực tiếp với nhau để chuyển thư, thư có
thể được chuyển từ máy này đến máy khác cho tới máy đích. Giao thức truyền thống sử
dụng cho hệ thống thư điện tử của Internet là SMTP (Simple Mail Transfer Protocol). Cơ
chế hoạt động của thư điện tử (E-mail):
Hình 4: Sơ đồ hoạt động của mạng E-mail

Giao thức SMTP (Single Message Transfer Protocol) đặt tả trong hai chuẩn là
trong RFC 822 (định nghĩa cấu trúc của thư ) và RFC 821(đặt tả giao thức trao đổi thư
giữa hai mạng). Là giao thức cơ bản để chuyển thư giữa các máy Client, SMTP có một bộ
gởi thư, một bộ nhận thư và một tập hợp lệnh dùng để gởi thư từ người gởi đến người
nhận.
Cứ mỗi trạm E-mail thường bao gồm hai dịch vụ: POP3 (Post Office Protocol
Version 3) có nhiệm vụ nhận/trả thư từ/tới e-mail client và dịch vụ SMTP (Simple E-mail
Transfer Protocol) có nhiệm vụ nhận/phân phối thư từ/đến POP3 đồng thời trao đổi thư
với các trạm e-mail trung gian.


đề rõ địa chỉ đích (người nhận) rồi gửi thư tới E-mail Server của mình. E-mail Server này
có nhiệm vụ sẽ tự động kiểm tra và định hướng chuyển thư tới đích hoặc chuyển thư tới
một E-mail Server trung gian khác. Thư chuyển tới E-mail Server của người nhận và
được lưu ở đó. Đến khi người nhận thiết lập tới một cuộc kết nối tới E-mai Server đó thì
thư sẽ chuyển về máy người nhận, nếu không thì thư vẩn tiếp tục giữ lại ở Server đảm
bảo không bị mất.
Phần khác của ứng dụng thư điện tử là cho phép người sử dụng đính kèm
(attachments) theo thư một tập tin bất kỳ (có thể dạng nhị phân chẳng hạn chương trình
chạy). E-mail đã và đang hết sức thành công đến nỗi những người sử dụng Internet phục
vụ dùng nó đối với hầu hết các trao đổi của họ. Một lý do làm E-mail Internet phổ biến là
vì việc thiết kế nó rất cẩn thận: giao thức làm cho việc "phát thư" có độ tin cậy cao.
Không chỉ hệ thống thư tín trên máy của người gởi tương tác trực tiếp trên máy của
người nhận mà giao thức còn đặt tả một thông điệp không thể bị xoá bởi người gởi cho
đến khi người nhận đã thật sự có một phiên bản của thông điệp trên bộ lưu trữ (đĩa cứng
chẳng hạn) của họ.
Như vậy để gởi/nhận thư người sử dụng chỉ cần quan tâm tới cách sử dụng chương
trình E-mail Client. Hiện nay có nhiều chương trình E-mail Client như Microsoft Outlook
Express, Eudora Pro, Peagasus mail,

I.2.5. TÌM KIẾM TỆP (Archie)

Phát triển tại đại học McGill ở Canada, Archie là một loại thư viện khổng lồ sẽ tự
động và đều đặn tạo ra một số lớn các thông tin gởi đến máy chủ trên Internet và lập chỉ
mục các tập tin của chúng để tạo ra một cơ sở dữ liệu duy nhất có thể tìm kiếm được.
CSDL này còn là mục lục của dữ liệu danh mục, một sự biên dịch các tập tin có sẵn trên
mọi máy chủ. Archie quét qua các máy chủ Internet một cách thường xuyên, và CSDL
này thường xuyên được cập nhật. Thực sự thì Archie không phải là một hệ thống độc lập,
thay vì vậy nó là một nhóm các máy chủ. Mỗi máy chủ Archie đáp ứng cho sự tra hỏi các
máy chủ Internet của chính nó để tạo nên cơ sở dữ liệu cho chính nó.

phép hiển thị tập tin văn bản mà còn những tập tin đồ họa. Nó là nguồn quan trọng giúp
cho các nguồn thông tin trên Internet có thể truy xuất được.

I.2.8. TÌM KIẾM THÔNG TIN DỰA TRÊN SIÊU VĂN BẢN (WWW: World
Wide Web)

Là dịch vụ thông tin mới nhất và hấp dẫn nhất trên Internet. Nó ra đời năm 1989 và
ngày nay nó cấu thành phần lớn nhất của Internet hiện nay dựa trên kỹ thuật biểu diễn
thông tin gọi là siêu văn bản, trong đó các từ được chọn trong văn bản có thể được mở
rộng bất cứ lúc nào để cung cấp đầy đủ hơn thông tin về từ đó. Sự mở rộng ở đây theo
nghĩa là chúng có thể liên kết tới các tài liệu khác: văn bản, hình ảnh, âm thanh hay hỗn
hợp các loại….có chứa thông tin bổ sung. Nói cách khác World Wide Web là phần đồ họa
của Internet. Lúc đầu, Internet là hệ thống truyền thông dựa trên văn bản, việc liên kết với
những site khác có nghĩa là phải gõ những địa chỉ mã hóa với độ chính xác 100%. Công
nghệ World Wide Web xuất hiện như là một vị cứu tinh. Khả năng đặt hình ảnh lên Web
Site bất ngờ làm cho thông tin trên Web trở nên hấp dẫn hơn, lôi cuốn hơn. Ngoài ra
HTTP (Hypertext Transfer Protocol) cho phép trang Web kết nối với nhau qua các siêu
liên kết (hyperlink). Nhờ vậy mà người dùng dễ dàng "nhảy" qua các Web site nằm ở hai
đầu trái đất, World Wide Web chỉ là một phần cấu thành nên Internet ngoài ra còn có rất
nhiều thành phần khác như: E-mail, Gopher, Telnet, Usenet
Web site là gì?
Web hình thành từ hàng triệu Web site trên Internet. Web site là tập hợp trang Web
do cá nhân hoặc công ty đăng ký hiển thị trên Web. Một Web site tiêu biểu thường gồm
nhiều trang Web, bắt đầu bằng trang chủ (home page), liệt kê nội dung của Site. Một Web
site tiêu biểu còn chứa siêu liên kết dẫn đến những trang Web còn lại trong phạm vi site
và đến các web site khác. Các Web site có thể chỉ gồm một trang do cá nhân tạo thành
hoặc là một sản phẩm của công ty và chứa vài trăm trang. Mỗi trang Web có một địa chỉ
Internet không trùng lặp gọi là URL (Uniform Resource Locator). Bạn có thể tạo một
Web site bằng HTML (Hypertext Markup Language), DHTML, XML
HTML là ngôn ngữ lập trình cho phép mọi máy tính kết nối với Web để truy cập

 Một chuỗi URL nói chung có dạng sau:
<protocol>://<domain_name of Server>/<path>
Trong đó:
 Tiền tố <protocol> chỉ ra giao thức được sử dụng cho dịch vụ. Ví dụ giao thức
HTTP (Hypertext Transport Protocol) được dùng cho dịch vụ Web, giao thức FTP,
gopher,
 <domain_name of Server> là tên DNS (Domain Name System) của máy Web
server.
 <path> là đường dẫn đến thông tin được yêu cầu trên Server.
 Web server sẽ trả một trang HTML về cho Web browser, các trang HTML thuộc
một trong 3 kiểu sau:
 Trang Web tĩnh (Static webpage): là những trang HTML được chuẩn bị sẵn. Web
server chỉ đơn giản là lấy trang này gởi về cho Web browser mà không gọi thi hành một
chương trình hay một script nào khác. Người dùng yêu cầu một trang Web tĩnh bằng cách
nhập vào một chuỗi URL hoặc click chuột vào một siêu liên kết trỏ tới URL.
 Trang Web động (Dynamic web page): là những trang Web được tạo ra tại thời
điểm Client gửi yêu cầu để đáp ứng yêu cầu của người sử dụng máy Server có thể sẽ gọi
chạy một chương trình khác, sử dụng các API của Server, các ngôn ngữ kịch bản CGI
script, query cơ sở dữ liệu tùy theo các thông tin mà Web browser cung cấp.
 Danh sách liệt kê (Directory listing): Nếu user gửi yêu cầu mà không mô tả một tập
tin cụ thể, thì có thể tạo một trang mặc nhiên cho Web site hay cho một thư mục hoặc cấu
hình Server cho phép duyệt thư mục. Nếu sử dụng trang HTML mặc nhiên cho thư mục
thì trang này sẽ được gửi cho Web browser, còn nếu không có thì một Directory listing
(phiên bản HTML của Windows Explorer hay File Manager chạy trên trình duyệt) được
Đồ án tốt nghiệp GVHD:TS Lưu Ngọc Quang
Web site kinh doanh thuốc thú y và thủy sản. SVTH: Nguyễn Đăng Trình
15
Đồ án tốt nghiệp GVHD:TS Lưu Ngọc Quang
Web site kinh doanh thuốc thú y và thủy sản. SVTH: Nguyễn Đăng Trình
16Chương II. TÌM HIỂU CƠ SỞ DỮ LIỆU ORACLE

II.1. TỔNG QUAN VỀ ORACLE

II.1.1. ORACLE LÀ GÌ?

Oracle là một hệ quản trị cơ sở dữ liệu quan hệ client/server. Để đi sâu vào nghiên
cứu cơ sở dữ liệu Oracle cần có một số khái niệm cơ bản về hệ quản trị cơ sở dữ liệu

Truyền nhận giữa client và server:
 Sự truyền nhận này phụ thuộc nhiều vào client và server thực thi như thế nào.
Mọi sự thực thi hệ thống CSDL đều thuộc một trong ba loại sau:

Đồ án tốt nghiệp GVHD:TS Lưu Ngọc Quang
Web site kinh doanh thuốc thú y và thủy sản. SVTH: Nguyễn Đăng Trình
17

 File_based system:
Các hệ thống này dùng ứng dụng truy xuất trực tiếp các file dữ liệu trên một đĩa
cứng cục bộ hoặc một hệ phục vụ file mạng. Các hệ thống này thực hiện các dịch vụ
CSDL và truyền nhận logic như một phần của ứng dụng client. Trong việc thực thi này,
ứng dụng client đóng vai trò client và vai trò hệ phục vụ.
 Host_based system:
Hệ thống này thường dùng trong các mainframe và mini_computer. Những hệ
thống này thực thi tất cả hoặc hầu hết dịch vụ CSDL và chức năng của client trên một
máy tính trung tâm lớn. Người dùng xem và tác động đến ứng dụng client bằng cách dùng
một thiết bị đầu cuối từ xa. Truyền nhận giữa client và CSDL thực thi thực hiện trên một
host computer và host computer đóng vai trò của client và server.
 Client / server system:
Hệ thống này được thiết kế từ dịch vụ CSDL riêng lẻ đến client bằng cách cho
phép truyền nhận giữa chúng là mở và linh hoạt hơn.
 Dịch vụ CSDL được thực thi trên một máy tính mạnh, cho phép quản trị tập
trung, bảo mật và dùng chung tài nguyên. Do đó, hệ phục vụ trong client / server là CSDL
và hệ phục vụ của chính nó. Những ứng dụng client được thực thi trên các nền khác nhau
bằng cách dùng nhiều công cụ khác nhau. Quá trình này cho phép linh hoạt hơn và các
ứng dụng của người sử dụng có tính chất rất cao. Đồ án tốt nghiệp GVHD:TS Lưu Ngọc Quang
Web site kinh doanh thuốc thú y và thủy sản. SVTH: Nguyễn Đăng Trình
18

5. PL/SQL
Trong Oracle có một ngôn ngữ đặc biệt cho phép kết hợp ngôn ngữ thủ tục truyền
thống với sự truy xuất các đối tượng cơ sở dữ liệu thông qua ngôn ngữ SQL, đó là ngôn
ngữ PL/SQL.

II.1.2. MỘT SỐ CÔNG CỤ CỦA ORACLE

Oracle cung cấp cho các nhà lập trình rất nhiều công cụ lập trình phát triển ứng dụng
liên quan đến cơ sở dữ liệu và phát triển Internet. Trong phiên bản Oracle 8i có khoảng
150 công cụ chạy trên các môi trường hệ điều hành khác nhau, các công cụ hỗ trợ giao
tiếp cho các CSDL từ xa, phát triển ứng dụng CSDL từ xa thông qua môi trường
Internet,…Một số công cụ dùng để phát triển thông dụng nhất như:
Oracle8i Enterprise Edition 8i.
SQL * Plus 8.0: Một phần mềm giao tiếp kiểu dòng lệnh, cho phép tương tác với
Oracle thông qua hai ngôn ngữ SQL và PL/SQL.
Oracle Net8 : Một phần mềm kết nối CSDL dùng để cung cấp các thông tin CSDL
xác thực, tối ưu trên mọi thủ tục mạng thông dụng.
Oracle Enterprise Manager: Một phần mềm có giao diện rất tốt hỗ trợ cho việc quản
lý các đối tượng của cơ sở dữ liệu Oracle.


II.2. GIỚI THIỆU VỀ CƠ SỞ DỮ LIỆU ORACLE

II.2.1. LỚP VẬT LÝ VÀ LỚP LOGIC CỦA CSDL ORACLE

CSDL Oracle gồm có hai lớp: lớp vật lý và lớp logic.
a. Lớp vật lý
 Lớp vật lý của CSDL Oracle là một số tập tin nằm trên đĩa. Vị trí vật lý của những
tập tin này không liên quan đến chức năng của CSDL nhưng có thể liên quan đến hiệu
năng của CSDL. Dữ liệu trong những tập tin này thường được truy xuất bởi các công cụ
của Oracle thông qua ngôn ngữ truy vấn có cấu trúc SQL.
 Lớp vật lý bao gồm ba loại tập tin: các tập tin dữ liệu (data file), các tập tin điều
khiển (control file) và các tập tin phuc hồi (Redo log files).
 Data files: đây là các tập tin quan trọng nhất trong ba loại tập tin và là nơi chứa dữ
liệu thật sự của CSDL. Các tập tin dữ liệu có kích thước lớn từ vài megabytes đến hàng
gigabytes. Chúng lưu trữ các thông tin chứa trong CSDL. Một CSDL nhỏ có thể có vài
tập tin dữ liệu và có hàng trăm tập tin dữ liệu cho những CSDL lớn. Phân bố lưu trữ thông
tin trên nhiều tập tin dữ liệu có thể làm tăng hiệu năng cho CSDL. Số tập tin dữ liệu có
thể được giới hạn bằng tham số MAXDATAFILES khi tạo ra một CSDL mới.
 Control files: một CSDL cần có một hay nhiều tập tin điều khiển, các tập tin điều
khiển lưu trữ thông tin cấu trúc của CSDL.
 Redo log files: là các tập tin được sử dụng để lưu giữ các thông tin ban đầu và
toàn bộ quá trình thay đổi của CSDL sau khi nó được tạo ra, phục vụ cho mục đích phục
hồi lại CSDL trong trường hợp hệ thống bị sự cố.

b. Lớp logic
Lớp logic của Oracle gồm các nguyên tố sau:

Có thể mở rộng không gian một CSDL theo 3 cách sau:
Thêm một tập tin dữ liệu vào một tablespace.
Cú pháp:
ALTER TABLESPACE TABLESPACE_NAME ADD DATAFILE
‘DATAFILE.ORA’;
Thêm một tablespace mới.
Cú pháp:
CREATE TABLESPACE TABLESPACE_NAME DATAFILE ‘DATAFILE.ORA’;
Tăng kích thước tập tin dữ liệu.
ALTER DATABASE DATAFILE ‘DATAFILE.ORA’ AUTOEXTENT ON NEXT
MIN_NUMBER MB MAXSIZE MAX_NUMBER MB;
Kích thước của tablespace là tổng kích thước của các tập tin dữ liệu tạo nên
tablespace và kích thước của CSDL là tổng kích thước của các tablespace trong CSDL đó.

II.2.3. SCHAME CƠ SỞ DỮ LIỆU

Một schame CSDL là một tập hợp các cấu trúc logic các đối tượng hay schame
objects. Schame objects này bao gồm tables, indexes, clusters, views, stored procedures,
database triggers and sequences.

1. Table
Một bảng là một đơn vị cơ sở lưu trữ vật lý trong CSDL Oracle, mà nó bao gồm
một tên bảng và các hàng, các cột của dữ liệu trong đó mỗi cột có một kiểu dữ liệu với
chiều dài xác định cho cột đó.

a) Tạo Table
Cú pháp:
CREATE TABLE tênbảng (tên_cột kiểu_dữ_liệu(độdài) [,…n]);
- Tạo ràng buộc khóa chính cho bảng:
Cú pháp:

- Xóa một cột:
ALTER TABLE tên_bảng DROP COLUMN (tên_cột);
- Bổ sung độ dài dữ liệu một cột:
ALTER TABLE tên_bảng MODIFY (tên_cột kiểu_dữ_liệu(độ dài));

c) Xóa bảng
Xóa một bảng nghĩa là hủy mọi dữ liệu của bảng và quyền sở hữu đối với bảng đó.
Cú pháp:
DROP TABLE tên_bảng;
Chú ý:
Trước khi xóa một bảng, phải hủy bỏ mọi quan hệ phụ thuộc giữa bảng và các đối
tượng khác.

2. View
View là một đối tượng CSDL nó lưu trữ một query đã định nghĩa trước. Công dụng
của view là hiển thị dữ liệu trong một hay nhiều bảng và xử lý như một bảng ảo nghĩa là
có thể nhập dữ liệu vào nhiều bảng cùng một lúc thông qua view.

a) Tạo view
Cú pháp:
CREATE VIEW tên_view AS (SELECT < tên_cột [,…n] > FROM <tên_bảng[,…n]>;

b) Xóa view
Ta có thể xóa view với cú pháp:
DROP VIEW tên_view;
Đồ án tốt nghiệp GVHD:TS Lưu Ngọc Quang
Web site kinh doanh thuốc thú y và thủy sản. SVTH: Nguyễn Đăng Trình

hệ CSDL, nhưng thường người ta dùng nó để tạo ra các khóa chính của bảng một cách tự
động.
Có nhiều quy luật tạo ra các sequence theo các từ khóa sẵn có của Oracle:
 Start with n: sequence được tạo ra với giá trị chỉ định ban đầu trong Start with khi
đó cột ảo NEXTVAL của sequence được tham trỏ.
 Increment by n: Định nghĩa số tăng của sequence mỗi lúc cột ảo NEXTVAL được
tham trỏ.
 Minvalue n: giá trị tối thiểu có thể tạo bởi sequence nếu từ khóa nominvalue chưa
được sử dụng.
 Maxvalue n: giá trị tối đa có thể tạo bởi sequence nếu từ khóa nomaxvalue chưa
được sử dụng.
 Cycle: cho phép sequence tạo lại giá trị ban đầu khi đạt đến maxvalue hay
minvalue nếu từ khóa nocycle chưa được sử dụng.
 Cache n: cho phép sequence dùng bộ nhớ cache để tăng hiệu năng, nếu từ khóa
nocache chưa được sử dụng.
Đồ án tốt nghiệp GVHD:TS Lưu Ngọc Quang
Web site kinh doanh thuốc thú y và thủy sản. SVTH: Nguyễn Đăng Trình
23

 Order: cho phép gán các giá trị theo thứ tự yêu cầu, nếu không sử dụng order từ
khóa nocache có thể sử dụng .

6. Trigger
Trigger là một đối tượng CSDL được chạy tự động khi một sự kiện INSERT,
UPDATE, DELETE trên bảng hay view có mốc nối với trigger.
7. Stored procedure và function
Một stored procedure hay function là một đối tượng CSDL gồm một tập các lệnh

Một extent là đơn vị không gian lưu trữ dữ liệu được tạo thành bởi một số data
block liên tục. Một hay nhiều extent tạo thành một segment. Khi không gian trong
segment đã chứa đầy Oracle định vị một extent mới cho segment. Đồ án tốt nghiệp GVHD:TS Lưu Ngọc Quang
Web site kinh doanh thuốc thú y và thủy sản. SVTH: Nguyễn Đăng Trình
24

4. Segment
Một segment là một tập các extent chứa tất cả các dữ liệu cho một cấu trúc lưu trữ
logic nhất định trong một tablespace.

CSDL Oracle sử dụng bốn loại segment sau:
a. Segment dữ liệu (data segment)
Mọi bảng không cluster, các patition và các cluster trong một CSDL Oracle đều có
một segment dữ liệu đơn để giữ tất cả các dữ liệu của nó. Oracle tạo ra các segment dữ
liệu khi tạo ra các bảng với lệnh CREATE.

b. Index Segment
Mọi index trong một CSDL Oracle có một segment index đơn để giữ tất cả các dữ
liệu của nó. Oracle tạo ra các segment index cho index khi ta phát lệnh CREATE INDEX.
Ta có thể chỉ định các thông số lưu trữ cho các extent của segment index vào một
tablespace chứa segment index.

c. Temporary Segment
Khi xử lý các query, Oracle thường yêu cầu không gian làm việc tạm cho các chặn

25

a) Gán các đặc quyền hệ thống cho user
Các đặc quyền hệ thống cấp cho user khả năng tạo ra, biến đổi hay xóa các đối
tượng cơ sơ dữ liệu, lưu trữ dữ liệu cho ứng dụng trong Oracle. Một user muốn làm được
một điều gì đó trong CSDL Oracle thì ít nhất user đó phải có đặc quyền gọi là connect.
Có hai phân loại trong phạm vi đặc quyền hệ thống của CSDL Oracle:
- Các đặc quyền hệ thống liên quan đến việc quản lý các đối tượng. Các đối tượng
này bao gồm table, index, triger, …Ba hành động trên các đối tượng được quản lý bởi đặc
quyền hệ thống là định nghĩa hay tạo ra đối tượng, thay đổi đối tượng đã tạo hay xóa đối
tượng.
- Một đặc quyền liên quan đến khả năng một user quản lý các hoạt động toàn cục
đặt biệt. Những hoạt động này bao gồm các chức năng như giám sát hoạt động CSDL, tạo
thống kê để hỗ trợ sự tối ưu hóa dựa trên giá thành,…những hoạt động này chỉ có user có
đặc quyền restricted session là làm được.
Gán đặc quyền hệ thống được thực hiện bằng lệnh grant. Để gán một đặc quyền hệ
thống, người gán hoặc cần có đặc quyền tự gán with admin option hoặc user được gán
grant any privilege.

b) Sử dụng role để quản lý truy xuất cơ sơ dữ liệu
Khi CSDL lớn lên các đặc quyền trở nên cồng kềnh và khó quản lý. Người quản trị
hệ thống có thể đơn giản hóa việc quản lý các đặc quyền bằng cách sử dụng một đối
tượng CSDL gọi là role.
Các role hoạt động theo hai tư cách trong cơ sở dữ liệu. Đầu tiên, role có thể hoạt
động như một điểm tập trung để nhóm các đặc quyền thực hiện một số tác vụ nhất định.
Tư cách thứ hai là hoạt động như một user ảo của cơ sơ dữ liệu được cấp tất cả các đặc
quyền đối tượng yêu cầu để thực hiện một chức năng, công việc nhất định.
Để sử dụng role, cần phải có hai hành động sau xảy ra:
- Người quản trị cần phải nhóm logic các đặc quyền nhất định với nhau. Nhóm các
đặc quyền này được gán cho một role có thể được bảo vệ bằng mật khẩu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status