Một số mô hình về bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên đa dạng sinh học phần II - Pdf 32

2.1. Mô hình lâm - ngư kết hợp vùng cửa sông ven biển phía Bắc
Mô hình ao tôm sinh thái hay mô hình hồi phục rừng ngập mặn (Mô
hình này đã được Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường
thực hiện tại Tiền Hải, Thái Bình và đã được Cục Sở hữu Công nghiệp,
Bộ Khoa học Công nghệ & Môi trường công nhận là Giải pháp hữu ích
năm 1999).
Mục đích của mô hình là đề xuất phương pháp hồi phục rừng ngập
mặn tức là khôi phục rừng ngập mặn đã bị chết trong ao nuôi tôm cá
đã bị hỏng, thích hợp cho việc nuôi tôm, cá nước lợ, nhằm đáp ứng
những yêu cầu về sử dụng khôn khéo tài nguyên đất ngập nước ven
biển, xoá đói giảm nghèo, giảm nhẹ thiên tai do biến đổi khí hậu gây
ra v.v...
Địa điểm áp dụng:
- Mô hình này sử dụng để hồi phục lại những ao tôm đã xuống cấp
do thiết kế ao theo kiểu cũ gây phá huỷ rừng ngập mặn. Mô hình được
thực hiện tại huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình và Vườn quốc gia Xuân Thuỷ,
tỉnh Nam Định.
- Điều kiện tự nhiên:
• Vùng ven biển có rừng ngập mặn ở huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam
Định có địa hình dốc từ Bắc xuống Nam, dài từ Tây sang Đông. Độ cao
trung bình từ 40,5 - 40,7 cm, điểm cao nhất là Cồn Lu có độ cao +1,5m
so với mực nước biển.
• Khí hậu: Vùng ven biển Giao Thủy nằm trong miền nhiệt đới gió
mùa, khí hậu phân thành hai mùa rõ rệt: mùa nóng từ tháng 4 đến
tháng 10, trùng với mùa mưa; mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm
sau, trùng với mùa khô.
• Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm 24oC; nhiệt độ cao nhất trong
mùa hè 40,3oC; nhiệt độ thấp nhất trong mùa đông 6,8oC. ẩm độ trung
bình 84%

Một số mô hình sử dụng hợp lý

quanh phía trong ao và các kênh nằm ngang (kênh xương cá). Kênh
chính này có chiều rộng 9m và dốc dần về phía biển. Ở miệng cống có
đặt một lưới chắn để giữ tôm, cá trong khi tháo nước ra. Tiếp đến một
cống điều tiết nước được đặt hướng ra biển. Các kênh nằm ngang cũng
có chiều rộng 9m có tác dụng làm tăng độ thoáng cho tôm cá và tại
điểm nối với kênh chính chúng có độ sâu bằng độ sâu của kênh chính.
22

Một số mô hình sử dụng hợp lý
tài nguyên đa dạng sinh học


Các kênh chính và kênh ngang tạo ra các ô đất giữa chúng để trồng
cây ngập mặn. Độ sâu của kênh phụ thuộc vào độ chênh giữa đáy
cống và mực nước triều thấp nhất và vào địa hình của từng vùng. Hệ
thống kênh này chiếm khoảng 20% diện tích ao nuôi.
• Cây trồng: Các cây trồng trong ao bao gồm: Sú (Aegiceras corniculatum), Trang (Kandelia obovata), Bần (Sonneratia caseolaris). Cây
ngập mặn sẽ được trồng ở các ô đất nằm lọt giữa các kênh. Các ô
đất này có độ cao bằng độ cao của nền ao đã bị hỏng có diện tích
bằng 85% diện tích của ao. Tuy nhiên cây sẽ chỉ được trồng trên 75%
diện tích. phần đất còn lại 5% là bãi trống được dùng làm nền bổ sung
thêm thức ăn cho tôm, cá nuôi trong ao.
- Kỹ thuật trồng:
• Các cây ngập mặn này sẽ được trồng với khoảng cách như nhau.
Nếu trồng cây bằng quả thì khoảng cách thích hợp là 1m. Sau đó
tuỳ thuộc vào độ lớn của cây, tốc độ tạo tán có thể tỉa bớt các cây
phát triển kém để tạo điều kiện cho các cây khác có thể phát triển
tốt hơn...
• Nếu trồng bằng cây non thì khoảng cách tốt nhất là 2m. Tuy nhiên khi
trồng cây phải chú ý đến độ bằng phẳng tương đối của đáy ao. Những

(khoảng 3/4- 4/5).
• Lấy nước vào ao: Khi triều lên cao, mức nước ở ngoài cao hơn ở
trong ao, của cống được mở để lấy nước vào cho đến khi mực nước
trong và ngoài ao bằng nhau thì đóng cửa cống lại. Khi nước vào đầy
ao thì tôm, cua, cá lại phát tán ra toàn ao và sinh sống gần như ngoài
thiên nhiên.
• Cứ như vậy quy trình vận hành ao được tiếp diễn hàng ngày.
Với quy trình như vậy cây ngập mặn có thể tồn tại và phát triển tốt
trong ao nhờ việc lưu thông nước liên tục. Ngoài ra, việc lưu thông này
còn đảm bảo độ mặn của nước trong ao và làm phong phú thêm lượng
động, thực vật thuỷ sinh (có trong nước biển). Các sinh vật đáy như
giun nhiều tơ, ấu trùng của côn trùng thuỷ sinh v.v... cũng cần có các
chu kỳ hiếu khí và yếm khí mới sinh trưởng và phát triển được. Đây là hai
nguồn cung cấp thức ăn chính cho tôm và cá trong ao. Do đó, thức ăn
tự nhiên cho tôm cá trong ao này sẽ phong phú hơn rất nhiều so với ao
theo kiểu cũ. Đó chính là nguyên nhân làm tăng năng suất cho tôm cá.
• Đối với ao cũ không có hệ thống kênh thoát nước, nên phải giữ
nước ngập thường xuyên vì vậy chỉ trong một thời gian ngắn cây trong
ao bị chết hàng loạt. Lá và thân cây bị chết phân huỷ trong nước
tạo ra khí H2S gây ra hiện tượng thiếu ô xy. Nước trong ao bị ô nhiễm
dẫn đến ao bị hỏng không tiếp tục sử dụng được. Nhờ phương pháp
khôi phục rừng ngập mặn trong ao bị hỏng đã khắc phục được các
nhược điểm nêu trên. Do vậy ao có thể được sử dụng trong một thời
gian dài.
24

Một số mô hình sử dụng hợp lý
tài nguyên đa dạng sinh học



Một số mô hình sử dụng hợp lý
tài nguyên đa dạng sinh học

25


Do nằm ở vùng ranh giới giữa biển và đất liền nên rừng ngập mặn
đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đê biển chống lại bão, sóng
biển, đặc biệt là sóng thần và các tác động tiêu cực khác của biến
đổi khí hậu. Ngoài ra nó còn chống nhiễm mặn từ biển vào đất liền,
lọc bớt chất ô nhiễm. Đặc biệt nó còn tạo ra nguồn dinh dưỡng to lớn
cho thuỷ, hải sản, là nơi ươm tạo con giống cho các loài này và là nơi
sản xuất mật ong lý tưởng. Rừng ngập mặn còn là nơi cư trú cho nhiều
loài chim di cư, là nơi lý tưởng cho các hoạt động du lịch sinh thái và
giáo dục môi trường.

Những điểm cần lưu ý:
Do hồi phục cây ngập mặn cần thời gian ít nhất là 3 năm sau khi
trồng lại vào ao tôm đã bị xuống cấp. Trong thời gian này chủ đầm
không được phép giữ mức nước trong ao quá cao và không thay
nước theo thuỷ triều hàng ngày. Vì như vậy cây lại sẽ bị ngâm và
chết như với mô hình cũ. Tuy nhiên để làm được điều này người làm
đầm hầu như không có thu nhập trong 3 năm đầu. Vì vậy họ cần có
một quỹ tín dụng dài hạn từ 8 -10 năm để có đủ thời gian hồi phục
cây ngập mặn và có thu nhập để trả nợ. Việc này chỉ có nhà nước
26

Một số mô hình sử dụng hợp lý
tài nguyên đa dạng sinh học


hình thành lớp than bùn có độ dày từ 0,5m đến 1m; dưới lớp than bùn
là tầng đất sét có chứa phèn tiềm tàng ở các độ sâu khác nhau.
Một số mô hình sử dụng hợp lý
tài nguyên đa dạng sinh học

27


Nội dung chính của mô hình
- Quy mô, diện tích có thể áp dụng: Diện tích đất cho mô hình
khoảng 2, 7 ha (27.000 m2) (100%)
- Mô hình bao gồm:
• Diện tích chuyên canh lúa nước: 1.890 m2 (7%)
• Diện tích trồng và kinh doanh rừng tràm: 17.091 m2 (63,3%)
• Hệ thống mương đào rửa phèn, ém phèn và nuôi cá: 2.700 m2
(10%)
• Hệ thống bờ bao: 2.700 m2 (10%)
• Đất thổ cư + VAC: 2.619 m2 (9,7%).
- Kỹ thuật chăm sóc:
Rừng tràm:
• Rừng tràm trồng quảng canh bằng phương pháp sạ hạt (nếu nước
ngập trong) hoặc trồng bằng cây con rễ trần (nếu nước ngập có màu
đỏ đục) rừng tràm trồng với mật độ 20.000 - 30.000 cây/ha.
• Trong 1 - 2 năm đầu, khi rừng tràm trồng chưa khép tán có thể trồng
xen lúa nước. Khi rừng tràm khép tán, thường sau khi trồng 3 năm, lúc
đó ánh sáng lọt qua tán rừng tràm ít, không thể trồng xen lúa nước.
• Khi rừng tràm phát triển tới giai đoạn các tán lá cây tràm đan
xen nhau dầy đặc (độ che phủ gần bằng 1) thì cần tiến hành tỉa
thưa (thường là vào năm thứ 6, kể từ khi trồng) để đảm bảo mật
độ vừa phải cho cây tràm phát triển tốt, đồng thời tạo ra điều kiện

Một số mô hình sử dụng hợp lý
tài nguyên đa dạng sinh học

29


thời gian sinh trưởng dài (150 ngày), do đó chỉ cấy được 1 vụ/năm, chủ
yếu nhờ nguồn nước mưa. năng suất giống lúa mùa địa phương này
thường chỉ đạt 1,5 - 2 tấn/ha/vụ.
• Tuy nhiên ở một số nơi đất cao, nước có thể lưu thông, khả năng
rửa phèn tốt và ngập nước nông < 40cm, người ta có thể sử dụng
các giống lúa mới cao sản, ngắn ngày (100 ngày) để sản xuất 2 vụ
lúa trong 1 năm, chủ yếu dựa vào nguồn nước trời, đạt năng suất tới
4,5 – 6 tấn/ha/năm.
• Để trồng lúa nước trên đất phèn mạnh có năng suất khá, người
nông dân địa phương còn có kinh nghiệm đào thêm các rãnh thoát
phèn trong ruộng lúa (rãnh rộng 40cm, sâu 40cm, khớp với độ sâu
phân bố của rễ lúa). Khoảng cách giữa các rãnh thoát phèn thưa hay
mau, còn phụ thuộc vào mức độ phèn của đất, nhưng thường cách
nhau từ 10m đến 20m, đào 1 rãnh thoát phèn, đất đào rãnh được đắp
và san đều trên diện tích cấy lúa. Người dân địa phương gọi là phương
pháp: Kê đất.

30

Một số mô hình sử dụng hợp lý
tài nguyên đa dạng sinh học


• Trồng lúa nước trên đất phèn mạnh, cần phải bón thêm phân

• Tầng III: Thơm (dứa)
Kinh doanh ong mật:
• Các hộ gia đình nông dân ở khu vực rừng tràm U Minh đều biết
gác kèo cho ong mật tự nhiên (ong khoái) làm tổ. Mật ong lấy từ rừng
tràm có chất lượng cao hơn các loại rừng khác và cao hơn mật ong
nuôi thùng. Hoa tràm có nhiều mật, mùa hoa lại kéo dài nhiều tháng
trong năm, tuy hoa nở rộ vào tháng 5. Sản lượng mật thu được tuỳ
thuộc vào số lượng kèo gác, số tổ ong định cư, độ lớn của bầy ong
tự nhiên. Bình quân 1 ha rừng tràm người ta có thể thu được từ 5 - 7 lít
mật ong.

2.2.2. Mô hình VAC (vườn - ao - chuồng) trên đất thổ cư:
Địa điểm áp dụng: vườn nhà trên đất thổ cư ở vùng đất phèn
Nội dung chính của mô hình
32

Một số mô hình sử dụng hợp lý
tài nguyên đa dạng sinh học


- Quy mô, diện tích có thể áp dụng: Mặc dù diện tích đất thổ cư sử
dụng chỉ có 2000m2, nhưng lại nằm trong vùng đất phèn nên nhân
dân thường áp dụng mô hình VAC.
- Mô hình bao gồm:
• Ao nuôi cá: Do nền đất thấp bị ngập nước, nên phải đào ao nuôi
cá (chủ yếu là nuôi cá giống trong mùa khô để có cá giống thả vào
mùa mưa). Đồng thời đào ao để lấy đất đắp nền nhà và xây dựng
vườn cây ăn trái + rau xanh. Mặt nước ao trồng rau muống, rau cần,
làm giàn trồng mướp v.v...
• Cây ăn quả: Trồng chủ yếu mít, dừa, mãng cầu xiêm, cam, quýt,

là mô hình VAC trên đất thổ cư (2000m2): 11 triệu đồng/năm. Với mô
hình sản xuất nông - lâm - ngư trên đất phèn mạnh này, nhằm mục
tiêu trồng và khôi phục lại diện tích rừng tràm trên đất phèn mạnh, tạo
thu nhập.
- Sau 10 năm, thu hoạch rừng tràm, với năng suất gỗ: 10m3/ha/năm,
trừ mọi chi phí sản xuất 1 ha rừng tràm cho lãi hơn 2 triệu/ha/năm.
- Vấn đề quan trọng hơn, rừng tràm còn có tác dụng chống quá
trình phèn hoá, nâng cao độ phì của đất, làm cho năng suất lúa và
cá ngày càng cao và bền vững; rừng vẫn được duy trì và do đó bảo
tồn được đa dạng sinh học một cách bền vững vì có được sự tham
gia của người dân.
Những điểm cần lưu ý:
Vì dịch vụ do HST rừng tràm cung cấp là rất quan trọng đối với kinh tế
- xã hội và môi trường đặc biệt là đối với biến đổi khí hậu như đã phân
tích ở trên, nên nếu có được những cơ chế chính sách của nhà nước
34

Một số mô hình sử dụng hợp lý
tài nguyên đa dạng sinh học


như chi trả dịch vụ môi trường cho những người dân trồng và bảo vệ
rừng tràm thì không nên chặt tràm đem bán mà nên giữ để sử dụng
bền vững những dịch vụ do HST độc đáo này mang lại nhất là trong
công cuộc xoá đói giảm nghèo cho những người có cuộc sống phục
thuộc vào các dịch vụ này.

Một số mô hình sử dụng hợp lý
tài nguyên đa dạng sinh học


- Tận dụng được các nguồn tài nguyên: đất, nước, năng lượng, sinh
học làm cho nó được bảo toàn, tái tạo, tự điều chỉnh và tự tái sinh.
- Sử dụng được đất theo quy mô nhỏ, thâm canh có hiệu quả, được
quản lý, chăm sóc, bảo vệ và phục hồi đất.
36

Một số mô hình sử dụng hợp lý
tài nguyên đa dạng sinh học


Các lợi ích mà nông lâm kết hợp mang lại cho kinh tế hộ gia đình rất
đa dạng. Cụ thể:

- Cung cấp lương thực và thực phẩm: Nhiều mô hình NLKH được
hình thành và phát triển đã đáp ứng mục tiêu sản xuất nhiều loại lương
thực, thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao đáp ứng nhu cầu của hộ
gia đình. Điển hình là hệ thống VAC được phát triển rộng rãi ở nhiều
vùng nông thôn ở nước ta. Nhờ đó, có khả năng tạo ra sản phẩm
lương thực và thực phẩm đa dạng trên một diện tích mà không yêu
cầu phải đầu tư lớn.
- Tăng thu nhập nông hộ: Với sự phong phú về sản phẩm đầu ra và
ít đòi hỏi về đầu vào, các hệ thống NLKH dễ có khả năng đem lại thu
nhập cao cho hộ gia đình. Các hộ gia đình tận dụng được thời gian,
nguồn lao động, tạo ra nhiều loại sản phẩm hàng hoá, tăng thu nhập
cho gia đình và có điều kiện đầu tư trở lại cho cây trồng. Đồng thời
điều hoà được lợi ích trước mắt và lâu dài;
Tận dụng được đất đai giữa các hàng cây rừng để trồng cây lương
thực, hoa màu... phục vụ cho đời sống người dân làm nghề rừng trong
các năm đầu của rừng trồng chưa khép tán.


rừng trồng sinh trưởng tốt nhờ vào chăm sóc vệ sinh lô rừng; quay vòng
vốn đầu tư nhanh và tạo điều kiện phù hợp để thu hạt giống cây rừng
(Rừng và đồng cỏ)
Hỗ trợ cho các cây lâm nghiệp, nông dân chăm sóc hoa màu có ảnh
hưởng tốt đối với sinh trưởng và phát triển của rừng non mới trồng.

- Vẫn duy trì được rừng và do đó bảo tồn được đa dạng sinh học
một cách bền vững vì có được sự tham gia của người dân và các mô
hình đã cung cấp đầy đủ nông lâm sản do đó người không phải “khai
thác” từ rừng.
Tuy nhiên chúng chưa phải là lý tưởng, nhất là đối với những vùng
đất ngập nước. Vì theo tính toán của các chuyên gia trong báo cáo
đánh giá HST Thiên niên kỷ của LHQ năm 2005 (MA) thì “Nếu tính gộp
tất cả lợi ích của các dịch vụ HST thì ĐNN không chuyển đổi sẽ mang
lại lợi ích kinh tế to lớn hơn dạng chuyển đổi”.

38

Một số mô hình sử dụng hợp lý
tài nguyên đa dạng sinh học


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trần Đình Lý, 2003: Nghiên cứu Đánh giá các mô hình phát triển
kinh tế xã hội, tổ chức thực hiện mô hình trình diễn tại Quảng BìnhQuảng Trị. Báo cáo chuyên đề thuộc Đề tài Khoa học Công nghệ cấp
Nhà nước KC.08.07: Đề tài nhánh của “Nghiên cứu những vấn đề kinh
tế xã hội và môi trường vùng sinh thái đặc thù Quảng Bình-Quảng Trị”.
Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường. Hà Nội - 12/2003)
2. Isobel W. Heathcote, 1998 : Integrated Watershed Management Principle and Practice School of Ingineering University of Guelph.
3. Gene Barrett, 2001. What is community? One lecture note. Saint

Khoa học Công nghệ & Môi trường cấp năm 1999
10. www.thienhiencongdong.org.../viewtopic.php?
Thư viện cộng đồng. Viewtopic – Khu DTSQ Kiên Giang
11. www.thiennhien.net.../2009.10-29 home.
Hệ sinh thái U Minh Hạ: Điểm du lịch lý tưởng
12. Lê Thanh Long, 2009. Suy thoái ĐDSH ở Việt Nam.
www.my.opera.com/200
13. Phạm Bình Quyền, 2003. Hệ sinh thái nông nghiệp và phát triển
bền vững. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003, Hà Nội
14. www.maweb.org/wetland
15. Phan Nguyên Hồng và cs., 2004. Hệ sinh thái rừng ngập mặn vùng
ven biển đồng bằng sông Hồng. Nhà xuất bản nông nghiệp, 2004, Hà Nội
16. Mô hình nông lâm kết hợp của Bộ Lâm nghiệp

40

Một số mô hình sử dụng hợp lý
tài nguyên đa dạng sinh học


PHỤ LỤC
Vai trò của cộng đồng trong việc tham gia
bảo tồn đa dạng sinh học
1. Khái niệm về cộng đồng
Cộng đồng xã hội chỉ một tập đoàn người rộng lớn, có những dấu
hiệu, những đặc điểm xã hội chung về thành phần giai cấp, về nghề
nghiệp, về địa điểm sinh tụ và cư trú. Cũng có những cộng đồng xã hội
bao gồm cả một dòng họ, một sắc tộc, một dân tộc. Như vậy cộng
đồng xã hội bao gồm một loạt yếu tố xã hội chung mang tính phổ
quát. Đó là những mặt cộng đồng về kinh tế, về địa lý, về ngôn ngữ,

một địa điểm tự nhiên như địa lý, sinh thái, môi trường, cảnh quan.
Vùng phân bố của các địa điểm tự nhiên trong đó tất cả các cộng
đồng nông thôn sinh sống trong phạm vi toàn thế giới được gọi là quần
xã sinh vật (biome) tự nhiên. Vậy thì cái gì có thể thể hiện một địa điểm
tự nhiên mang tính xã hội của một cộng đồng. Địa điểm được thể hiện
ở ranh giới tự nhiên trong đó luôn có sự tương tác do đó tác động đến
sức mạnh của luật tục, địa điểm hay lãnh thổ xác định nội dung và tính
thích hợp của tri thức địa phương nó cho phép định nghĩa (xác định)
ranh giới pháp lý gắn liền với tài sản và tài nguyên và sự tổ chức quyền
lực. Địa điểm hay lãnh thổ cũng là một hợp phần quan trọng của bản
sắc với ý nghĩa là gắn kết và ràng buộc.

2.4. Quyền lợi hay mối quan tâm
Thể hiện cơ sở vật chất của các cộng đồng như tài nguyên, nguồn
của sức khỏe và các mối quan hệ tài sản nhưng nói chung quyền lợi
hay mối quan tâm có liên quan đến tài sản như ruộng đất và tiền bạc.
Trong đó quyền sở hữu đóng vai trò quyết định. Quyền sở hữu thể hiện
ở: cơ sở vật chất, uy tín, thanh thế và quyền lực. Tất cả đều thể hiện
các mối quan hệ. Cơ sở vật chất cũng liên quan đến câu hỏi: ai là
người có quyền tiếp cận tài nguyên, ai không. Uy tín và thanh thế liên
quan đến ai chiếm được sự quý trọng, còn quyền lực liên quan đến ai
kiểm soát hoạt động của ai.

2.5. Luật tục
Liên quan đến xây dựng luật và tiêu chuẩn đạo đức được dựng lên
dựa trên tương tác của mọi người và sự sản sinh của những quyền lợi
hay mối quan tâm của cộng đồng. Luật tục thể hiện luật dựa trên tiêu
chuẩn đạo đức trong đời sống hàng ngày và sự kỳ vọng vào hành vi
được gắn liền với những tiến trình tổ chức. Luật tục có hai mối quan
hệ về sản sinh và tự trị đối với rất nhiều mối quan hệ dựa trên quan hệ

chỗ nào cộng đồng phù hợp với sự phụ thuộc của bản thân họ. Thứ
hai là bản sắc tập thể -- và cơ quan -- kết hợp truyền thống chung
với tình cảm. Cái tôi được hình thành từ hai tập hợp của bản sắc: ý
nghĩa cốt lõi của cái tôi số ít và một tập hợp của cái tôi số nhiều. Cái
tôi số nhiều có mối quan hệ có tính chất mở rộng, luôn biến đổi trong
đó chúng ta bị ràng buộc vào một nhóm mà ta phải phụ thuộc.
Điều cốt lõi là cái tôi bên trong nó giúp tìm ra lối qua một mớ rắc rối
của các mối quan hệ nhưng chính nó cũng mang tính chất phản
ảnh và mở rộng như một hậu quả của những bản sắc mà trong đó
nó bị làm mờ nhạt.
Bản sắc cũng liên quan đến tinh thần tập thể, tình cảm tập thể,
những truyền thống và giá trị được chia sẻ, dĩ vãng và ý thức của
địa phương. Trong phạm vi cộng đồng, bản sắc tập thể tương đồng
Một số mô hình sử dụng hợp lý
tài nguyên đa dạng sinh học

43


với cộng đồng là một thể thống nhất, nó rộng hơn bản sắc trong nội
bộ họ hàng rất khác nhau. Bản sắc tập thể có tính chất nổi bật bắt
nguồn từ “bộ nhớ” tập thể và những truyền thống và nghi thức được
chia sẻ. Điều quan trọng hơn cả là bản sắc tập thể có một thực tế nổi
bật khi nó được nối kết một cách có ý thức làm cơ sở cho hành động
tập thể.

3. Sự ra đời của khái niệm dựa vào cộng đồng
Trong thập kỷ qua sự tham gia của người dân địa phương vào công
tác bảo tồn đã là tâm điểm của nhiều sự kiện. Môi trường và phát triển
bền vững đã nhanh chóng được xem là sự ưu tiên trên trường quốc tế,

của nhân dân, đặc biệt là những cộng đồng bị tác động.
Bởi vậy việc tham gia vào quá trình quy hoạch bảo tồn rừng ngập mặn
của các bên liên quan (stakeholders) là khâu then chốt. Đó cũng chính
là vai trò của cộng đồng có liên quan trong việc bảo tồn rừng ngập
mặn và đa dạng sinh học, hay nói một cách khác là quản lý bảo tồn
dựa vào cộng đồng (Community-based conservation management).

4. Mô hình quản lý bảo tồn dựa vào cộng đồng (CBCM)
Dưới đây xin giới thiệu quản lý tài nguyên ven biển dựa vào cộng
đồng làm ví dụ. Tuy nhiên những nguyên lý cơ bản của cách quản lý
này đều có thể được vận dụng vào các địa phương khác như miền
núi, đồng bằng v.v…mà không cần phải có thêm những cách tiếp
cận khác.
Một số mô hình sử dụng hợp lý
tài nguyên đa dạng sinh học

45



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status