Nghiên cứu xây dựng hệ thống thông tin nhằm nâng cao nhận thức về bảo tồn và sử dụng hợp lý nguồn đa dạng sinh học một số đối tượng động vật nuôi và động vật hoang dã tại việt nam - Pdf 13


BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
CỤC THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA

BÁO CÁO TỔNG KẾT
NHIỆM VỤ HỢP TÁC QUỐC TẾ
THEO NGHỊ ĐỊNH THƯ
"Nghiên cứu xây dựng hệ thống thông tin
nhằm nâng cao nhận thức về bảo tồn và
sử dụng hợp lý nguồn đa dạng sinh học
một số đối tượng động vật nuôi và động
vật hoang dã tại Việt Nam"
8163 Hà Nội, Tháng 5/2010
BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
CỤC THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA


NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT 5
PHẦN 1. GIỚI THIỆU NHIỆM VỤ VÀ QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN 6
I. Xuất xứ của nhiệm vụ 6
II. Nội dung chủ yếu của Nhiệm vụ 7
2.1. Mục tiêu của Nhiệm vụ 7
2.2. Nội dung nghiên cứu 7
2.3. Sản phẩm của nhiệm vụ: 8
2.4. Thời gian và kinh phí thực hiện 8
2.5. Đối tác nước ngoài 9
III. Một số thay đổi về nội dung trong quá trình thực hiện 9
3.1. Năm 2004 9
3.2. Năm 2005 9
3.3. Năm 2006 10
PHẦN II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ 11
I. TỔNG QUAN VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC ĐỘNG VẬT NUÔI VÀ
ĐỘNG VẬT HOANG DÃ Ở VIỆT NAM 11

1.1. Tiềm năng và nguy cơ mất ĐDSH động vật hoang dã của VN 11
1.1.1 Sự phong phú về các loài thú 12
1.1.2 Tình trạng của các loài 13
1.1.3. Những loài thú mới được phát hiện ở Việt Nam 14
1.1.4. Những nguyên nhân gây mất nguồn gen động vật hoang dã 16
1.2. Tiềm năng và nguy cơ mất ĐDSH động vật nuôi của Việt Nam 22
1.2.1. Sự đa dạng và vị trí của nguồn gen vật nuôi Việt Nam 23
1.2.2. Nguy cơ mất ĐDSH động vật nuôi Việt Nam 24
1.2.3. Nội dung và phương pháp chính trong nghiên cứu và bảo tồn vật
nuôi ở Việt Nam 27

1.3. Vấn đề văn bản pháp lý về bảo vệ ĐDSH động vật nuôi, động vật
hoang dã 29


3.1. Nghiên cứu xây dựng Thư viện điện tử các tài liệu về ĐDSH động vật
nuôi và động vật hoang dã ở Việt Nam 50

3.1.1. Nghiên cứu xây dựng CSDL thư mục 50
3.1.2. Nghiên cứu đưa CSDL lên Web 56
3.1.3. Kết quả xây dựng CSDL thư mục 63
3.2. Xây dựng CSDL ảnh 63
3.2.1. Lựa chọn phần mềm CSDL ảnh 63
3.2.2. Cấu hình CSDL ảnh 64
3.2.3. Nhập siêu dữ liệu cho CSDL 66
3.2.4. Khả năng tìm kiếm của CSDL 67
3.2.5. Kết quả xây dựng CSDL ảnh 69
IV. XÂY DỰNG WEBSITE VỀ ĐỘNG VẬT NUÔI VÀ ĐỘNG VẬT
HOANG DÃ (WEBSITE BIODIVA) 70

4.1. Tìm hiểu một số Website liên quan đến đa dạng sinh học động vật
nuôi và động vật hoang dã 70

Báo cáo tổng kết Biodiva
3
4.2 Xây dựng Website “Đánh giá và phát huy tiềm năng ĐDSH động vật
nuôi và động vật hoang dã của Việt Nam” (BIODIVA) 79

4.2.1. Chuyên mục của Website 80
4.2.2. Kỹ thuật (phần mềm) 82
V. TỔ CHỨC TRIỂN LÃM “BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ ĐANG
DẠNG SINH HỌC ĐỘNG VẬT NUÔI VÀ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ VÙNG
NÚI” 82


Báo cáo tổng kết Biodiva
4
Phụ lục 1. Danh mục các văn bản nhà nước liên quan đến khu bảo vệ và
vườn quốc gia (đến tháng 2/2002). 97

Phụ lục 2. Nội dung các lệnh trong Form tìm tin 103
Phụ lục 3. Nội dung pano triển lãm 107
Phụ lục 4. Lịch truyền thông bảo vệ đa dạng sinh học 115
Phụ lục 5. Áp phích truyền thông bảo vệ đa dạng sinh học 116
Phụ lục 6. Danh sách gửi biếu đĩa phim BIODIVA 117
Phụ lục 7. Danh sách gửi biếu lịch và áp phích 118

Báo cáo tổng kết Biodiva
5

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT

BIODIVA
Dự án “Đánh giá và phát huy tiềm năng đa dạng sinh học động vật
nuôi và động vật hoang dã của Việt Nam"
CDROM
Compact disk Read Only Memory
CDS/ISIS
Computerized Documentation System/Integrated Set of
Information System
CIRAD
Centre de cooperation internationale en recherche agronomique
pour le développement (Trung tâm hợp tác quốc tế về nghiên cứu
nông nghiệp vì sự phát triển, CH Pháp)
CSDL

Báo cáo tổng kết Biodiva
6

PHẦN 1
GIỚI THIỆU NHIỆM VỤ VÀ QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN

I. Xuất xứ của nhiệm vụ
Nhiệm vụ hợp tác quốc tế (HTQT) theo Nghị định thư (NĐT) "Nghiên cứu
xây dựng hệ thống thông tin nhằm nâng cao nhận thức về bảo tồn và sử dụng hợp
lý nguồn đa dạng sinh học một số đối tượng động vật nuôi và động vật hoang dã
tại Việt Nam" được xây dựng trên cơ sở kết quả h
ợp tác KH&CN giữa Việt Nam và
Cộng hoà Pháp được thông qua tại cuộc họp lần thứ 11 của Uỷ ban hỗn hợp Việt
Pháp về hợp tác văn hoá, khoa học và Kỹ thuật tại Hà Nội vào tháng 5 năm 2000. Nội
dung thoả thuận chính là Pháp sẽ phối hợp và thực hiện dự án hỗ trợ kỹ thuật “Đánh
giá và phát huy tiềm năng đa dạng sinh học động vật nuôi và động vật hoang dã của
Vi
ệt Nam" (gọi tắt là Dự án BIODIVA). Thoả thuận chính thức giữa Việt Nam và
Pháp được thể hiện thông qua ký kết chính thức giữa Bộ Khoa học và Công nghệ
Việt Nam và Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam ngày 14/5/2003.
Trên cơ sở những ký kết như vậy, tháng 10 năm 2004, đã diễn ra việc ký kết
các thoả thuận cung cấp dịch vụ kỹ thuật hàng năm giữa Bộ phận Hợp tác và Hoạt
động Vă
n hoá (SCAC) sứ quán Pháp và các đối tác.
Để triển khai được các cam kết hợp tác đã ký kết giữa Bộ Khoa học và Công
nghệ và Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam, ngày 4/8/2003, tại Quyết định số 1296/QĐ-
BKHCN, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ đã phê duyệt nhiệm vụ HTQT theo
NĐT "Thông tin, nâng cao nhận thức và tuyên truyền về sự phong phú của đa dạng
sinh học ở Việt Nam và các vấn đề liên quan đến bảo tồn và s
ử dụng hợp lý", giao

Nhiệm vụ HTQT về KH&CN theo NĐT "Thông tin, nâng cao nhận thức và
tuyên truyền về sự phong phú của ĐDSH ở Việt Nam và các vấn đề liên quan đến
bảo tồn và sử dụng hợp lý" có mục tiêu chính sau:
- Tăng cường thông tin phục v
ụ công tác giáo dục, truyền thông để nâng cao
nhận thức về ĐDSH động vật nuôi và động vật hoang dã cho các nhà quản lý, các nhà
ra quyết định ở tất cả các cấp, các nhà khoa học và quần chúng nhân dân ở địa
phương;
- Tăng cường trao đổi thông tin trong nước, trong khu vực và quốc tế về ĐDSH
động vật nuôi và động vật hoang dã;
- Tạo lập một số nguồn thông tin quốc gia về ĐDSH động vật nuôi và động v
ật
hoang dã, cung cấp các thông tin về đa đạng di truyền và bảo vệ các nguồn tài
nguyên di truyền động vật nuôi và động vật hoang dã
2.2. Nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu ban đầu được duyệt là:
- Nghiên cứu thiết kế, xây dựng thư viện điện tử (bao gồm CSDL, các liên kết
với các trang chủ trong nước và nước ngoài có liên quan, các tư liệu điện tử, ) về
ĐDSH một số đối tượng độ
ng vật nuôi và động vật hoang dã ở Việt Nam, phong phú,
sinh động, cập nhật thường xuyên trên Web và trên CDROM. Đóng góp thông tin
cho FAO về ĐDSH động vật nuôi và động vật hoang dã ở Việt Nam;
- Tổ chức nghiên cứu thiết kế và tạo ra một số tài liệu tuyên truyền ĐDSH một
số đối tượng động vật nuôi và động vật hoang dã (tờ rời, lịch, trang áp phíc);
- Nghiên cứu xây dựng nội dung và hình thức triển lãm di động về Đ
DSH một
số đối tượng động vật nuôi và động vật hoang dã tại một số khu vực có vấn đề
ĐDSH;
- Thiết kế và xây dựng kịch bản cho một cuốn phim video về ĐDSH một số đối
tượng động vật nuôi ở Việt Nam.

5 Tờ gấp tuyên truyền về ĐDSH động vật nuôi và
động vật hoang dã ở Việt Nam

2.4. Thời gian và kinh phí thực hiện
Thời gian thực hiện nhiệm vụ theo đề cương là 36 tháng, từ tháng 1/2004 đến
12/2006.
Kinh phí được duyệt ban đầu là: 600 triệu đồng (sáu trăm triệu đồng). Phân
bổ kinh phí theo thời gian như sau:
STT Năm Kinh phí
1 Năm 2004 350 triệu
2 Năm 2005 150 triệu
3. Năm 2006 100 triệu
Báo cáo tổng kết Biodiva
9
Tổng cộng 600 triệu

2.5. Đối tác nước ngoài
Đối tác chủ yếu ở Pháp là:
Centre de cooperation internationale en recherche agronomique pour le
développement (Trung tâm hợp tác quốc tế về nghiên cứu nông nghiệp vì sự
phát triển)
Địa chỉ: De baillarguet BP 5035, 34032 Montperllier. Cedex 1, France
Tel: 33 (04) 467593712 Fax: 33 (04) 467593798

III. Một số thay đổi về nội dung trong quá trình thực hiện
3.1. Năm 2004
Do đây là một nhiệm vụ HTQT về KH&CN theo Nghị định thư nên cần thiết
phải có sự tham gia của đối tác nước ngoài. Mặc dù Sứ quán Pháp và Bộ Khoa học và
Công nghệ đã ký kết thoả thuận về dự án từ tháng 5/2003 nhưng đến tháng 10/2004,
Dự án hỗ trợ kỹ thuật “Đánh giá và phát huy tiềm năng ĐDSH động vật nuôi và động

nghị kéo dài việc thực hiện nhiệm vụ đến hết tháng 12/2007 và sau đó là đến tháng 2
năm 2008. Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc gia có công văn xin gia hạn th
ời gian
thực hiện đến hết tháng 12/2007 và xin kéo dài thời gian chuẩn bị Báo cáo đến hết
tháng 12/2008.
Báo cáo tổng kết Biodiva
11
PHẦN II
KẾT QUẢ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ

I. TỔNG QUAN VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC ĐỘNG VẬT NUÔI VÀ
ĐỘNG VẬT HOANG DÃ Ở VIỆT NAM
ĐDSH là sự phong phú về gen, loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên [1a].
Theo Công ước ĐDSH, khái niệm "Đa dạng sinh học" (biodiversity, biological
diversity) được hiểu là
Từ điển trực tuyến Wikipedia định nghĩa "ĐDSH là sự biến
động của những hình thức sống trong một hệ sinh thái, vùng sinh thái nhất định hoặc
ở cả trái đất [2a]. Năm 1992, Hội nghị thượng đỉnh về trái đất tại Rio de Janeiro đã
định nghĩa ĐDSH là "sự khác nhau giữa các sinh vật sống ở tất cả mọi nơi, bao gồm:
các hệ sinh thái trên cạn, trong đại dương và các hệ
sinh thái thuỷ vực khác, cũng như
các phức hệ sinh thái mà các sinh vật là một thành phần; thuật ngữ này bao hàm sự
khác nhau trong một loài, giữa các loài và giữa các hệ sinh thái" [2a].
Bảo tồn ĐDSH là việc bảo vệ sự phong phú của các hệ sinh thái tự nhiên quan
trọng, đặc thù hoặc đại diện; bảo vệ môi trường sống tự nhiên thường xuyên hoặc
theo mùa của loài hoang dã, cảnh quan môi trường, nét đẹp độc đáo của tự nhiên;
nuôi, trồng, ch
ăm sóc loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo
vệ; lưu giữ và bảo quản lâu dài các mẫu vật di truyền [1a]. Bảo tồn ĐDSH có ý nghĩa
rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
1.1.1 Sự phong phú về các loài thú
Việt Nam có tỉ lệ các loài đặc hữu của khu vực và quốc gia cao hơn bất cứ
nước nào khác ở Đông Dương. Các nhóm đặc hữu các khu vực phân bố khác nhau
nhưng tất cả chúng không đồng nhất. Tính đặc hữu của các loài cây hạt trần tập trung
ở những vùng núi chính của đất nước. BirdLife International đã đánh giá về sự phân
bố trên toàn thế giới những khu tập trung của nhữ
ng loài chim có quy mô hạn chế.
Ở Việt Nam, họ đã xác định được ba vị trí cao nguyên Đà Lạt, vùng đất thấp
trung và nam bộ (ICBP),1992). Đối với các khu vực này, ở mức độ khu vực phụ nên
đưa thêm vào dãy Hoàng Liên Sơn.
Toàn bộ hệ thực vật được đặc trưng bởi tỷ lệ các loài đặc hữu cao dự tính
khoảng giữa 33% (Pocs Tamass,1965) ở Bắc Việt Nam và 50% (Thái Văn Trừng,
1970) trên cả nước. Số lượng l
ớn nhất các dạng đặc hữu được thấy ở ba khối núi
chính - dãy Hoàng Liên Sơn, cao nguyên Đà Lạt và cao nguyên miền trung.
Về cá cũng cho thấy cũng cho thấy tính đặc hữu ở mức cao ở Việt Nam với 60
loài cá nước ngọt đặc hữu đã được xác định, hầu hết ở các sông miền Bắc. Một số lớn
các loài đặc hữu ở sông Mê Kông chung với các nước láng giềng.
Chim di trú
Việt Nam nằ
m trên bờ đông của bán đảo đông dương trong phạm vi khu vực
động vật viễn đông hay Ấn Độ - Mã Lai và là một bộ phận quan trọng trên đường bay
của chim di trú về phía đông á. Trên 200 loài chim tham gia vào đường bay này. Một
số loài quan trọng như 15 loài di trú bị đe doạ trên thế giới hiện nay tìm thấy ở Việt
Nam.
Sự phong phú của biển
Cá biển
Tổng số loài cá biển được ghi nhận là 2038 loài của 717 giố

kết luận. Một số dạng bao gồm phần lớn các nhóm mà hiện nay đang được quan tâm.
Có rất nhiều loài chỉ có ở Việt Nam và phản ánh tình trạng đe doạ đối với môi trường
sống tự nhiên ở Việt Nam.
Bảng 2. Phân hạng theo Sách Đỏ ở Việt Nam
Lớp/Phân hạng Nguy cơ tuyệt
chủng
Dễ tổn
thương
Bị đe doạ Hiếm Chưa xác định
Thú 30 23 1 24 -
Chim 14 6 32 31 -
Bò sát/lưỡng cư 8 19 16 11 -
Cá 6 24 13 29 3
Không xương sống 10 24 9 29 3
Tổng số 68 96 71 124 6

Trong số 150 loài và loài phụ đối với cá và động vật không xương sống liệt kê
trong Sách đỏ, 83 loài thuộc biển bao gồm 37 loài cá và 46 loại san hô, nhuyễn thể,
crustacea và echinoderm. Cũng có 40 loài cá nước ngọt và nước lợ hiếm và nguy cấp.
Trong thế kỷ 20, tê giác Sumatra (Diceroprhinus sumatrensis) hươu sao
(Cervus nippon pseudaxis), cà toong (C.eldi), bò xám (Bos sauveli), trâu rừng
(Bubalus arnee) và có thể heo vòi Malaysia (Tapirus indicus) đã trở nên tuyệt chủng
cục bộ. Ngoài ra, một số loài chim cư trú, trĩ Edwards (Lophura edwards) có thể bị
Báo cáo tổng kết Biodiva
14
tuyệt diệt và bốn loài chim nước lớn đã thôi không sinh sản ở quy mô quốc gia, đồng
thời sếu cổ đen (Grus nigricollis) và Mergus squamatus hầu như đã chấm dứt làm du
khách không sinh sản
Nếu không có hành động bảo tồn khẩn cấp, những loại sau đây đang phải
đương đầu với nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam: bò rừng (Bos banteng), tê giác Javan

cặp sừng nhọn của loài động vật này). Dũng và nnk (1993) đã đề nghị một tên giống
mới, Pseudoryx, để phản ánh sự tương tự của loài động vật này với các loài linh
dương giống Oryx ở châu Phi và
Ả Rập, cùng với một tên riêng, nghetinhensis để
phản ánh nguồn gốc của loài này là từ Nghệ Tĩnh (tên cũ của các tỉnh Nghệ An và Hà
Tĩnh).
Từ khi được công bố, một loạt các cuộc khảo sát tiếp theo đã được các nhà
khoa học Việt Nam tiến hành, và các địa điểm mới nơi có loài thú sừng dài này sinh
sống đã được phát hiện trên một vùng rộng lớn trải ra trên các tỉnh Nghệ An, Hà
Tĩnh, Thừ
a Thiên Huế, Quảng Nam và cả nước CHDCND Lào. Tuy vậy, trên cơ sở
của những thông tin hiện tại, loài thú mới này vẫn nằm trong số các loài thú lớn đang
Báo cáo tổng kết Biodiva
15
bị nguy cấp. Mối đe doạ chủ yếu đối với Sao la là các loại bẫy do những người thợ
săn địa phương đặt trong rừng. Các bẫy này thường được đặt để săn lợn rừng, nai
hoẵng để ăn thịt. Nhưng những con Sao la cũng vô tình bị mắc vào các bẫy này. Toàn
bộ quần thể sao la ở Khu bảo tồn thiên nhiên Vũ Quang có lẽ không quá 100 cá thể.
Trong một khu vự
c khác thuộc vùng phân bố của loài này ở tỉnh Quảng Nam. Địa
điểm này đã được khảo sát, mật độ của loài này được báo cáo là thấp trong khi đó
khảo sát ở Thừa Thiên Huế cho thấy có nhiều cơ hội hơn để bảo tồn loài này trong
tương lai tại Việt Nam. Tại Lào, loài này được biết là tồn tại ít nhất ở các tỉnh Khăm
Muộn và Bô Li Khăm Say, trong Khu bảo tồn ĐDSH quốc gia Na Kai Nậ
m Thơn,
trong vùng đề xuất mở rộng của khu này về phía bắc và vùng Nam Gnuang. Sao la
cũng có ở Khu Bảo vệ đề xuất Nam Chuân. Mật độ của Sao la ở những vùng này
chưa được biết rõ, nhưng phân bố của nó trong các vùng này thì không được liên tục.
Loài Sao la cần được bảo tồn bởi vì nó là một loài biểu tượng cho công tác bảo
tồn thiên nhiên ở Việt Nam và Lào, cũng như nó là niềm tự hào của giá trị sinh học

mang mới. Đây là loài thú lớn mới thứ 3 được các nhà khoa học phát hiện ra ở Việt
Nam trong những năm gần đây.
Báo cáo tổng kết Biodiva
16
Không có một mẫu vật sống nào của loài mang Trường Sơn được các nhà khoa
học quan sát. Chỉ có những chiếc sọ đã được kiểm tra và lời mô tả của người dân địa
phương. Người địa phương gọi nó là con samsoi cacoong, nghĩa là “con mang nhỏ
sống trong rừng sâu rậm rạp”. Người ta biết rằng loài mang mới này sống ở các độ
cao từ 400 - 1000 m, trong những tầng cây sát mặt đất trong rừng rậm, với đ
iều kiện
sống như vậy thì kích thước nhỏ của nó đã giúp nó đi lại được dễ dàng.
Những loài thú này rất cần được bảo tồn vì nó có một giá trị khoa học đặc biệt.
Nó cần được bảo vệ cùng với các tài nguyên ĐDSH giàu có khác của đất nước chúng
ta.
1.1.4. Những nguyên nhân gây mất nguồn gen động vật hoang dã
Bảng 3 liệt kê những kiến thức cấp tỉnh khi các cán bộ được yêu c
ầu đánh giá
những đe doạ chính đối với ĐDSH ở địa phương họ. Ngoài ra, những nhà lãnh đạo
lâm nghiệp tỉnh cũng đã được đề nghị trả lời những câu hỏi lập thứ tự chính yếu về
những mối đe doạ đối với ĐDSH. Kết quả được tổng kết trong bảng 3. Những đe doạ
được liệt kê theo thứ t
ự mức độ đánh giá.
Bảng 3. Nhìn nhận của các cán bộ tỉnh về những đe doạ chính đối với ĐDSH
Những đe doạ chính đối với ĐDSH
(theo thứ tự thông thường)
ý kiến đóng góp của cán bộ tỉnh
Xâm lấn là nguyên nhân chính làm mất tính ĐDSH
Săn bắt/đánh cá rất khó kiểm soát
Khai thác gỗ trước đây rất nghiêm trọng, nay giảm đi nhiều
Cháy rừng nghiêm trọng ở vài nơi, nhưng nay đã

Du canh
Từ bao đời nay, một số dân thiểu số đã thực hiện canh tác luân phiên ổ
n định
theo chu kỳ. Cánh đồng được làm đất canh tác trong vài năm và tiếp theo cho đất
nghỉ vài năm để dùng lại . Hệ thống này chỉ mở một tỷ lệ rừng rất nhỏ vào bất kỳ lúc
nào và có tác dụng làm giàu thông qua việc cho phép những loài mới đến cư trú. ở
nhiều nơi, hệ thống này không còn ổn định nữa do dân số tăng nhanh, chủ yếu do di
cư, đồng thời diện tích rừng thu hẹ
p. Điều này có nghĩa là những chu kỳ đất nghỉ
không còn đủ để rừng tái sinh.
Xâm lấn của canh tác nông nghiệp
Mối đe doạ này bởi nông dân ở các tỉnh đồng bằng nghèo đói di cư đến mong
tìm được nơi đất tốt cho canh tác nông nghiệp tại vùng đồi núi . Họ không có truyền
thống du canh, biết rất ít về rừng và giá trị của nó và sử dụng nó một cách đơn giản là
dùng đất bìa rừng
để canh tác nông nghiệp.
Các khu rừng ngập mặn tại tỉnh Minh Hải phải đương đầu với một mối đe doạ
riêng của người dân địa phương phá rừng ngập mặn để làm đầm nuôi tôm. Những
khu rừng ngập mặn này vào cỡ tốt nhất thế giới . Họ đã tàn phá tương đương sức phá
của chất độc hoá học trong chiến tranh. Những khu rừng này đã được bả
o vệ làm căn
cứ du kích và bộ đội chủ lực. Nay chỉ trong thời gian ngắn người nông dân đã phá đi
biết bao giá trị ĐDSH và nguồn cá cửa sông.
Săn bắn và đánh bắt cá quá mức
Săn bắn được xếp vào hàng những đe doạ mới nhưng rõ ràng là một mối đe
doạ lớn nhất đối với một số loài có nguy cơ bị tuyệt chủng. Các vùng nông thôn thiếu
v
ắng chim trong làng và trên cánh đồng. Đó là do săn bắn kết hợp với việc sử dụng
quá độ thuốc trừ sâu và phân hoá học và do độc canh sinh thái cây lúa.
Báo cáo tổng kết Biodiva

các loài hoang dại, nên không có con số cụ thể về quy mô và xu hướng của hoạt động
này. Tuy nhiên, nhìn chung cho thấy khai thác quá mức nhiều loài sinh học biển.
Thí dụ về sự khai thác quá mức được trình bày dưới đây:
Rùa biển:
Loài đồi mồi Hawkbill Eretmochelys imbricata bị săn lấy mai và vích Green
turtle Chelonia mydas bị săn lùng lấy thịt. Mai đồi mồi tr
ước đây dùng làm hàng mỹ
nghệ để cung cấp cho người du lịch trong nước. Các trung tâm kinh doanh đồi mồi là
Nha Trang, Vũng Tàu và Hà Tiên. Đồi mồi và vích bán ở Nha Trang phần lớn bắt tại
Quảng Ngãi - Bình Thuận. Trước năm 1990, hai nghìn đồi mồi và vích được bán
hàng năm ở Nha Trang. Con số hiện nay giảm xuống còn 1000. Giá một con đồi mồi
và vích thay đổi từ 30-80USD.
Đồi mồi và vích bán ở Vũng Tàu phần lớn bắt ở Côn Đảo và vùng bờ biển n
ửa
chìm nửa nổi tại Vũng Tàu và Đồng Nai . Đồi mồi và vích bán ở Hà Tiên bắt từ Phú
Quốc và Thổ Chu . Một vài trại nuôi vích và đồi mồi tại Phú Quốc đã phải đóng cửa
do một vài lý do gồm cả môi trường sống và tăng áp lực săn bắt (lấy cả con lớn và
Báo cáo tổng kết Biodiva
19
trứng). Chỉ có một gia đình vẫn còn nuôi rùa con. ở miền Bắc, hầu như không còn
kinh doanh rùa do đã bị săn bắt hết.
San hô:
Các tiêu bản san hô cứng thường bán làm đồ lưu niệm cho khách du lịch và
trang trí bể cá. Nha Trang là trung tâm buôn bán san hô với sản lượng 50 tấn/năm.
Giá một tiêu bản san hô là 3000-15.000 đồng (USD 0,3-1,5). Kinh doanh như thế
cũng có với quy mô nhỏ ở Cà Ná, Vũng Tàu và Đà Nẵng. Các loài được ưa thích như
Pocillopora damicornis, P.verrucosa và Acropora formosa là những loài cư trú ở
rất
nhiều vùng tại vịnh Nha Trang trong những năm 1960 nhưng nay rất hiếm. Những
tiêu bản còn lại tại các cửa hàng địa phương thu lượm ở những nơi xa .

cháy mỗi nă
m là khoảng 20.000-30000 ha thậm chí còn lên đến 100.000 ha trong
năm tồi nhất. Cháy rừng như thế thường do nguyên nhân gián tiếp của phát nương du
Báo cáo tổng kết Biodiva
20
canh, săn bắn, khai thác kim loại, dọn sạch đường sắt, nấu ăn, sưởi ấm, lấy mật ong
hoặc nhựa cây của dân. Tổn thất đối với rừng bị mất gây tổn thất đến ĐDSH cũng
như mất gỗ và tổn thất đến tập, đường, nguồn nước và mất cuộc sống của con người .
Nhờ có sự quan tâm hơn đến chống cháy r
ừng, tỉ lệ cháy rừng trong những năm qua
giảm.
Mặc dầu một vài thành công vừa qua làm cho người ta có thể bảo vệ việc mất
rừng không phải là do cháy rừng, nên vẫn còn có ý kiến cho rằng cháy rừng là mối đe
doạ nghiêm trọng đối với ĐDSH ở một vài vùng trọng điểm. Vùng sinh học quan
trọng nhất đối với bảo tồn ĐDSH, bị cháy rừng đe doạ là r
ừng thường xanh núi thấp
ở các tỉnh Lâm Đồng, Đắc Lắc và Ninh Thuận.
Trong những năm những vạt rừng này đã bị chặt trụi bởi các nhóm dân tộc
thiểu số, và trong 100 năm gần đây là do người Kinh.
Việc dùng lửa rộng rãi trong phát nương làm rẫy làm giảm phạm vi rừng
thường xanh núi thấp và làm tăng nạn cháy rừng do Pinuskhesiya và P.merkusii .
Những lâm phần thuần loại cây này có thể tự nhiên bốc cháy do nắng, những v
ạt dốc
thoát nước tốt về hướng đông độ lan nhanh có giảm.
Những rừng thông này những loài ngoại trừ nghèo đối lập với rừng thường
xanh núi thấp có tầm quan trọng trên quy mô toàn cầu đối với giá trị ĐDSH và những
trung tâm đặc hữu chính.
Việc tiếp tục dùng lửa đã chia nhỏ các khu rừng thường xanh núi thấp và đang
mất đi nhất là những bờ dốc cao hơn ở
phía tây và phía nam.

và đất sét ở Việt Nam. Mức trung bình của các chất rắn trong vùng nước bờ biển Việt
Nam là 100mg/l. Điều này mang lại cho các hệ sinh thái vùng bờ biển đặc biệt là các
rạn san hô, cũng như làm giảm sản lượng đ
ánh bắt cá và du lịch.
Hàng triệu tấn bùn và cát được nạo vét ở các cảng để khơi thông cửa biển
(cảng Hải Phòng, 3 đến 5 triệu tấn) hàng năm. Các hoạt động hút bùn đáy biển khuấy
đục nước, những bùn nắng sau khi nạo đáy chảy tràn ra biển, thường gây hại bởi có
dầu và các chất độc tố, gây rủi ro lâu dài không chỉ đối với môi trường biển tự nhiên,
mà còn đối với sản l
ượng ngư nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản.
Đánh bắt cá bằng chất nổ
Ngoài ra do đánh bắt cá quá độ, những khu vực biển bị đe doạ bởi những
phương pháp đánh bắt cá bằng chất nổ. Thực tiễn này, phá hoại những rạn san hô rất
phổ biến, đặc biệt ở một số tỉnh miền bắc và miền trung như Khánh Hoà và Quảng
Ngãi . Chất nổ được dùng ở biển, sông, cửa sông, cả rạn san hô, những rạn đá ngầm
và thậm chí cả những rạn giả được xây dựng để thu hút cá. Một phần do nghèo đói đã
ép ngưdân và những người khác phải hành động, việc sử dụng chất nổ phản ánh nhận
thức của dân thấp.
Khai thác san hô
Khai thác san hô là điều đánh ngại nhất ở miền Trung từ Đà Nẵng đế
n Ninh
Thuận. Thu hoạch san hô để làm vôi rất phá hoại vì thu lượm san hô chết ở những
vùng thuỷ triều thường dùn chất nổ. Tình hình ở Khánh Hoà rất đáng ngại vì có 20 lò
nung vôi, mỗi lò công suất khoảng 10 tấn/năm. ở một vài nơi như Cù Mông bắc Phú
Yên, bờ biển Ninh Hoà, đầm Thuỷ Triều và bờ biển Ninh Chu của Ninh Thuận, có rất
nhiều san hô chết vùi trong cát hoặc bùn.
Khai thác san hô làm xi măng cũng đáng ngại . Hai nhà máy xi măng Khánh
Hoà và Ninh Thuậ
n, mỗi nhà máy công suất 20.000 tấn xi măng/năm. Những nhà
máy này chủ yếu lấy san hô chết ở bờ biển làm nguyên liệu . Cứ mỗi tấn xi măng, cần

Sự phân tán rừng
Việc rừng bị xé lẻ và trở nên nhỏ hơn và tách biệt ra khỏi những rừng khác,
chúng không còn đủ khả năng hỗ trợ cho tính phong phú của các loài như ban đầu
được nữa . Mỗi khoảnh rừng có diện tích 100.000ha có thể chứa tất cả các loài chim
xuất xứ
, những diện tích nhỏ hơn mất đi khoảng một nửa những loài gốc cho từng
khoảnh giảm 90%.
1.2. Tiềm năng và nguy cơ mất ĐDSH động vật nuôi của Việt Nam
Quá trình toàn cầu hoá, sự tăng dân số cùng với nạn phá rừng làm ĐDSH giảm
đi nhanh chóng. Các nguồn gen động, thực vật và cả những kiến thức truyền thống
địa phương có liên quan đến nguồn gen này đang mai mộ
t, mất dần đi. Vì vậy, những
năm gần đây, việc sử dụng bền vững nguồn gen, bảo vệ các tri thức bản địa và chia sẻ
hợp lý lợi ích có được từ nguồn gen đã được các quốc gia chú ý, đặc biệt là sau hội
nghị thượng đỉnh về môi trường toàn cầu tại Rio de Janero năm 1992, khi Liên Hợp
Quốc thông qua Công ước quốc tế về ĐDSH. Mục tiêu thứ ba trong ba m
ục tiêu của
Công Ước ĐDSH là "phân phối công bằng hợp lý lợi ích có được nhờ việc khai thác
và sử dụng nguồn gen, bằng việc tiếp cận hợp lý nguồn gen, bằng chuyển giao hợp lý
các công nghệ có liên quan đến nguồn gen, bằng việc công nhận các quyền sở hữu
về nguồn gen và công nghệ đó, và bằng các tài trợ thích đáng".
Việt Nam đã tiến hành công tác bảo tồn nguồn gen từ những n
ăm 1987. Giai
đoạn 1996 - 2000 đã hình thành được hệ thống bảo tồn nguồn gen quốc gia gồm 10
Báo cáo tổng kết Biodiva
23
đơn vị đầu mối và hơn 60 đơn vị phối hợp trong cả nước thuộc 6 bộ, ngành và địa
phương. Kết quả đã bảo tồn và lưu giữ được trên 13500 giống thực vật tại Trung tâm
Tài nguyên di truyền thực vật (Lưu Ngọc Trình, 2000), trên 450 giống lúa có tính
chống chịu hạn, úng mặn và bệnh hại (Trần Duy Quý, 2000), trên 485 giống cây ăn

giới. (Nước ta cũng được xếp trong 16 nước có sự đa dạnh sinh học phong phú nhất).
Danh sách một số giống vật nuôi nội địa Việ
t Nam được trình bày trong bảng 4.
Bảng 4. Danh sách một số giống vật nuôi nội địa Việt Nam
Gia súc Gia cầm
Lợn Đại gia súc và khác Gà Khác
Lợn ỉ đen Trâu VN Gà Ri Vịt Bầu Quỳ
Lợn ỉ gộc Bò Vàng Gà Tè (Lùn) Vịt Bầu Bến
Lợn Móng Cái Bò Mèo Gà Mía Vịt Bạch Tuyết
Lợn Ba Xuyên Bò U đầu Rìu Gà Hồ Vịt Cỏ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status