Vai trò của nhà nước đối với thương mại và dịch vụ (TMDV) trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 32

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Mở đầu
Nhìn lại hơn 20 năm đổi mới cũng là đánh giá một quá trình, một giai
đoạn hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta. Sự hội nhập đó là một bộ phận cấu
thành, một trong những điều kiện và nhân tố cho sự thành công của sự nghiệp
đổi mới. Chúng ta hiểu hội nhập kinh tế quốc tế như thế nào? Thiết nghĩ đó
trước hết là nhận thức rằng nền kinh tế thế giới và các nền kinh tế quốc gia là
một thể thống nhất, trong đó sự tương tác giữa các nền kinh tế quốc gia, cũng
như với từng nền kinh tế quốc gia với tổng thể quy luật, cơ chế , tập quán vận
hành của kinh tế toàn cầu sẽ quy định một cách cơ bản sự phát triển và hưng
thịnh của mỗi nền kinh tế quốc gia và của cả kinh tế thế giới. Nói cách khác,
trong thời đại quốc tế hóa, không một nền kinh tế nào có thể phát triển trong
sự khép kín độc lập. Thực ra dân tộc Việt Nam trong lịch sử của mình đặc
biệt từ khi có đảng lãnh đạo đã khẳng định giá trị của hội nhập khi kết hợp
cộng hưởng tài tình nội lực với ngoại lực trong sự nghiệp giải phóng dân tộc,
thống nhất nước nhà và lập lại hòa bình. Đương nhiên phương thức, quá trình
hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế của một quốc gia sẽ tạo nên mức độ phát
triển khác nhau của từng nền kinh tế quốc gia. Điều này càng đúng khi thế
giới đi vào toàn cầu hóa.
Toàn cầu hóa đặt mỗi nước xã hội trước những thực tế và những bài toán
hết sức phức tạp, đòi hỏi vừa có tầm nhìn tổng thể, biện chứng vừa có hiểu
biết rất cụ thể, vừa có thể thích nghi nhanh chóng và linh hoạt. Để có thể làm
được điều đó, chúng ta Việt Nam nói chung và từng chủ thể kinh tế Việt Nam
nói riêng cần nghiên cứu suy ngẫm và tự xác định chúng ta đứng ở vị thế nào
trong “ thế giới phẳng”, trong “dây chuyền cung toàn cầu”. Thiếu điều đó
không thể hội nhập kinh tế quốc tế thành công, không thể phát huy đầy đủ lợi
thế so sánh và tối ưu hoá các điều kiện phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam.
Hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế khách quan dang lôi kéo tất cả các quốc gia
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
vào vòng vận động của nó. Tuy nhiên sân chơi quốc tế là một sự đọ sức

kiện thực tế của đất nước, vừa phù hợp với luật chơi quốc tế, với các hiệp
ước, định chế quốc tế. Một môi trường pháp lý và chính sách thuận lợi sẽ tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước mở rộng thị trường ra nước ngoài
nhằm tăng qui mô xuất khẩu và khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới,
đồng thời bảo hộ hợp lý thị trường trong nước trước sự xâm nhập ngày càng
mạnh mẽ của hàng hoá và dịch vụ nước ngoài. Một chính sách kích thích sản
xuất tốt không chỉ đóng vai trò thúc đẩy năng lực sản xuất, bảo đảm đầu vào,
đầu ra cho quá trình sản xuất mở rộng, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về
hàng hoá của xã hội mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc khai thác tiềm
năng, thế mạnh và lợi thế so sánh của đất nước, dẫn dắt sản xuất đi theo tín
hiệu của thị trường để từ đó phân bổ nguồn lực một cách hợp lý và hiệu quả,
thúc đẩy tiến bộ khoa học và công nghệ để đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước.
Hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam trong những năm qua đạt
được rất nhiều thành tựu do sự nỗ lực của các chủ thể trong nền kinh tế, đặc
biệt không thể không kể đến vai trò của nhà nước trong việc tạo lập môi
trường, xây dựng được chính sách phù hợp có tác dụng hỗ trợ thực sự các
doanh nghiệp đẩy mạnh xuất nhập khẩu, thông qua đó tác động đến phát triển
kinh tế. Tuy nhiên, những thách thức to lớn nhất cũng đang đặt ra đòi hỏi nhà
nước phải vượt qua. Sau đây là ba mảng nội dung quan trọng nhất thể hiện cụ
thể vai trò của nhà nước Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế.
Vai trò của nhà nước trong xây dựng thể chế thương mại và chính
sách tự do hoá thương mại theo các cam kết quốc tế
Trong việc tạo lập môi trường quốc tế thuận lợi cho doanh nghiệp và
hàng hoá Việt Nam, nhà nước đã và đang tiếp tục đẩy nhanh việc đàm phán,
ký kết các hiệp định thương mại song phương và đa phương để tận dụng được
lợi thế của tự do hoá thương mại, hạn chế các rào cản thuế quan và phi thuế
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
quan đối với hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu vào các thị trường, Trong điều kiện

hiện tự do hoá thương mại theo các cam kết trong CEPT/ AFTA, Việt Nam
cần tiếp tục điều chỉnh chính sách bảo hộ. Nhà nước cần tích cực chuẩn bị để
sẵn sàng sử dụng các biện pháp tự vệ như thuế chống bán phá giá, thuế đối
kháng, thuế tuyệt đối, thuế thời vụ để ổn định chính sách bảo hộ, đồng thời
tăng cường công tác chống buôn lậu có hiệu quả trên các tuyến biên giới,
vùng biển và thị trường nội địa.
Vai trò của nhà nước trong hoạch định Chính sách xuất nhập khẩu
Nhà nước cần chỉ đạo các cơ quan nhà nước có liên quan điều tra, phân
loại, đánh giá khả năng cạnh tranh của từng sản phẩm, từng ngành hàng, từng
loại dịch vụ, từng doanh nghiệp, từng địa phương để xây dựng kế hoạch, biện
pháp thiết thực nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp
và cho hàng hoá, dịch vụ Việt Nam. Nhà nước cần đầu tư nhiều hơn cho công
tác nghiên cứu, phân tích, đánh giá và khai thác lợi thế so sánh của Việt Nam
để tạo cơ sở cho việc hoạch định chiến lược, chính sách và ra các quyết định
thích hợp trong tiến trình hội nhập. Từ việc xác định ưu thế cạnh tranh và lợi
thế so sánh của các mặt hàng để xây dựng phương án đầu tư, đổi mới công
nghệ vào từng mặt hàng theo thứ tự ưu tiên, kết hợp đa dạng hoá các nguồn
hàng và thị trường xuất khẩu để giảm thiểu thiệt hại khi thị trường thế giới
biến động. Lợi thế so sánh không phải là yếu tố “nhất thành, bất biến” cũng
không phải chỉ là các yếu tố nội sinh mà luôn luôn thay đổi và do nhiều yếu tố
tác động như: cách ứng xử của các chủ thể trong thương mại quốc tế, sự phát
triển của khoa học công nghệ, sự thay đổi chu kỳ sống của sản phẩm và sự
thay đổi của các chính sách và các cam kết quốc tế. Do đó việc nghiên cứu để
nhận dạng lợi thế so sánh của Việt Nam nhất là lợi thế so sánh động có vai trò
quyết định đến sự thành bại khi tham gia thương mại quốc tế.
Cần chuyển đổi cơ cấu hàng xuất khẩu, tăng cường tỷ trọng hàng chế
biến sâu, có giá trị gia tăng, hàm lượng kỹ thuật cao, đầu tư để tạo ra một số
mặt hàng xuất khẩu chủ lực với kim ngạch lớn. Ngoài ra nhà nước cần loại bỏ
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368

Website: Email : Tel : 0918.775.368
xét qui định khống chế tỷ lệ chi phí cho hoạt động quảng cáo của các doanh
nghiệp vì với tỷ lệ chi phí dành cho quảng cáo thấp như hiện nay (5%), hoạt
động xúc tiến thương mại quốc tế của các doanh nghiệp bị hạn chế rất nhiều.
Ngoài ra, nhà nước cần tiếp tục và bổ sung thêm các chính sách hỗ trợ
các doanh nghiệp trong nước hoạt động xuất khẩu như thưởng xuất khẩu, trợ
cấp xuất khẩu, xây dựng và nâng cao hiệu quả hoạt động của quĩ hỗ trợ xuất
khẩu từ nguồn ngân sách và nguồn đóng góp của các doanh nghiệp, trước hết
là các ngành hàng có kim ngạch lớn.
Vai trò của nhà nước trong xây dựng và hoàn thiện các chính sách
kinh tế liên quan
Tăng cường vai trò của nhà nước trong việc sử dụng linh hoạt các công
cụ kinh tế vĩ mô để thúc đẩy thương mại quốc tế như xác định tỷ giá hối đoái
hợp lý, sát với sức mua của đồng Việt Nam và kích thích xuất khẩu, hỗ trợ lãi
suất cho các doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu, tiếp tục hoàn thiện chính sách
thuế, cơ cấu nguồn thu và tỷ suất thuế phải được điều chỉnh để vừa đáp ứng
được yêu cầu, thông lệ quốc tế vừa đảm bảo ổn định nguồn thu ngân sách.
Trên cơ sở nguyên tắc “không phân biệt đối xử” và “tự do hoá từng bước”,
Nhà nước phải xoá bỏ dần nhưng triệt để các loại giá, phí, sắc thuế có tính
chất phân biệt đối xử, giảm dần thuế nhập khẩu, miễn thuế hoàn toàn cho
hàng hoá xuất khẩu, cải tiến thủ tục hành chính, hải quan để tránh gây phiền
hà cho hoạt động xuất khẩu. Nhà nước cũng cần phải thiết lập chính sách lãi
suất mềm dẻo, linh hoạt theo hướng giảm chi phí vốn cho các doanh nghiệp
và kích cầu cho nền kinh tế, đảm bảo theo kịp và làm chủ được những biến
động của thị trường.
Nhà nước cần bảo vệ và hỗ trợ cho doanh nghiệp xây dựng thương hiệu
để hàng Việt Nam có chỗ đứng và khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc
tế, rút ngắn thời gian và thủ tục đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368

Dịch vụ vận tải về cơ bản đáp ứng được nhu cầu giao lưu hàng hoá và đi lại
của nhân dân; khối lượng luân chuyển hàng hoá tăng 12%/năm và luân
chuyển hành khách tăng 5,5%/năm. Dịch vụ bưu chính - viễn thông có bước
phát triển và hiện đại hoá nhanh, tăng trung bình 18-20%/năm. Các dịch vụ
tài chính, kiểm toán, ngân hàng, bảo hiểm... được mở rộng và có những đổi
mới quan trọng, tăng bình quân 7,0%/năm; thị trường dịch vụ bảo hiểm được
hình thành với sự tham gia của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước.
Các loại dịch vụ khác như tư vấn pháp luật, khoa học và công nghệ... bắt đầu
phát triển. Không chỉ đáp ứng được nhu cầu trong nước, các ngành dịch vụ
nước ta đã bắt đầu xâm nhập vào thị trường thế giới.
Cần phải tránh nhận thức sai lầm là tự do hóa TMDV đồng nghĩa với
việc thả nổi khu vực dịch vụ. Bởi vì, sự điều tiết chặt chẽ của Nhà nước và
Chính phủ đối với khu vực dịch vụ sẽ đóng vai trò then chốt đối với việc tăng
cường năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Chính vì
vậy, quản lý nhà nước (QLNN) đối với các hoạt động TMDV tại Việt Nam
trong bối cảnh hiện nay là điều vô cùng cần thiết.
Quá trình mở cửa và từng bước tự do hoá thị trường dịch vụ luôn đi cùng
với việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh doanh. Từ khi đổi
mới mô hình quản lý kinh tế, khuôn khổ pháp lý cho khu vực dịch vụ của Việt
Nam được phát triển nhanh chóng. Nhiều văn bản pháp lý quan trọng điều
chỉnh các ngành dịch vụ đã và đang được Nhà nước ban hành như Luật Xây
dựng, Luật Kế toán, Luật Hàng không dân dụng, Luật Ngân hàng nhà nước,
Luật Hàng hải..., và các văn bản pháp luật có tính liên ngành như Luật
Thương mại, Luật Đất đai, Bộ luật Lao động và Luật Đầu tư... Tuy nhiên,
khuôn khổ pháp luật cho lĩnh vực TMDV vẫn chưa thực sự hoàn chỉnh, môi
trường chính sách còn phức tạp và phần nào mâu thuẫn, cần được sửa đổi và
hoàn thiện.
9


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status