Chính thể cộng hòa đại nghị ở đức - Pdf 32

Chính thể cộng hòa đại nghị ở Đức

I. Lịch sử hình thành chính thể Cộng hòa đại nghị ở Đức năm 1949

1.1 Từ giai đoạn xâm chiếm Tây La Mã thế kỷ IV và V đến 1815:
- Giai đoạn (IV – V) tộc người Giecmanh xâm chiếm La Mã FLập lên nhiều
vương quốc Man Tộc.
- Năm 476 thủ lĩnh quân sự người Giecmanh tự xưng vua. Do vậy từ 476-1850
nước đức tồn tại hình thức nhà nước phong kiến quân chủ tập quyền.
- CMTS Pháp bùng nổ, Beclin (thủ đô của nước Phổ) thành trung tâm công nghiệp
của nước Đức

- Giữa TK XIX Đức vẫn là quốc gia phong kiến lạc hậu.

1.2 Từ 1815 đến 1990.


- 1815 theo nghị quyết của Hội nghị viên thì Đức được coi là liên bang gồm : 31
tiểu vương quốc tách biệt nhau và 4 thành phố tự trị (Bremen, Hambua, Liubech,
Phrangphua):



+ Cơ quan tối cao của liên bang là Hội nghị liên bang. Trong đó không có
cơ quan hành pháp, lập pháp chung, không có quân đội, tài chính và ngoại
giao chung.



+ Thành phần : đại diện của các tiểu vương quốc (ko có quyền lực thực tế)




- 12-1848 Vua ra sắc lệnh giải tán Quốc hội dẫn đến giai cấp tư sản thất bại.



- 28/3/1849 Quốc hội Phrangphua công bố Hiến phápFra đời chính phủ liên
bang. Hoàng đế là người đứng đầu, mỗi tiểu vương quốc có chủ quyền
riêngFmâu thuẫn giữa các vương quốc (lớn phản đối, nhỏ đồng ý)Fsố đại
biểu từ 831 còn 150Fđấu tranh bảo vệ hiến phápFCác cuộc Cách mạng nổ
ra.

v Quá trình thống nhất nước Đức

1. - 1866 chiến tranh Áo – Phổ.

2. - 1867 thành lập LB Đức.
3. - Sau chiến tranh Pháp-Phổ 1870-1871, các nhà nước Nam Đức hợp nhất
với Hiệp hội các nhà nước Bắc Đức lập ra đế chế Đức.
4. - Ngày 18.1.1871, thành lập Đế quốc Đức tại cung điện Vecxai thuộc Pháp,
vua Phổ Wilhelm đệ Nhất được phong làm Hoàng đế. Bismarck , người có
công rất lớn trong việc tập hợp các nhà nước cắt cứ Đức thành một nước
Đức thống nhất, đã làm Thủ tướng suốt 19 năm.

5. - 28/6/1914 chiến tranh thế giới lần thứ Nhất bùng nổ. Đức tuyên chiến với
Pháp, Nga và Anh; thắng Nga đi đến Hoà ước Brest-Litov (3/1918), nhưng
thua Đồng minh có Mỹ tham gia, đưa đến đình chiến (11/1918).


6. - 10/1918: Hoàng đế từ ngôi.

Hình thức nhà nước (hay còn được gọi một cách thông thường là hình thức tổ chức
nhà nước) là mô hình tổ chức ra các cơ quan nhà nước và mối quan hệ giữa chúng
với nhau, giữa các cơ quan nhà nước với nhân dân, và thường được phân tích dưới
nhiều giác độ/tiêu chí khác nhau. Hình thức chính thể là một hình thức rất quan
trọng trong các dạng hình thức nhà nước.
Hiện nay, trên thế giới có hai loại hình thức chính thể cơ bản. Đó là chính thể quân
chủ và chính thể cộng hoà. Chính thể quân chủ là chính thể mà ở đó nguyên thủ
quốc gia do thế tập truyền ngôi, quyền lực nhà nước có nguồn gốc từ cõi “hư vô”,
do thiên đình định đoạt. Chính thể cộng hoà là chính thể nguyên thủ quốc gia do
bầu cử lập nên và quyền lực nhà nước có nguồn gốc từ nhân dân.


Khi xác định chính thể, trước hết người ta thường dựa vào cách thức thành lập
nguyên thủ quốc gia và nhiệm vụ quyền hạn của nguyên thủ quốc gia. Sau đó, sẽ
xét đến cách thức tổ chức và mối quan hệ giữa các cơ quan Nhà nước khác, mà
chủ yếu là của các cơ quan lập pháp và hành pháp.
Nếu nguyên thủ quốc gia được hình thành bằng phương pháp truyền ngôi thì đó là
nhà nước quân chủ. Và ngược lại, nếu nguyên thủ quốc gia được lập nên thông
qua bầu cử thì đó là chính thể cộng hoà.

Chính thể cộng hoà đại nghị (hay còn được gọi là chính thể cộng hoà nghị
viện) là chính thể mà ở đó nguyên thủ quốc gia được hình thành không thông
qua con đường thế tập truyền ngôi, mà bằng phương pháp bầu cử và Nghị
viện, về nguyên tắc, là cơ quan đóng vai trò quan trọng hơn mọi cơ quan nhà
nước khác trong việc thực hiện quyền lực nhà nước.

Tư tưởng phân quyền trong hình thức chính thể Cộng hòa đại Nghị của Đức
qua Nghị viện, Chính Phủ, Tòa án.

2. Tư tưởng phân quyền trong hình thức chính thể Cộng hòa đại Nghị của


2.2 Việc phân chia quyền lực nhà nước giữa chính quyền liên bang và chính
quyền tiểu bang (phân chia quyền lực theo chiều dọc)
Nhà nước CHLB Đức là một nhà nước liên bang. Cơ cấu liên bang có lịch sử ở
Đức từ thế lỉ XIX. Nguyên tắc nhà nước liên bang được quy định trong Hiến pháp
CHLB Đức và không được phép hủy bỏ bằng con đường sửa đổi hiến pháp (Điều
79 khoản 3 Hiến pháp CHLB Đức). Quyền lực nàh nước là thống nhất và có sự
phân chia giữa liên bang và tiểu bang. Việc phân chia quyền lực nhà nước theo
chieuf dọc này được quy định trong hiến pháp. CHLB Đức hiện có 16 tiểu bang có
tính tự chủ cao (Nhà nước tiểu bang). Cac tiểu bang đều có Hiến pháp tiểu bang,
Quốc hội tiểu bang, Chính phủ tiểu bang.

Cách tổ chức này của cơ cấu tổ chức Nhà nước liên bang Đức sẽ tạo ra những ưu
điểm và hạn chế sau

+ Một số hạn chế:
- Quy trình xây dựng luật dài hơn
- Có sự khác nhau trong việc thực hiện các chính sách ở các tiểu bang như các vấn
đề môi trường, trường học


- Chi phí cho hoạt động các cơ quan nhà nước ở tiểu bang lớn...

+ Các ưu điểm cũng đã được khẳng định:
- Việc phân chia quyền lực nhà nước theo chiều dọc không tạo ra sự độc tài.

- Nhà nước phát huy được tối đa ưu thế của các tiểu bang, tạo ra và bảo tồn được
sự đa dạng về văn hóa.

- Tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa các tiểu bang trên nhiều lĩnh vực, qua đó

+ Trước đây, Hạ viện có 496 thành viên.



+ Sau khi thống nhất năm 1990, số hạ nghị sỹ tăng lên 662



+ Năm 1996 : 656 hạ nghi sỹ



+ Năm 2000: 672 hạ nghị sỹ



* Nhiệm kì của Hạ viện là 4 năm.



+ Cuộc bầu cử vào Hạ viện khoá mới phải được tiến hành không sớm hơn
tháng thứ 45 và không muộn hơn tháng thứ 47 khi bắt đầu nhiệm kì của Hạ
viện.



+ Các thành viên của Viện kết thúc nhiệm vụ vào ngày diễn ra phiên họp
đầu tiên của Hạ viện khoá mới.



24 người ), làm việc theo chế độ tập thể.Hội đồng này có nhiệm vụ đề cử
danh sách các Chủ nhiệm, phó chủ nhiệm các uỷ ban thường trực; soạn
thảo chương trình làm việc của Viện.



* Hạ viện thành lập 22 Uỷ ban thường trực, tương ứng với các bộ trong
Chính phủ, mỗi Uỷ ban có 15 - 42 nghị sỹ, tuy nhiên hiệu quả hoạt động
của các Uỷ ban này còn hạn chế so với các Uỷ ban của Quốc hội Mỹ. Mỗi


đảng chính trị được cử đại diện tương xứng với đại diện của đảng tại Hạ
nghị viện (đảng đối lập cũng được cử đại diện tại Uỷ ban), trong đó:



+ Uỷ ban thỉnh cầu : đóng vai trò của cơ quan Cao uỷ về quyền con người.



Nhiệm vụ của Uỷ ban này là nhận và xem xét các đơn thư kiếu nại, tố cáo
của công dân gửi Hạ viện. Nếu nhìn qua có thể thấy Uỷ ban thỉnh cầu của
Đức có nét tương đồng với Quốc hội Việt Nam vì cả 2 đều là cơ quan có
liên quan đến quyền con người, quan tâm gần gũi với người dân. Tuy nhiên
bên cạnh đó vẫn có điểm khác biệt : Nếu như uỷ ban thỉnh cầu của Đức
không phải là cơ quan quyền lực nhà nước , do Hạ viện Đức thành lập; thì
Quốc hội Việt Nam lại là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất đại diện cho
nhân dân , do nhân dân bầu ra. Uỷ ban thỉnh cầu Đức tiếp xúc với người
dân khi họ có đơn thư kiếu nại tố cáo, điều đó có nghĩa là Uỷ ban chỉ tiếp
dân trên lĩnh vực tư pháp. Còn quốc hội Việt Nam mang những quyền hạn


+ Các đảng trong Hạ viện thành lập các nhóm nghị sĩ của mình - gọi là các
đảng đoàn. Các đảng đoàn là các tổ chức độc lập ở Hạ viện, không chịu sự
chỉ đạo của các đảng phái.



+ Các Đảng có từ 5% tổng số Hạ nghị sĩ trở lên được thành lập Đảng đoàn.
Với những đại biểu độc lập không đủ số lượng trên có thể lập thành nhóm
đại biểu. Trong nhiệm kì thứ 16 của Hạ viện Đức hiện nay có 5 đảng đoàn
trong Quốc hội và 1 nghị sỹ không thuộc đảng phái nào( nghị sỹ Gert
Winkelmeier).



* Chức năng của Hạ viện :

+ Lập pháp ( chức năng cơ bản nhất ).
- Sáng kiến luật có thể xuất phát từ Chính phủ, các nghị sỹ, các tòa án liên bang,
các bang. Trong đó,dự luật của các hạ nghị sỹ pahir được ít nhất 5% tổng số nghị


sỹ kí tên và trước khi trình Hạ viện phải được chuyển đến Chính phủ để cho ý
kiến.
- Một dự luật, được đệ trình, soạn thảo 3 lần, cuối cùng được biểu quyết thông qua
toàn văn tại Hạ viện.
- Bầu ra và bãi miễn Chính phủ Liên bang (thông qua bỏ phiếu bất tín nhiệm thủ
tướng và bầu ra thủ tướng mới - yếu tố đặc trưng của nhà nước Đại nghị), bầu một
nửa số thành viên của Toàn án Hiến pháp liên bang, kiểm soát bộ máy hành chính
và quân đội. Kiểm tra giám sát tối cao đối với chính phủ. Hạ viện có thể bỏ phiếu


* Quyền lập pháp tại CHLB Đức

- Quyền lập pháp được chia cho chính phủ TW và chính phủ tiểu bang:

+ Hiến pháp dự trù trong nhiều lĩnh vực, chỉ chính quyền TW mới có độc quyền (
vì có những vấn đề mà chính phủ tiểu bang không được quyết định hoặc nếu tiểu
bang đó quyết định sé gây thiệt hại cho tiểu bang khác hoặc toàn liên bang ), còn


trong khu vực khác, chính phủ TW sử dụng quyền lập pháp với chính phủ tiểu
bang.
+ Có những vấn đề mà TW ấn định chính sách chung và tiểu bang ấn định chi tiết
thi hành.
+ Cơ quan lập pháp của chính phủ TW là Hạ nghị viện .

+ Quyền lập pháp của Hạ nghị viện lại bị hạn chế bởi hai khuynh hướng :
* Lập pháp nhường sáng quyền lập pháp cho hành pháp.

* Hiến pháp dành một phần quyền lập pháp cho Thượng viện.

- Thượng nghị viện cũng có sáng quyền lập pháp :
+ Thượng nghị viện sử dụng quyền lập pháp dưới ba hình thức:

* Luật thông thường : không đòi hỏi sự chấp thuận của Thượng nghị viện.( nghĩa
là Hạ nghị viện có thể thắng Thượng nghị viện nếu có đa số vững chắc ).

* Những luật có liên hệ tới quyền lợi của tiểu bang.
* Các tu chính án Hiến pháp: Trong việc này cần có sự thoả thuận của 2/3 thượng
nghị sĩ.

luật đó trong một phiên họp duy nhất.Có hai trường hợp có thể xảy ra :

+ Trường hợp 1 : Sau khi xem xét thảo luận, Thượng viện nhất trí thông qua;
+ Trường hợp 2 : Thượng viện đề nghị thành lập Uỷ ban thỏa thuận gồm thành
viên của hai viện để thảo luận dự luật. Sau đó Hạ viện phải xem xét lại lần 2 và
thông qua quyết định. Nếu Hạ viện không chấp nhận những sửa đổi của Thượng
viện thì dự luật vẫn trở thành dự luật nếu được 2/3 hoặc tối thiểu hơn một nửa tổng
số thành viên Hạ viện tán thành.
- Cuối cùng luật chuyển lên Tổng thống ký công bố. Khác với các nước khác,
Tổng thống liên bang Đức không có quyền phủ quyết đối với các dự luật do Nghị
viện thông qua.

Chính thể cộng hòa đại nghị ở Đức - Cơ quan hành pháp

2.3.2 Cơ quan hành pháp:

a. Tổng thống liên bang:


Tổng thống liên bang là nguyên thủ quốc gia, đứng đầu cơ quan hành pháp, có vai
trò giống như các vị vua trong chính thể quân chủ lập hiến, nghĩa là chỉ mang tính
nghi thức.

Tổng thống do Hội nghị liên bang bầu, nhiệm kì 5 năm, mỗi người không quá 2
nhiệm kì liên tục.( Hội nghị liên bang gồm một nửa là các hạ nghị sỹ và một nửa
là các thành viên do nghị viện các bang bầu ra. Tổng số thành viên của Hội nghị
hiện nay là 672 +672 =1344. Hình thức bầu cử lầ bỏ phiếu kín không qua bầu cử)

Ứng cử viên Tổng thống phải là Hạ nghị sỹ, 40 tuổi trở lên.


và sự chấp nhận của Thượng viện.

b. Chính phủ Liên bang:
Cách thức thành lập Chính phủ:

- Theo luật định, với đa số phiếu Hạ viện sẽ đề cử Thủ tướng, sau đó Tổng thống
bổ nhiệm, nhưng đó không là ai khác ngoài thủ lĩnh đảng đa số trong hạ viện.


- Theo đề nghị của Thủ tướng, Tổng thống bổ nhiệm các thành viên khác của
Chính phủ. Thông thường, các Bộ trưởng là người của các Đảng thắng cử
Thủ tướng và các Bộ trưởng không được đảm nhiệm các nhiệm vụ trả lương khác
nếu không được phép của Hạ viện.
Thẩm quyền:

- Đề nghị dự luật, yêu cầu các Uỷ ban của Hạ viện họp để xem xét các dự luật, yêu
cầu bổ sung hay giảm các khoản chi ngân sách

- Yêu cầu Tổng thống tuyên bố các trạng thái pháp lí đối với các dự luật bị Nghị
viện bác bỏ
- Trực tiếp quản lí các công việc: đối ngoại, tài chính liên bang, giao thông, thành
lập các cơ quan bảo vệ biên giới, cảnh sát, tình báo và an ninh, bảo vệ an ninh
quốc gia

- Trong trường hợp nguy cấp, Chính phủ đè nghị 2 viện họp khẩn cấp tuyên bố
tình trạng chiến tranh, Thủ tướng sẽ là Tư lệnh các lực lượng vũ trang

Cụ thể:

- Thủ tướng đề ra các hướng dẫn chung, các Bộ trưởng điều hành công việc một

- Chức năng:

+ Giải thích Hiến pháp
+ Xét xử tranh chấp giữa Liên bang với các bang, giữa các bang với nhau

+ Quyết định về tính hợp hiến của các đạo luật Liên bang và các bang, tính vi hiến
của các Đảng

+ Xét xử các khiếu kiện về bầu cử, quyền và nghĩa vụ công dân

+ Có thể giải tán một Đảng nếu Đảng đó đe dọa nền tự do dân chủ
- Cơ cấu:

+ Tòa án Hiến pháp gồm 2 viện: Tòa thượng thẩm và Tòa Sơ thẩm
+ Mỗi viện có 8 thẩm phán, một nửa do Hạ viện, một nửa do Thượng viện bầu ra

+ Thẩm phán có nhiệm kì 12 năm, tuổi không dưới 40 và không quá 68 (Theo điều
4 khoản 3 của bộ Luật về Tòa án Hiến pháp Liên bang, độ tuổi 68 là ranh giới cho
các thẩm phán. Nhiệm kỳ của một thẩm phán chấm dứt khi hết tháng mà thẩm
phán tròn 68 tuổi. Thế nhưng người thẩm phán này vẫn tiếp tục thi hành chức vụ
cho đến khi một người kế nhiệm được bổ nhiệm). Thẩm phán không được tham


gia Quốc hội hay Chính phủ, nhưng họ có thể tham gia giảng dạy ở các trường Đại
học và nghiên cứu khoa học.
- Là cơ quan hiến pháp, Tòa án Hiến pháp Liên bang không chịu sự kiểm tra và
chỉ thị của cơ quan nhà nước.

b. Tòa án Tối cao Liên bang
Tòa án Tối cao Liên bang chia thành 5 Tòa án độc lập nhưng có hội đồng chung


- Về thẩm quyền:
+ Toà án hành chính giải quyết các khiếu nại thuộc thẩm quyền của cơ quan tài
phán hành chính, bao gồm tất cả những tranh chấp về luật công mà không có đặc
điểm liên quan đến hiến pháp và không được đạo luật của liên bang giao cho các
Toà án khác.

+ Trường hợp tranh chấp thẩm quyền giữa các Toà án thì Toà án chung giải quyết
để xác định thẩm quyền.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status