ĐẠO ĐỨC, KINH TẾ HỌC VÀ MÔI TRƯỜNG - Pdf 32

ĐẠO ĐỨC, KINH TẾ HỌC VÀ MÔI TRƯỜNG.
Mục tiêu bài học này:
Trong chương này bạn sẽ:
_ Tìm hiểu về thuyết vị lợi như là một nền tảng đạo đức căn bản cho kinh
tế học phúc lợi.
_ Hiểu được nó khác một vài hệ thống đạo đức khác như thế nào.
_ Giới thiệu một vài sự phê bình về thuyết vị lợi.
_ Có được cái nhìn đầu tiên về vấn đề gây nhiều tranh cãi là vấn đề chiết
khấu.
_ Giới thiệu về phân tích tăng trưởng kinh tế tối ưu, ở đó nền sản xuất sử
dụng tài nguyên thiên nhiên không tái tạo.
• SỰ GIỚI THIỆU:
Kinh tế tài nguyên môi trường liên quan đến vấn đề phân bổ và sử dụng
tài nguyên. Đối với một số phạm vi ngiên cứu, vấn đề này có thể được
phân tích mà bỏ qua vấn đề đạo đức. chúng ta hãy tập trung trả lời câu
hỏi:” Nếu X xảy ra trong một tình huống, hoàn cảnh cụ thể, kéo theo Y
như thế nào?”. Những phân tích thuộc dạng này, người ta gọi là kinh tế học
thực chứng.
Tuy nhiên, giới hạn phạm vi kiến thức của chúng ta để trả lời câu hỏi
này còn hạn chế. Nhiều nhà kinh tế nghiên cứu kinh tế học chuẩn tắc, đề
cập đến vấn đề chúng ta nên làm gì, cần phải như thế nào. Để làm được
điều này thì cần phải sử dụng những tiêu chuẩn đạo đức trong lý thuyết về
hành vi của con người. Trong nghiên cứu kinh tế chuẩn tắc, xem xét một
cách tổng quát về nền kinh tế bền vững, các nhà kinh tế thường sử dụng
những tiêu chuẩn trong thuyết đạo đức vị lợi. kinh tế tài nguyên môi
trường chuẩn tắc phần lớn xuất phát từ thuyết đạo đức vị lợi.
Mục đích chính của chương này là trình bày những giới thiệu ban đầu
cái nhìn tổng quát về bản chất cách tiếp cận vị lợi với vấn đề đạo đức và
chỉ ra nó. Trình bày những nét chính của kinh tế học chuẩn tắc như thế
nào. Kinh tế học phúc lợi sẽ được giới thiệu trong chương 5 và 11 và được
đề cập suốt trong phần 2, 3, 4 của cuốn sách này. Chương này bắt đầu bằng

lập trường nghiêm khắc của triết lý tự nhiên học sẽ ngăn cấm nhiều hoạt
động hiện tại và tương lai của con người.
Một hình thức mờ nhạt của đạo đức tự nhiên, nói đại khác, những
quan điểm cho rằng những hoạt động của con người có khả năng ảnh
hưởng đến bộ phận của sinh quyển mà bộ phận sinh quyển đó đáng được
bảo vệ với sự khác thường hay sự khan hiếm của chúng thì nên bị ngăn
cấm đã có một vài ảnh hưởng đến chính sách công cộng ở nhiều nước.
Trong giai đoạn từ 1970, 1 số tác phẩm quan trọng đã đưa ra nhằm
cố gắng thiết lập nghĩa vụ của nhân loại đối với thiên nhiên không phải là
con người. Phần nhiều của bài viết này sử dụng mệnh lệnh tuyệt đối của
Kant, theo đó 1 hành động có đạo đức là 1 hành động được thực hiện xuất
phát từ ý thức về nghĩa vụ chứ không phải từ ý muốn hay cảm xúc. Ông
2
cho rằng động cơ của 1 hành động quan trọng hơn nhiều so với bản thân
hành động và kết quả của nó. Kant miêu tả những ý định rằng sau 1 hành
động là phương châm. Phương châm là 1 nguyên tắc dùng làm nền tảng
cho 1 hành động. Kant tin rằng những con người có lý trí như chúng ta có
những bổn phận nhất định. Những bổn phận này có tính tuyệt đối. Những
bổn phận này luôn phải thực hiện cho dù việc thực hiện chúng có kéo theo
hiệu quả gì đi nữa. Ông nói rằng:” Hãy hành động theo phương châm mà
bạn đồng thời mong muốn chúng là những quy luật phổ quát.” Nói cách
khác, thông điệp của mệnh lệnh tuyệt đối là hành động theo 1 phương
châm mà lý trí mách bảo rằng bạn muốn áp dụng cho tất cả mọi người.
Kant đã đưa ra mệnh lệnh tuyệt đối về việc tôn trọng người khác.
Không ai được đối xử với người khác như là phương tiện cứu cánh. Trong
nhiều trường hợp, chúng ta đối xử với người khác như là phương tiện cứu
cánh cho mình.
VD1: Ông chủ xem công nhân của mình như là phương tiện để sản
xuất hàng hoá, phục vụ cho mục đích kiếm lời của mình. Điều đó là sai
trái. Một mệnh lệnh là sai nếu nó không tôn trọng người khác và chân giá

môi trường có nguồn gốc rất lớn từ đạo đức tự nhiên. Điều này có lẽ đã
giải thích lý do tại sao các nhà kinh tế với chuyên gia môi trường thường
rất khó chấp nhận. Người đọc nếu muốn tìm hiểu sâu thêm về triết học đạo
đức tự nhiên thì nên tham khảo phần đọc thêm ở cuối chương.
3.2 triết học đạo đức tự do
Chủ nghĩa tự do là triết học đạo đức nhân văn. Chân lý trung tâm
của nó là tính không thể xâm phạm cơ bản có quyền cá nhân của con
người. Một hành động sẽ được đánh giá trên cơ sở nó có tôn trọng quyền
cá nhân và quyền kinh tế của con người không. Một hành động mà xâm
phạm quyền cá nhân thì không thể thúc đẩy XH phát triển. Quyền gắn liền
với cá nhân con người và những định nghĩa như quyền XH hay cộng đồng
mang nghĩa không đầy đủ.
Chúng ta sẽ bàn luận về tác phẩm của 1 nhà triết học chủ nghĩa tự do
nổi tiếng Robert Nozick (1974). Cơ sở lý luận của ông là triết học Jonh
Lock. Và những lý luận riêng của ông về sự đạt được công bằng. Đối với
Locke, đó là nguồn gốc của quyền tài sản công bằng. Nozick đã mở rộng lý
luận này. Ông đưa ra câu hỏi: Khi
nào 1 người được quyền sở hữu 1 thứ gì đó?
Câu trả lời là: bất cứ ai mua hay thoả thuận với người sở hữu tài
nguyên thì được quyền sở hữu nó. Vì vậy, quyền sở hữu sẽ là hợp pháp
nếu nó đạt được bời 1 hợp đồng tự nguyện giữa các cá nhân. Điểm khoá
của tất cả điều này là hành động tự nguyện. Phân phối là công bằng nếu
chúng là kết quả của sự lựa chọn tự nguyện, nhưng ngược lại là không
đúng.
Triết học đạo đức tự do chủ nghĩa giới hạn phạm vi chính phủ nên
làm gì. Ví dụ chính sách phân phối lại thu nhập ( giữa người này và người
khác, giữa nước này với nước khác, giữa thế hệ này và thế hệ khác). Ủng
hộ người nghèo bằng tiền thuế của người giàu như thế cũng không công
bằng nếu người ta không bằng lòng nó. Hoạt động của chính phủ sẽ được
hạn chế để duy trì thể chế mua bán trao đổi tự do. Những ai ủng hộ sự hạn

3.4 Thuyết vị lợi lấy con người làm trung tâm
Nhằm đưa ra đánh giá vị lợi mà chúng ta có giữa nhiều thứ khác, lựa
chọn thành phần của giới thực thể mà giá trị của chúng đáng được quan
tâm. Chúng ta quyết định ai đáng được quan tâm trong việc quyết định 1
hành động là đúng hay sai. Những người sáng lập ra thuyết vị lợi cho rằng
1 cách hiển nhiên chỉ có con người mới đáng được quan tâm về mặt đạo
đức. Kinh tế học hiện đại cũng đồng ý với quan điểm lấy con người làm
trung tâm
Sự hạn chế chỉ lấy con người làm trung tâm là không hợp lý. Chúng ta
đề cập 1 cách cụ thể đến phần kết luận được đưa ra bởi triết gia Peter
Sunger. Trong cuốn sách của ông” đạo đức thực hành” ông đã chấp nhận
quan điểm vị lợi. Ông cho rằng lợi ích xuất phát từ sự hài lòng thỏa mãn và
5
đó là tất cả các loài có khả năng nhận thức( bởi định nghĩa), có khả năng
càm nhận hài lòng, thỏa mãn, hay đau đớn. Lợi ích đó là 1 bộ phận của
cảm giác, không chỉ đối với con người. Ông kết luận rằng qui tắc để đánh
giá 1 hành động là dựa trên lợi ích và phúc lợi. Kéo theo đó, là hợp lý về
mặt đạo đức, nhưng khẳng định rằng cần phải quan tâm đến lợi ích của
những thực thể khác không phải là con người.
Cần chú ý ở đây là việc bác bỏ lý luận của Singer về mở rộng cái cần
xem xét về mặt đạo đức không hàm ý rằng lợi ích của thực thể không phải
là người thì bị bỏ qua. Có 2 trường hợp mà những thực thể này có thể ảnh
hưỡng đến quyết định, tuy nhiên chỉ có lợi ích của con người mới được
tính đến.
Thứ 1: 1 vài người cảm thấy đau lòng khi nhìn thấy các loài vật bị
tổn thương
Thứ 2: Con người sử dụng tài nguyên có thể tái tạo_ động vật và
thực vật_ như là đầu vào của quá trình sản xuất và việc quản lý tài nguyên
hợp lý sẽ cân nhắc xem xét tới các thế hệ tương lai.
Vì cả 2 loại lý do này, 1 số loài động thực vật có giá trị đối với con

sự tổng hợp các lợi ích cá nhân. 1 vài hành động làm tăng phúc lợi XH là
đúng còn làm giảm phúc lợi XH là sai. Bây giờ chúng ta xem xét 1 cách
chính xác từ lợi ích tiến đến phúc lợi như thế nào.
3.3.3.1 Hàm lợi ích số lượng và thứ tự
Chúng ta sẽ khảo sát ngắn gọn dạng hàm phúc lợi. Nhưng bất cứ câu trả
lời nào cho vấn đề này, chúng ta chỉ có thể đạt được 1 biện pháp đo lường
tổng hợp lợi ích cá nhân.
Hàm lợi ích biểu diễn lợi ích XH qua 1 con số đơn lẻ, chúng ta có
U= U( X1, X2,…, Xi, …, Xn)
Trong đó: U: đo lường lợi ích
Xi: là các mức độ tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ 1, 2, …,n
Chúng ta sẽ xem xét chi tiết điều này trong chương 12. Hiện tại, chúng
ta sẽ nghiên cứu tình huống mà ở đó lý luận bao gồm các mức tiêu dùng.
Bây giờ, chúng ta cần so sánh giữa đo lường lợi ích số lượng và đo
lường lợi ích thứ tự. Dữ liệu số lượng là những quan sát bằng số mà ở đó
các phép tính chuẩn: cộng, trừ, nhân, chia có ý nghĩa. Ví dụ về dữ liệu số
liệu là những quan sát trên chiều cao, cân nặng, chiều dài. Nếu John cân
nặng 100kg và jane nặng 70kg, nghĩa là John nặng hơn Jane 30kg và nặng
gấp 1.4286 lần. Dữ liệu thứ tự là những quan sát bằng số mà ở đó thứ tự có
thể được sử dụng nhưng các phép tính số học thì không thể sử dụng được
số liệu khoảng cách là 1 ví dụ_ từ 10 đến 30 được hiệu bao gồm 20 số. Chú
ý rằng chúng ta có thể nhân số liệu khoảng cách bởi 1 hằng số với điều này
sẽ không thay đổi nội dung thông tin.
Nếu chúng ta muốn tổng hợp lợi ích cá nhân 1 cách có ý nghĩa, những
biện pháp đo lường này phải là 1 số lượng, giả định rằng chúng ta có 2 cá
nhân A và B, lợi ích của A là 10, lợi ích của B là 5, và cũng đồng ý rằng
phép cộng đơn giản là cách để tổng hợp. Trong trường hợp đó, phúc lợi là
15 đơn vị. Nhưng nếu biện pháp đo lường là thứ tự, giả sữ lợi ích của B là
50, trong trường hợp này, phúc lợi là 60 đơn vị. Như vậy lợi ích của B
bằng 5 lần lợi ích của A.

Bây giờ, do cách này không tránh được nhu cầu so sánh giữa cá nhân
này với cá nhân khác nên nó không được sử dụng nhiều. Nếu các nhà kinh
tế hạn chế việc đưa ra lời khuyên chính sách dựa trên sự thử nghiệm” cải
thiện Pareto” họ sẽ không nói nhiều. Họ chỉ có thể nói bất cứ sự thay đổi
nào mọi người cũng đều chiến thắng hoặc những người thắng cuộc phải
đền bù cho người thua cuộc. sự đền bù bắt buộc này không phải là 1 điểm
của thay đổi chính sách mà chính phủ dựa trên đó để tìm kiếm lời khuyên.
Như sẽ được trình bày trong chương 5, mặc dù được sử dụng 1 cách rồng
rãi trong kinh tế học phúc lợi, sự thử nghiệm đền bù tiềm năng không giải
quyết được vấn đề. Nếu các nhà kinh tế muốn nhận biết sự thay đổi đó là
tăng phúc lợi, họ cần tổng hợp trên lợi ích cá nhân, so sánh giữa các cá
8
nhân với nhau, và sử dụng hàm lợi ích số lượng. Có 2 phương pháp cơ bản
được sử dụng để giải quyết vấn đề này.
Đầu tiên là chon lựa nền tảng giới hạn trên đó để đưa ra lời khuyên.
Như sẽ được bàn luận trong chương 5, nhiều lời khuyên mà các nhà kinh tế
đưa ra dựa trên sự hiệu quả hơn là tiêu chuẩn phúc lợi.
Thứ hai là sử dụng hàm lợi ích số lượng và tiếp tục sử dụng hàm này để
tính phúc lợi, tổng hợp trên lợi ích để hình thành biện pháp đo lường phúc
lợi. Đó là phương pháp tiếp cận thứ 2 mà chúng ta khảo sát.
3.3.3.2 Hàm phúc lợi XH và sự phân bổ
Thử tưởng tượng 1 giả định rằng XH chỉ bao gồm 2 cá nhân A và B,
sống cùng 1 điểm thời gian cụ thể. Tồn tại 1 hàng hóa X, sự tiêu dùng nó
nhằm mang lại lợi ích. Sử dụng
U
A
biểu thị cho tổng lợi ích của A.
U
B
biểu thị cho tổng lợi ích của B, vì vậy chúng ta có:

X
=
dU
A
/
dX
A
>O

U
A
XX
=
d
2
U
A
/
dX
A
2
<O

U
B
X
=
dXdU
BB
>O

Do đó, phúc lợi XH tăng. Ở đây, phúc lợi phụ thuộc vào mức lợi ích cụ
thể của từng cá nhân. Hàm phúc lợi XH cho phép chúng ta sắp xếp thứ tự
lợi ích của các cá nhân dựa trên giá trị XH của họ.
Thừa nhận rằng, để làm cho mọi thứ đơn giản và tập trung vào vấn đề
chính ở đây, đó là 1 tổng số cố định hàng hóa, ký hiệu
X
. (Phân tích tình
huống mà tổng số lượng của 2 hàng hóa tiêu dùng, có thể thay đổi sẽ được
9
trình bày trong chương 5). Chọn các mức tiêu dùng của A và B với các lợi
ích kéo theo đó nhằm cực đại hóa phúc lợi
XX
BA
,
được chọn, đó là
cực đại hóa phúc lợi
( )
UU
BA
WW ,
=
Căn cứ vào
UU
BA
,
đã được xác định theo phương trình
( )
1.3
với
điều kiện ràng buộc là:

2.3
.
Dạng cụ thể được sử dụng rộng rãi cho hàm
( )
2.3

W
như tổng lợi
ích cá nhân là:
( ) ( )
X
U
WX
U
W
B
B
B
A
A
A
W
+=
.
Trong đó:
WW
BA
,
cố định, trong trường hợp này, điều kiện
cho sự cực đại hóa phúc lợi XH là:

( )
3.3
trở thành:
( )
6.3
UU
B
X
A
X
=
Đó là đẳng thức có lợi ích cận biên cá nhân. Nó cũng không cho chúng
ta biết hàng hóa nên được phân phối như thế nào. Để giải quyết vấn đề
này, chúng ta cần 1 số thông tin về hàm lợi ích của mỗi cá nhân. Xem xét
trường hợp mà mỗi người có cùng 1 hàm lợi ích, đó là:

( )
( )
X
U
X
UU
A
A
AA
==
( )
( )
X
U

,,
là đường
bàng quan phúc lợi XH với
WWW
321
<<
. Nhớ rằng chúng
ta thừa nhận có 1 số lượng cố định hàng hóa X sẵn sàng để phân phối cho
2 cá nhân. Phúc lợi cực đại
W
2
đạt được tại điểm Z. ở đó mức tiêu
dùng của cá nhân A là
X
A

, cá nhân B là
X
B

. Phúc lợi cực đại tất
nhiên phụ thuộc vào
X
.
Trong ví dụ chúng ta đã có ngay kết quả là các mức tiêu dùng cá nhân
sẽ bằng nhau. Nhưng thuyết vị lợi không hàm ý cần thiết phải phân phối
hàng hóa công bằng. phúc lợi vẫn có thể cực đại ở mức phân phối không
bằng nhau dưới 1 vài điều kiện sau:
1. SWF không phải là dạng tổng theo lý thuyết trong phương
trình 3.4.

+=
U
B
X
A
X
B
*A
X
Z
3
W
2
W
12
*B
X
Công việc của John Rawls trong lý thuyết về sự công bằng đã ảnh
hưởng tới sự nghiên cứu vấn đề kinh tế tới đạo đức. Nó không thừa nhận
thuyết vị lợi cổ điển, đó là tổng lợi ích cá nhân đơn giản. Lý do phản đối
của Rawl dựa vào quyền lợi theo sau, không thiên vị trong việc phân bổ sự
thỏa mãn giữa các cá nhân, một sự phân bổ tài nguyên tạo ra bởi phúc lợi
XH tối đa có thể ảnh hưởng tới tự do và lẽ phải những cái mà đáng được
quan tâm.
Thông thường, như nhiều nhà triết lý đạo đức khác. Ông cố gắng thiết
lập các nguyên tắc về một XH công bằng. Ông thừa nhận sự tiếp cận các ý
kiến của Kant. Các nguyên tắc công bằng có hiệu lực đó sẽ được mọi
người đồng ý nếu như chúng ta có thể tự do xem xét, cân nhắc các nguyên
tắc.
Theo trật tự xác định nguyên tắc cân bằng của tự nhiên, Rawls đã sử

Một cách tiếp cận đã gây ra tranh luận, đó là trường hợp của 2 cá nhân,
đã tính toán bởi hàm phúc lợi XH, xác định bởi công thức:
13
( )
.,min
UU
BA
W
=
Đồ thị 3.4: đường bàng quan về hàm phúc lợi XH Rawlsian
Biểu thức chỉ rằng W là giá trị nhỏ nhất của
UU
BA
,
. 2 đường bàng
quan hàm phúc lợi XH được minh họa ở đồ thị 3.4.
So sánh 2 điểm b và c trong đồ thị 3.4, 2 điểm đều cùng nằm trên một
đường bàng quan sinh ra từ các mức độ giống nhau của phúc lợi XH. Bắt
đầu từ điểm b, xem lại lợi ích của mỗi người ta thấy, nếu lấy (b_ d). lợi ích
từ người B thêm vào người A thì ta sẽ thu được điểm e khác, là điểm mà
có phúc lợi cao hơn. Rõ ràng là chỉ có cách kết hợp các lợi ích bằng cách
A
U
0
45
e
c d b
( )
BA
UUW ,min


α

0

α
Vì vậy lợi ích cận biên là số dương, bao gồm cả các trường hợp
0

α
.
Lợi ích cận biên sẽ giảm khi tiêu dùng tăng lên dần. Tuy trường hợp có 2
cá nhân, các hàm lợi ích sẽ được cộng lại với nhau để trở thành 1 hàm tổng
phúc lợi.
( ) ( )
( )
9.3
11
∂∂

+

=
XX
BA
W
Lời phê bình về thuyết vị lợi dựa trên sở thích
ý tưởng cơ bản( trong bài dịch) của thuyết vị lợi là cơ sở cho kinh tế
phúc lợi hay sở thích của các cá nhân là tiêu chuẩn để đánh giá phúc lợi
XH, được đưa ra bởi khả năng của tài nguyên và công nghệ sẵn có, mọi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status