Nâng cao chất lượng thẩm định dự án tín dụng trung – dài hạn tại Sở giao dịch ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam - Pdf 32

LỜI NÓI ĐẦU
Phát triển là mục tiêu hàng đầu của tất cả các quốc gia trên thế giới, kể cả
các đang nước phát triển và các nước phát triển. Cùng với xu hướng chung của
thế giới, Việt Nam đang tiến hành công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hoá đất
nước từng bước hội nhập với nền kinh tế phát triển trên thế giới. Để làm được
điều này, trong những năm qua nước ta không ngừng thực hiện đổi mới chính
sách quan hệ quốc tế, khuyến khích đầu tư nước ngoài cũng như thu hút nguồn
nội lực trong nước. Hiện nay có rất nhiều dự án trong và ngoài nước vào Việt
Nam. Tuy nhiên để biết được dự án nào tốt, có tính khả thi cao hay không thì
công tác thẩm định dự án đóng một vai trò hết sức quan trọng.
Ngân hàng thương mại với tư cách là “ bà đỡ ” về mặt tài chính cho các dự
án đầu tư sản xuất kinh doanh, thường xuyên thực hiện công tác thẩm định dự án
đầu tư, nhất là thẩm định về mặt tài chính của dự án. Việc thẩm định, ngoài mục
tiêu đánh giá hiệu qủa của dự án còn nhằm đảm bảo sự an toàn cho các nguồn
vốn của Ngân hàng tài trợ cho các dự án.
Do tầm quan trọng của công tác thẩm định dự án trước khi cho vay đối với
hiệu quả của các khoản vay sau này, việc nâng cao chất lượng thẩm định dự án
luôn là mối quan tâm hàng đầu của Ngân hàng, cũng là yếu cầu đối với mỗi cán
bộ tín dụng. Sau thời gian thực tập tại SGD NHNo & PTNT Việt Nam em đã
mạnh dạn lựa chọn đề tài nghiên cứu với tiêu đề là :
“Nâng cao chất lượng thẩm định dự án tín dụng trung – dài hạn tại Sở
giao dịch ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam” và
sẽ được trình bày dưới đây.
Bố cục của chuyên đề gồm 3 chương :
Chương I : Tín dụng trung – dài hạn và công tác thẩm định dự án trung –
dài hạn tại SGD NHNo & PTNT Việt Nam.
Chương II: Thực trạng công tác thẩm định dự án vay đầu tư trung - dài hạn
tại SGD NHNo & PTNT Việt Nam.
Chương III: Giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng thẩm định dự
án đầu tư trung – dài hạn tại SGD NHNo & PTNT Việt Nam.


tư. Dự án đầu tư phải phân chia các khoản mục sử dụng vốn một cách chi tiết để
Ngân hàng cho vay có thể thẩm định được khả năng trả nợ của dự án. Mục tiêu
của dự án phải nằm trong chương trình phát triển chung của kinh tế địa phương,
của vùng, của nhà nước; đồng thời dự án phải được cơ quan có thẩm quyền thẩm
định và thông báo cho phép thực hiện .
Vậy nên, công việc của Ngân hàng không chỉ đơn thuần là cho vay mà phải
quán xuyến hàng loạt vấn đề khác như: quy hoạch sản xuất, thiết kế, quy trình
công nghệ, tiêu chuẩn thiết bị máy móc, giá cả, thị trường, hiệu quả dự án , môi
trường..v.v..
1.1.3.2 Cho thuê tài chính
Thuê mua là hình thức cho vay tài sản thông qua một hợp đồng tín dụng
thuê mua trong đó người cho thuê chuyển giao tài sản thuộc quyền sở hữu của
mình cho người đi thuê sử dụng và người thuê có trách nhiệm thanh toán tiền
thuê trong suốt thời hạn thuê và có quyền sở hữu tài sản thuê tiếp theo các điều
kiện đã được hai bên thoả thuận.
Tài sản cho thuê bao gồm cả bất động sản và động sản. Về mặt pháp lý, tài
sản thuê thuộc quyền sở hữu của người cho thuê, còn người đi thuê chỉ được
quyền sử dụng. Vì vậy người đi thuê không được bán, thế chấp cầm cố, hoặc
chuyển nhượng cho người khác. Song họ được hưởng những lợi ích do việc sử
dụng tài sản đem lại, đồng thời phải chịu phần vốn rủi ro liên quan đến tài sản.
Tín dụng thuê mua có các hình thức sau:Thuê mua có sự tham gia của ba
bên, thuê mua có sự tham gia của hai bên, tái thuê mua, thuê mua hợp tác và
thuê mua giáp lưng.
3
1.1.3.3. Cho vay hợp vốn
Đồng tài trợ (hay cho vay hợp vốn) là hình thức cho vay trong đó một
nhóm các tổ chức tài chính cùng liên kết lại để tập hợp vốn cho một khách hàng
vay và trong đó có một tổ chức tín dụng làm đầu mối, phối hợp các bên tài trợ
khác để thực hiện, nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả trong hoạt động sản
xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp tổ chức tín dụng.

hàng những thông tin về cần thiết cho khách hàng.
1.2. Thẩm định dự án đầu tư trung dài hạn tại Ngân hàng thương mại
1.2.1. Khái niệm thẩm định dự án đầu tư
Dự án đầu tư là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn và tạo mới, mở rộng
hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số
lượng, cải tiến nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một
khoảng thời gian nhất định nhằm mục đích thu lợi nhuận ( dự án sản xuất kinh
doanh hoặc phục vụ lợi ích công cộng ).
Dự án đầu tư có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau:
- Về mặt hình thức: Dự án đầu tư là một bộ tài liệu bao gồm các kết quả
nghiên cứu, khảo sát các bản thuyết minh, các biểu đồ, bản vẽ … được trình bày
một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động sẽ được thực hiện trong tương lai
nhằm đạt được các mục tiêu đã định.
- Dưới góc độ quản lý: Dự án đầu tư là một công cụ hoạch định về việc sử
dụng vốn, lao động để tạo ra các kết quả về kinh tế, tài chính, trong một thời
gian dài.
- Dưới góc độ kế hoạch hoá: Dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch
chi tiết của một công cụ đầu tư sản xuất kinh doanh phát triển kinh tế xã hội
trong tương lai.
5
Vậy nên : Thẩm định dự án đầu tư là việc tổ chức xem xét một cách khách
quan, toàn diện, khoa học các nội dung cơ bản ảnh hưởng trực tiếp đến tính khả
thi của dự án để ra quyết định đầu tư và cho phép đầu tư.
1.2.2. Sự cần thiết phải thẩm định dự án đầu tư
Nhưta đã biết, rủi ro tín dụng là điều có thể xảy ra đối với hoạt động kinh
doanh Ngân hàng. Do vậy xét về phía Ngân hàng thì thẩm định dự án đầu tư có
ý nghĩa rất quan trọng và nó được khái quát lại như sau:
- Thông qua thẩm định dự án với những kết quả thu được, Ngân hàng có cơ
sở quan trọng nhất để quyết định chủ trương bỏ vốn đầu tư có đúng đắn không,
có đảm bảo hiệu quả của vốn đầu tư hay không.

khi thực hiện dự án. Nhìn chung, tuỳ theo từng dự án cụ thể sẽ có cách tiếp cận
và xác định khác nhau về vấn đề này.
Đối với những dự án đầu tư mới, vấn đề có tính chất bao trùm khi phân tích
đánh giá sự cần thiết phải thực hiện dự án có bối cảnh kinh tế xã hội của địa
phương và của đất nước có liên quan đến lĩnh vưc dự định đầu tư. Đối với các
dự án đầu tư theo chiều sâu, mở rộng quy mô sản xuất, cơ sở chủ yếu để phân
tích đánh giá là thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Cụ
thể nó là tình hình máy móc thiết bị, tình hình tiêu thụ sản phẩm, tình hình cạnh
tranh và mở rộng thị trường…
Mục tiêu dự án là những vấn đề cơ bản mà dự án cần hướng tới và đạt
được. Mỗi dự án có nhiều mục tiêu, nhưng tựu trung lại thành 2 nhóm mục tiêu
kinh tế và xã hội.
- Mục tiêu kinh tế phản ánh lợi ích trực tiếp cần đạt được của chủ đầu tư.
Chẳng hạn, tiến hành dự án nhằm thu được lợi nhuận cao nhất, giảm chi phí tới
mức thấp nhất hoặc chiếm lĩnh thị trường, duy trì sự tồn tại của doanh nghiệp…
7
- Mục tiêu xã hội phản ánh lợi ích toàn xã hội có được do thực hiện dự án.
Chẳng hạn, dự án thực hiện đã góp phần tăng thu nhập cho Ngân sách nhà nước,
tạo thêm nhiều việc làm, bảo vệ môi trường sinh thái …
1.2.4.2 Thẩm định dự án trên phương diện thị trường.
Đây là bước thẩn định hết sức quan trọng đặc biệt là đối với các dự án sản
xuất sản phẩm mới, mở rộng sản xuất. Mục đích của nghiên cứu thị trường
nhằm xác định các vấn đề như sau:
a. Quan hệ cung – cầu của sản phẩm
Cần phải xem xét tổng thể cả thị trường trong nước và ngoài nước với mục
đích làm rõ xu thế trong tương lai của sản phẩm như thế nào, có được thị trường
chấp nhận hay không , khả năng tiêu thụ nhiều hay ít :
- Tình hình tiêu thụ sản phẩm cùng loại trong thời gian qua trên địa bàn mà
doanh nghiệp dự kiến sẽ xâm nhập chiếm lĩnh.
- Dự báo nhu cầu sản phẩm trong tương lai và mức độ đáp ứng sản phẩm

vấn đề tiêu thụ sản phẩm.
1.2.4.3.Thẩm định phương diện kỹ thuật.
a. Quy mô dự án
Quy cách, phẩm chất, mẫu mã của sản phẩm như thế nào được thực hiện
với công suất là bao nhiêu. Với công suất này có đủ để đáp ứng với nhu cầu trên
thị trường hay không và có phù hợp hay không.
b. Công nghệ và trang thiết bị
Xác định ưu nhược điểm của các phương án lựa chọn công nghệ trang thiết
bị như thế nào, lý do lựa chọn công nghệ và trang thiết bị này, quy trình công
nghệ được đưa vào áp dụng và tính tiên tiến của công nghệ như thế nào.
Thẩm định số lượng công suất, quy cách, chủng loại, danh mục máy móc
thiết bị, tính đồng bộ của dây truyền sản xuất.
Đối với thiết bị ngoại nhập cần đấu thầu cạnh tranh quốc tế hoặc chọn thầu
nhằm đảm bảo về chất lượng cũng như giá cả. Đồng thời phải kiểm tra hợp đồng
cung ứng, các điều kiện giao hàng, phương thức thanh toán quốc tế.
9
c. Thẩm định nguồn nguyên – nhiên – vật liêu cung ứng và các yếu tố đầu vào
khác.
Xác định nhu cầu về nguyên nhiên vật liệu chủ yếu trên phương diện các
định mức tiêu hao thực tế. Cần xác định số lượng chất lượng nguồn cung cấp,
điều kiện cung cấp của nguyên, nhiên vật liệu trong nước cũng như nhập ngoại,
và kiểm tra tính đúng đắn của các tài liệu điều tra, cấp giấy phép khai thác… đối
với dự án khai thác nguyên liệu phục vụ sản xuất.
Xác định mức nhiên nguyên vật liệu dự trữ hợp lý để bảo đảm cung cấp
thường xuyên tránh lãng phí.
d.Thẩm định về việc chọn địa điểm xây dựng dự án.
Cần phải tuân thủ các văn bản quy định của Nhà nước về quy hoạch đất đai
kiến trúc.
- Gần nơi cung cấp nguyên vật liệu hoặc nơi tiêu thụ sản phẩm.
- Giao thông thuận lợi, chi phí vận chuyển, bốc dỡ hợp lý.

- Lợi nhuận ròng do dự án mang lại
- Khấu hao tài sản cố định
- Giá trị thanh lý của tài sản cố định khi kết thúc dự án
1.2.4.5. Thẩm định môi trường xã hội
Tiêu chuẩn môi trường xã hội ở các nước phát triển quy định rất khắt khe,
buộc các nhà kinh doanh phải có một khoản chi phí không nhỏ để xử lý môi
trường bị ô nhiễm do hoạt động của họ mang đến. Trước tình hình đó nhiều nhà
sản xuất để tham gia chi phí đã chuyển những công nghệ gây ô nhiễm sang các
nước đang phát triển để đầu tư. Những nước đang phát triển nhu cầu về vốn quá
lớn cho nên đã bỏ qua vấn đề môi trường. Vì vậy, chỉ sau một thời gian dài do
chính sách mở cửa, vấn đề ô nhiễm môi trường đã trở nên nghiêm trọng. Muốn
khắc phục đựơc việc này thì cũng phải sử dụng một lượng vốn không phải nhỏ.
Việt Nam cũng không tránh khỏi tình trạng này, vì vậy chúng ta đang từng bước
tìm những biện pháp để khắc phục và giảm tối thiểu để bảo vệ môi trường.
11
1.2.4.6. Thẩm định Phương diện quản lý
Thực chất là thẩm định năng lực tổ chức quản lý cũng như tổ chức thực
hiện của các bên có liên quan như: Chủ dự án, các đơn vị thiết kế thi công , các
đơn vị cung ứng, người tiêu thụ… Đồng thời còn thẩm định về hình thức kinh
doanh, cơ chế điều hành và đội ngũ nhân sự đối với đơn vị trực tiếp quản lý.
Kết luận: Sau khi đã thẩm định đầy đủ các phương diện nêu trên, cán bộ tín
dụng có thể đưa ra được quyết định cho vay hay không và lập tờ trình về kết quả
thẩm định dự án để trình lên cấp trên giải quyết hoặc lập công văn trả lời đơn vị
nếu xét thấy dự án không đủ điều kiện vay vốn.
12
CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG DỰ
ÁN ĐẦU TƯ TRUNG DÀI HẠN CỦA DOANH NGHIỆP TẠI
SGD NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔNG VIỆT NAM.

1.1. Cơ cấu tổ chức của SGD NHNo & PTNT Việt Nam.
Sở giao dịch NHNo & PTNT Việt Nam có cơ cấu tổ chức từ trên xuống
bao gồm ban giám đốc và các phòng ban như sau:
* Ban giám đốc bao gồm: - 1 Giám đốc
- 2 phó giám đốc;
- 1 giám đốc phụ trách kinhdoanh.
- 1 giám đốc phụ trách kế toán, ngân quỹ
Mối quan hệ của ban giám đốc và các phòng ban khác được thể hiện trên sơ
đồ sau:
14
Sơ đồ 2.1.
* Các phòng ban và chức năng, nhiệm vụ của từng phòng:
- Phòng tín dụng:
+ Nghiên cứu xây dựng chiến lược khách hàng, phân loại khách hàng và đề
xuất các chính sách ưu đãi đối với từng loại khách hàng nhằm mở rộng đầu tư
tín dụng.
+ Thực hiện nghiệp vụ cho vay ngắn, trung và dài hạn, nghiệp vụ bảo lãnh
vay vốn, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thanh tóan, bảo lãnh thực hiện hợp đồng,
chiết khất, cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá, tiếp nhận các dự án đồng
tài trợ và các dự án ủy thác đầu tư.
15
Giám đốc
Sở giao dịch
Tổ kiểm tra kiểm toán
nội bộ
Các phó giám đốc
Phòng
kinh
doanh
Phòng

kiểm
toán
nội
bộ
Tổ tiếp
thị
nguồn
vốn và
dịch vụ
sản
phẩm
mới
Phòng giao dịch
Hai Bà Trưng
Phòng giao dịch
Kim Liên
Phòng giao dịch
Cát Linh
+ Tổng hợp phân tích thông tin kinh tế, quản lý danh mục, phân loại kỳ
hạn, lựa chọn biện pháp cho vay an toàn và đạt hiệu quả cao, thẩm định các dự
án và hoàn thiện hồ sơ trình cấp trên.
- Phòng nguồn vốn và kế hoạch tổng hợp:
+ Nghiên cứu, đề xuất chiến lược khách hàng, chiến lược huy động vốn và
cho vay. Xây dựng các chiến lược cho vay trung và dài hạn theo định hướng
kinh doanh của NHNo & PTNT Việt Nam.
+ Tổng hợp, phân tích, đánh giá diễn biến tình hình thực hiện các chỉ tiêu,
kế hoạch kinh doanh, thông tin, báo cáo thường xuyên, kịp thời giúp ban giám
đốc chỉ đạo, điều hành hoạt động kinh doanh.
- Phòng kinh doanh ngoại tệ và thanh toán quốc tê.
+ Thực hiện các giao dịch mua bán ngoại tệ: giao ngay, kỳ hạn, hoán đổi…

- Phòng giao dịch
Phòng giao dịch trực thuộc Sở giao dịch, hoạt động theo đúng quy chế tổ
chức và hoạt động của phòng giao dịch trực thuộc SGD chi nhánh NHNo &
PTNT Việt Nam” của chủ tịch Hội đồng quản trị NHNo & PTNT Việt Nam ban
hành.
Nhìn chung cơ cấu tổ chức củ SGD NHNo & PTNT Việt Nam một cơ cấu
tổ chức hợp lý, làm nền tảng cơ sở vững chắc cho hoạt động kinh doanh của Sở
giao dịch.
1.2. Nội dung hoạt động của SGD.
1. Huy động vốn:
Bao gồm các hoạt động khai thác và nhận tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn,
có kỳ hạn, tiền gửi thanh toán của các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần
kinh tế trong nước và nước ngoài bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ; Phát hành
chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, kỳ phiếu và thực hiện các hình thức huy động vốn
khác theo quy định của NHNo & PTNT Việt Nam ; Được vay vốn các tổ chức
tài chính tín dụng trong nước khi Tổng giám đốc NHNo & PTNT Việt Nam cho
17
phép; Vay vốn ngắn hạn, trung hạn, dài hạn theo quy định của NHNo & PTNT
Việt Nam.
2. Cho vay:
Các họat động cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu câu vốn cho sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ, đời sống cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước;
Cho vay trung hạn, dài hạn nhằm thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất,
kinh doanh , dịch vụ, đời sống cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.
3. Cung ứng các dịch vụ thanh toán và ngân quỹ gồm:
- Cung ứng các phương tiện thanh toán
- Thực hiện các dịch vụ thu hộ và chi hộ
- Thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo quy đinh của Ngân hàng Nhà

Số tiền
Tỷ lệ
(%)
Số tiền
Tỷ lệ
(%)
Tổng nguồn vốn 3.446 100,00 3.850 100,00 4.502 100,00
1.Phân theo kỳ hạn
- Không kỳ hạn
- Có kỳ hạn
1.220
2.226
35,40
64,60
1.456
2.394
37,82
62,18
1.800
2.702
39,98
60,02
2.Phân theo tiền tệ
- VND
- Ngoại tệ đã quy đổi
3.020
426
87,64
12,36
3.425

các năm. Năm 2006 nguồn vốn không kỳ hạn tăng 19% so với năm 2005. Đến
năm 2007 nguồn vốn này là 1.800 tỷ VND tăng 344 tỷ VND so với năm 2006
bằng 124%. Trong khi đó nguồn vốn có kỳ hạn cũng theo xu hướng trên. Nếu
năm 2006 nguồn vốn có kỳ hạn tăng 168 tỷ VND so với 2005 thì đến năm 2007
19
con số này đã là 308 tỷ VND so với năm 2006. Về cơ cấu, nguồn vốn không kỳ
hạn ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn. Năm 2005 lượng vốn
này chiếm 35,4% thì đến năm 2006, 2007 đã chiếm 37,82%; 39,98%. Tương
ứng với việc nguồn vốn không kỳ hạn tăng tỷ trọng trong tổng nguồn vốn thì tỷ
trọng nguồn vốn có kỳ hạn có xu hướng giảm.
• Xét theo loại tiền tệ: Nguồn vốn bằng VND tăng nhanh qua các năm. Năm
2006 tăng 405 tỷ VND so với năm 2005. Đến năm 2007 nguồn vốn này đã là
4.051 tỷ VND tăng lên 626 tỷ VND so với năm trước đó. Đồng thời với việc
nguồn vốn bằng ngoài tệ đã quy đổi tăng chậm và thậm chí còn giảm đã làm cho
tỷ trọng của nguồn vốn bằng VND đã lớn nay càng lớn hơn. Nếu năm 2005 và
2006 nguồn vốn bằng VND chiếm 87,64% và 88,96% thì đến năm 2007 nó đã
chiếm 89,98% trong tổng nguồn vốn huy động.
• Xét theo đối tượng: Theo như báo cáo thì cả hai nguồn tiền từ dân cư và
doanh nghiệp đều tăng lên qua các năm. Nhưng tốc độ tăng trưởng của hai
nguồn này thì chênh lệch khá lớn. Đối với nguồn vốn từ dân cư, tốc độ này của
năm 2006 và 2007 lần lượt là 3% và 10% so với năm trước đó. Còn nguồn vốn
từ doanh nghiệp, con số này đã là 19% và 22%. Chính vì vậy mà tỷ trọng của
nguồn vốn từ doanh nghiệp năm 2005 là 55,17% đã tăng lên 58,62% vào năm
2006 và 61,02% vào năm 2007. Đến lúc này nguồn vốn từ dân cư chỉ còn chiếm
38,98%.
Nhìn chung nguồn vốn huy động tại SGD có tăng lên qua các năm. Việc
nguồn vốn không kỳ hạn ngày càng chiếm tỷ trọng lớn sẽ giúp giảm chi phí cho
Ngân hàng. Tuy vậy nó lại không đảm bảo cho nguồn vốn tăng trưởng ổn định.
b) Công tác cho vay và đầu tư vốn:
Trong những năm qua SGD NHNo&PTNT VN đã đáp ứng đầy đủ mọi nhu

68,67
31,33
886
312
73,96
26,04
2.Phân theo tiền tệ
- VND
- Ngoại tệ đã quy đổi
1.643
398
80,50
19,50
1.220
357
77,36
22,64
894
304
74,62
25,38
3.Phân theo đối tượng
- Doanh nghiệp quốc doanh
- Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
1.219
822
59,73
40,27
825
752

theo chỉ đạo của NHNo&PTNT Việt Nam , SGD đã động viên những khách
hàng có điều kiện trả nợ trước hạn gần 100 tỷ đồng.
• Xét theo kỳ hạn: Qua các năm qua, cơ cấu giữa cho vay ngắn hạn và TDH
vẫn không có thay đổi đáng kể. Dư nợ ngắn hạn vẫn chiếm tỷ trọng lớn (trên
dưới 70%) trong tổng dư nợ. Trong khi đó thì dư nợ TDH lại có xu hướng giảm.
Chính điều này làm cho tỷ trọng dư nợ ngắn hạn càng cao trong tổng dư nợ.
Năm 2007 Ngân hàng có một số khoản tín dụng sau:
21
Tín dụng ngắn hạn: Trong năm 2007, SGD tiếp tục đầu tư, đáp ứng nhu cầu
vốn cho các đơn vị có tình hình tài chính lành mạnh, sản phẩm làm ra có sức
cạnh tranh cao, sức tiêu thụ lớn. Qua đó tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát
triển sản xuất kinh doanh như: Công ty Cổ phần Cao su Sao vàng, Công ty
TNHH Nhà nước một thành viên Cơ điện Trần Phú, Công ty Cổ phần Dược
Trung ương.
Tín dụng TDH: SGD tích cực chủ động thẩm định những dự án đầu tư
TDH khả thi của các đơn vị để đầu tư như: Dây chuyền máy móc thiết bị sản
xuất bê tông lạnh của Viện máy và Dụng cụ Công nghiệp 16 tỷ VND; Dự án của
Công ty Cổ phần Bóng đèn Phích nước Rạng Đông, đầu tư dây chuyền sản xuất
đèn huỳnh quang với tổng số tiền đầu tư 17 tỷ VND; Dây chuyền kéo cáp đồng
của Công ty TNHH Nhà nước một thành viên cơ điện Trần Phú 21 tỷ VND.
• Xét theo đối tượng: Đã có sự chuyển dịch đáng kể về cơ cấu, dư nợ tín
dụng cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh (DNNQD) năm 2005 chỉ chiếm
có 40,27% thì đến năm 2007 đã chiếm đến 55,01% tổng dư nợ tương đương với
659 tỷ VND. Đồng thời thì tỷ trọng dư nợ ở các doanh nghiệp quốc doanh
(DNQD) giảm từ 59,73% năm 2005 xuống còn 44,99% năm 2007. Tuy nhiên
cùng với xu hướng giảm xuống của tổng dư nợ thì dư nợ của từng đối tượng
cũng giảm nhanh qua các năm. Đến năm 2007 dư nợ ở các DNQD chỉ còn bằng
44% so với năm 2005. Dư nợ ở DNNQD năm 2007 giảm nhẹ hơn khi chỉ bằng
80% so với năm 2005.
• Xét theo đảm bảo tiền vay: Trong hai năm 2005 và 2006 tình hình dư nợ

đảm bảo an toàn, khớp đúng.
Năm 2007, tổng thu tiền mặt đạt: 7.645 tỷ VND và tổng chi tiền mặt đạt:
7.358 tỷ VND. Ngoài ra thu chi tiền mặt ngoại tệ với khối lượng lớn. Tổng thu
chi tiền mặt ngoại tệ đạt: 68.299.795 USD và 11.017.857 EUR.
Cán bộ SGD đã nâng cao tinh thần trách nhiệm, tính liêm khiết nhiều lần
trả tiền thừa cho khách hàng. Trong năm đã trả tiền thừa 229 món với tổng số
tiền 517 triệu VND.
23
f) Công tác kế toán – tài chính.
Do áp dụng chương trình hiện đại hóa Ngân hàng nên các kênh thanh toán
qua Ngân hàng nhanh chóng, thuận tiện và an toàn. Mặc dù lượng chứng từ
thanh toán lớn và đường truyền liên tục bị lỗi nhưng SGD đã bố trí cán bộ hợp
lý, cộng với sự cố gắng, nhiệt tình của cán bộ giao dịch nên việc thanh toán vẫn
kịp thời, chính xác, không gây ách tắc cho khách hàng trong giao dịch. Trong
năm 2007 doanh số thanh toán đạt 90.390 tỷ VND, trong đó doanh số thanh toán
không dùng tiền mặt là 80.975 tỷ VND, chiếm tỷ trọng 90%. Thu dịch vụ đạt
10.749 triệu VND, đạt 90% kế hoạch và bằng 131% so với năm 2006.
g) Kết quả thu chi tài chính
Bảng 2.3: Kết quả hoạt động kinh doanh
Đơn vị: Tỷ đồng
Chỉ tiêu 2005 2006 2007
Tổng thu nhập 270 280 468
Tổng chi phí 200 299 348
Lợi nhuận 70 -19 120
(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh các năm: 2005, 2006, 2007)
Như vậy sau một năm thua lỗ (năm 2006) thì đến năm 2007 SGD bắt đầu
lãi trở lại. Sở dĩ đạt được kết quả như vậy là do tốc độ tăng trưởng của tổng thu
nhập năm 2007 là 67% cao hơn rất nhiều so với tốc độ tăng trưởng của tổng chi
phí năm 2007 là 16%.
II.Thực trạng tình hình thẩm định dự án đầu tư tại SGD NHNo & PTNT

đối với khách hàng và các Ngân hàng bạn, các tổ chức tín dụng. Các tổ chức này
đã mạnh dạn rót vốn cho các dự án thông qua việc thẩm định và dải ngân của
Ngân hàng.
Trong quá trình thẩm định, cán bộ thẩm định luôn chú trọng đến việc phân
tích đánh giá mức độ tổng hợp vốn đầu tư, thời điểm rót vốn, tiến độ rót vốn của
dự án để nguồn đầu tư được sử dụng có hiệu quả nhất, tiết kiệm nhất.
25

Trích đoạn Kiến nghị với Nhà nước
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status