PHỤ LỤC
Lời nói đầu
CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
CỦA DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT TRONG NỀN KINH TẾ
1. Khái niệm và vai trò của vốn lưu động đối với doanh nghiệp
sản xuất trong nền kinh tế.
1.1 Khái niệm về vốn lưu động
1.1.1 Các quan điểm về vốn của các nhà kinh tế học
1.1.2 Khái niệm về vốn lưu động
1.1.3 Đặc điểm vốn lưu động
1.2 Phân loại vốn lưu động
1.2.1 Căn cứ theo nguồn hình thành
1.2.2 Căn cứ theo vai trò của từng loại vốn trong quá trình sản xuất
1.2.3 Căn cứ vào hình thái biểu hiện
1.2.4 Căn cứ vào quan hệ sở hữu về vốn
1.3 Kết cấu vốn lưu động và các nhân tố ảnh hưởng
1.3.1 Khái niệm kết cấu vốn lưu động
1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu vốn lưu động
2. Hiệu quả sử dụng vốn và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng
vốn
2.1 Quan điểm hiệu quả sử dụng vốn
2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
2.2.1 Vòng quay hàng dự trữ tồn kho
2.2.2 Kì thu tiền bình quân
2.2.3 Vòng quay tài sản lưu động
2.2.4 Vòng quay vốn lưu động
2.2.5 Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động trong kì
2.2.6 Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động
2.2.7 Tốc độ luân chuyển vốn lưu động
2.3 Các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
2.3.1 Quan điểm hiệu quả sử dụng vốn
2.3. Hiệu quả sử dụng vốn qua các chỉ tiêu đánh giá
3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quả sử dụng vốn lưu động tại
công ty bóng đèn phích nước Rạng Đông
2
3.1 Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong công ty
3.1.1 Những mặt tích cực
3.1.2 Những mặt hạn chế
3.2 Các đề xuất, biện pháp của bản thân nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn lưu động.
CHƯƠNG III MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ
DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT Ở HN
Kết luận
Tài liệu tham khảo
3
LỜI NÓI ĐẦU
Năm 2008, cuộc khủng hoảng tài chính thế giới bùng nổ. Nó ảnh hưởng
đến mọi mặt đời sống kinh tế xã hội. Nhiều quốc gia trên thế giới có nền kinh tế
vững mạnh như Anh, Ý… đặc biệt là Mỹ đã phải lao đao. Việt Nam cũng không
tránh khỏi bị ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng này, nền kinh tế Việt Nam năm
2008 tăng trưởng chậm . Cùng với thực trạng như vậy Việt Nam cũng đang đối
diện với nhiều vấn đề khác nhau dẫn đến sự tăng trưởng chậm của nền kinh tế
như : Vấn đề xử lý ô nhiễm ( tiêu biểu là vụ Vedan ), Vấn đề an toàn thực phẩm,
và tình hình biến động của thế giới đã đẩy giá nguyên liệu, nhiên liệu lên cao.
Đặc biệt là biến động theo chiều hướng gia tăng của giá nguyên liệu, nhiên liệu
đã tác động rất lớn đến tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp. Chính vì vậy, việc tiếp cận với vốn của các doanh nghiệp trong giai
đoạn này là hết sức khó khăn. Với các doanh nghiệp vừa và nhỏ giải pháp của
họ là thu hẹp quy mô sản xuất, có một số doanh nghiệp thì phải huỷ bỏ hoạt
động sản xuất kinh doanh, có doanh nghiệp thì hoạt động cầm chừng, còn có
doanh nghiệp thì phải chịu lỗ để dữ khách hàng…
ADAM SMIT thì cho rằng: vốn bao gồm vốn cố định và vốn lưu động.
+ Vốn cố định là tiền vốn được sử dụng để cải tạo đất đai mua các
máy móc và các công cụ cần thiết để thu được lợi tức mà không phải thay đổi
chủ sở hữu, không phải tiến hành các hoạt động lưu thông.
+ Vốn lưu động: vốn có thể được sử dụng để chế tạo sản xuất hoặc
mua hàng hoá rồi lại bán đi với một sô tiền lãi nào đó.
Vốn dùng theo cách nói trên không mang lại lợi tức và lợi nhuận cho người sử
dụng, trong khi vốn vẫn thuộc quyền người sỡ hữu của người đó hay là lợi tức
dưới dạng người vay. Hàng hoá của người lái buôn chỉ mang lại cho người đó
lợi tức hay là lợi nhuận sau khi bán hết hàng hoá và sử dụng số tiền bán được đó
để đổi lấy hàng hoá khác, người đó sẽ hưởng phần chênh lệch giữu mua và bán.
Vậy tiền vốn của người lái buôn tiếp tục chuyển từ dạng này sang dạng khác,
thông qua sự lưu thông hay sự trao đổi trực tiếp người lái buôn đó kiếm được lợi
nhuận. Loại tiền được sử dụng như vậy gọi là vốn lưu động.
- Quan điểm của P.Samuelson
5
Theo P.Samuelson: thì vốn là những hàng hoá được sản xuất ra để sản
xuất ra những hàng hoá mới, là đầu vào cho hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
Các quan điểm của các nhà kinh tế học đã cho ta thấy vai trò và tác dụng
của vốn đối với doanh nghiệp cũng như đối với nền kinh tế. Tuy nhiên họ lại
đồng nhất vốn và tài sản là một, đây là một hạn chế của họ.
1.1.2 Khái niệm về vốn lưu động
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, bất kì doanh nghiệp nào ngoài tư
liệu lao động cần phải có đối tượng lao động.Đối tượng lao động gồm nhiều loại
khác nhau như: nguyên liệu, vật liệu, phụ tùng thay thế..Về mặt hịên vật những
đối tượng lao động này được gọi là tài sản lưu động của doanh nghiệp.
Vốn lưu động được hiểu là toàn bộ tài sản biểu hiện bằng tiền.Hay
nói cách khác đó là giá trị những tài sản lưu động mà doanh nghiệp đã đầu tư
vào quá trình sản xuất kinh doanh gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, đầu tư tài
việc đi vay ngân hàng thương mại, phát hành trái phiếu hoặc vay các tổ chức
kinh tế khác.
1.2.2 Căn cứ theo vai trò của từng loại vốn lưu động trong quá trình sản xuất:
Theo cách phân loại này vốn lưu động của doanh nghiêp có thể chia
thành 3 loại:
- Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất bao gồm: gía trị các khoản
nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu động lực, phụ tùng thay thế, công
cụ lao động nhỏ.
- Vốn lưu động trong khâu sản xuất bao gồm: các khoản giá trị sản xuất
sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, các khoản chi phí chờ kết chuyển…
- Vốn lưu động trong khâu lưu thông: bao gồm các khoản giá trị thành
phẩm, vốn bằng tiền, các khoản vốn đầu tư ngắn hạn ( đầu tư chứng khoán ngắn
hạn, cho vay ngắn hạn…), các khoản kí quỹ kí cược ngắn hạn, các khoản vốn
trong thanh toán ( các khoản phải thu, khoản tạm ứng…).
Cách phân loại này cho thấy vai trò của từng loại vốn trong các khâu
của quá trình sản xuất. Từ đó sẽ giúp doanh nghiệp phân bổ đầu tư hợp lí và có
biên pháp quản lí phù hợp đối với từng loại vốn.
1.2.3 Căn cứ vào hình thái biểu hiện thì vốn lưu động được chia làm
7
-Vốn vật tư hàng hoá: là các khoản vốn lưu động có hình thái biểu hiện
bằng hiện vật cụ thể như nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm…
-Vốn bằng tiền: bao gồm các khoản vốn tiền tệ như tiền mặt tồn quỹ,
tiền gửi ngân hàng, các khoản vốn thanh toán, các khoản đầu tư ngắn hạn.
Cách phân loại này giúp ta phân biệt đươc các loại vốn lưu động tham gia
vào quá trình sản xuất. Từ đó hình thành cơ cấu vốn lưu động hợp lí đối với
từng doanh nghiệp
1.2.4 Căn cứ vào quan hệ sở hữu về vốn
Theo cách phân loại này người ta chia vốn lưu động thành 2 loại:
- Vốn chủ sở hữu: là vốn lưu đông thuộc quyền sở hửu của doanh
nghiệp, doanh nghiêp có đầy đủ các quyền chiếm hửu, chi phối và định đoạt
2.1 Quan điểm hiệu quả sử dụng vốn
- Hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế
phản ánh trình độ, năng lực khai thác và sử dụng vốn của doanh nghiệp vào hoạt
động sản xuất kinh doanh, nhằm mục đích tối đa hoá lợi ích và tăng giá trị tài
sản chủ sở hữu.
- Hiệu quả sử dụng vốn cũng cần được xem xét ở hai mặt đó là:
+ Hiệu quả về mặt xã hội
+ Hiệu quả về mặt kinh tế
Đối với doanh nghiệp sản xuất thì họ quan tâm đến hiệu quả kinh tế hơn,
tuy nhiên hiệu quả xã hội cũng rất quan trọng vì nó ảnh hưởng đến quá trình sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp quan tâm đến hiệu quả kinh tế
hơn vì điều này nó liên quan đến khả năng tồn tại hay là phá sản của doanh
nghiệp. Hiệu quả kinh tế cũng là thước đo để xác định vị trí của doanh nghiệp
trên thị trường, là cơ sở để xếp hạng tín nhiệm.
Vì vậy nó có ảnh hưởng rất lớn đối với doanh nghiệp, đặc biệt là những
doanh nghiệp có cơ cấu vốn thiên về vốn vay. Chỉ tiêu hiệu quả kinh tế là một
trong những chỉ tiêu được các nhà đầu tư xem xét để quyết định có nên đầu tư
vào doanh nghiệp này hay không.
2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
2.2.1 Vòng quay hàng dự trữ
Vòng quay hàng
dự trữ, tồn kho
= Tổng số ngày
9
Tồn kho bình quân trong kì
Chỉ tiêu này phản ánh số lần luân chuyển hàng tồn kho trong một thời kỳ
nhất định, qua chỉ tiêu này giúp nhà quản trị tài chính xác định được mức dữ trữ
vật tư, hàng hoá hợp lý trong kỳ sản xuất kinh doanh.
2.2.2 Kì thu tiền bình quân
Kì thu tiền bình
TSLĐ
=
TSLĐ sử dụng bình quân trong kì
Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết để đạt được mỗi đơn vị doanh thu, doanh nghiệp
phải sử dụng bao nhiêu % đơn vị TSLĐ. Chỉ tiêu này càng thấp thì hiệu quả
kinh tế càng cao
2.2.7 Kì luân chuyển vốn lưu động
Kỳ luân chuyển vốn lưu động: phản ánh số ngày để thực hiên 1 vòng quay
vốn lưu động. Kỳ luân chuyển càng nhỏ thì trình độ sử dung vốn lưu động càng
cao và ngược lại. Công thức xác định như sau:
2.3 Các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh
nghiệp sản xuất
Vốn lưu động là một chỉ số liên quan đến lượng tiền mặt doanh nghiệp
cần để duy trì hoạt động thường xuyên, hay nói một cách cụ thể hơn đó là lượng
tiền cần thiết để tài trợ cho hoạt động chuyển hóa nguyên liệu thô thành thành
phẩm bán ra thị trường.Đặc biệt đó là doanh nghiệp sản xuất. Vốn lưu động của
doanh nghiệp được tạo lập từ nhiều nguồn khác nhau và tồn tại dưới nhiều hình
thức khác nhau. Những thành tố quan trọng của vốn lưu động đó là lượng hàng
tồn kho, khoản phải thu, khoản phải trả. Các nhà phân tích thường xem xét các
khoản mục này để đánh giá hiệu quả và tiềm lực tài chính của một công ty. Vì
vậy, để quản lí sử dụng vốn lưu động hợp lí và hiệu quả các doanh nghiệp sản
xuất cần phải:
11
12
2.3.1 Quản lý vốn bằng tiền
Tiền mặt tại quỹ là một bộ phận quan trọng cấu thành vốn bằng tiền
của doanh nghiệp. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp luôn
có nhu cầu vốn dự trữ tiền mặt hay tiền mặt tương đương (các chứng khoán có
khả năng chuyển đổi thành tiền mặt dễ dàng) ở một mức nhất định theo quy mô
thường xuyên đôn đốc và áp dụng mọi biện pháp cần thiết để thu hồi các khoản
nợ đến hạn phải thu.
2. 3.3 Quản lý hàng tồn kho
Hàng tồn kho dự trữ đối với doanh nghiệp sản xuất là NVL, SPDD,TP.
Mỗi loại dự trữ có đặc điểm riêng.Do đó cần có biện pháp quản lý thích hợp đối
với từng loại dự trữ.
Để quản lý tốt loại vốn này cần phối hợp nhiều biện pháp từ khâu mua
sắm, vận chuyển và dự trữ ở kho.
• Xác định đúng đắn lượng hàng tồn kho cần thiết theo phương pháp trực
tiếp:
_ Xác định mức dự trữ cần thiết về NVL chính:
Số ngày dự trữ cần thiết về NVL chính là số ngày kể từ lúc doanh nghiệp
bỏ tiền ra mua cho đến khi đưa NVL vào sản xuất. Hoặc là số ngày cách nhau
giữa 2 lần nhập kho NVL và số ngày dự trữ bảo hiểm.
Mức tiêu dùng về chi phí NVL chính bình quân 1 ngày năm kế hoạch
được xác định bằng cách lấy tổng chi phí NVL chính trong năm kế hoạch chia
cho số ngày trong năm (360 ngày).
_Xác định dự trữ về sản phẩm dở dang:
Số ngày dự trữ
sản phẩm DD
=
CP SX bỡnh
quõn 1 ngày
trong kỡ
x
Chu kỡ
SX sản
phẩm
x
Hệ số
trong kì
=
Giá thành SX của sp
hh bình quân 1 ngày
kì SX
X
Số ngày dự trữ
về TP
Giá thành SX của sp hh
bình quân 1 ngày kì KH
=
Σ giá thành sản xuất SP hh cả năm
Số ngày trong kỳ (360 ngày)
15
Doanh nghiệp cần cân nhắc các nguồn cung ứng và người cung ứng. Mục
tiêu cần đạt được trong việc lựa chọn là giá cả thấp, những điều khoản thương
lượng thuận lợi (thời gian và địa điểm giao hàng, điều kiện được hưởng tín dụng
thương mại).
• Thường xuyên theo dõi sự biến động của thị trường vật tư hàng hoá. Từ
đó dự đoán và quyết định điều chỉnh kịp thời việc mua sắm NVL hoặc hàng hoá
có lợi cho doanh nghiệp trước sự biến động của thị trường. Đây là một biện
pháp rất quan trọng để bảo toàn vốn cho doanh nghiệp.
• Lựa chọn các phương tiện vận chuyển thích hợp, giảm bớt chi phí vận
chuyển, bốc dỡ.
• Tổ chức tốt việc dự trữ, bảo quản NVL hoặc hàng hoá, áp dụng thưởng
phạt vật chất để tránh tình trạng bị mất mát hao hụt quá mức vật tư hàng hoá.
• Thường xuyên kiểm tra nắm vững tình hình dự trữ, phát hiện kịp thời
tình trạng vật tư hàng hoá bị ứ đọng, có biện pháp giải phóng nhanh số vật tư đó
để thu hồi vốn.
• Tiến hành lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho.