LỜI MỞ ĐẦU
Trong xã hội hiện đại, vai trò của khoa học - công nghệ (KH&CN) ngày
càng trở nên quan trọng. Những tiến bộ như vũ bão của KH&CN trong hai thập
kỷ qua, đặc biệt là trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ sinh học,
công nghệ Nano, tự động hoá đã làm thay đổi căn bản về tư duy và chiến lược
của nhiều quốc gia. Không ai còn có thể hoài nghi về vai trò của KH&CN trong
phát triển kinh tế toàn cầu và của mỗi quốc gia. Trong xu thế ấy, bất kỳ quốc
gia nào hay địa phương nào khi xây dựng kế hoạch chiến lược phát triển cũng
phải chú ý tới vai trò đặc biệt của KH&CN và mối quan hệ mật thiết của chúng
đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Theo đó ,công nghệ nội sinh,công nghệ ngoại sinh cũng đang phát triển rất
mạnh mẽ,và để lại những tác động tích cực cho sự phát triển kinh tế,văn hóa và
xã hội.Để tìm hiểu rõ các tác động của chúng,biết được những tác động của
công nghệ nội sinh,công nghệ ngoại sinh, ưu điểm cũng như các hạn chế thì sau
đây nhóm tôi xin trình bày chủ đề “ Tác động của công nghệ nội sinh,công nghệ
ngoại sinh ở nước ta trong thời kì công nghiệp hóa,hiện đại hóa.”
•
Cấu trúc của bài tiểu luận gồm 3 phần:
Chương 1: Cơ sở lý luận.
Chương 2:Thực trạng các tác động của công nghệ nội sinh,công nghệ ngoại
sinh ở Việt Nam trong thời kì công nghiệp hóa,hiên đại hóa (CNH,HĐH).
Chương 3: Định hướng phát triển và những giải pháp.
CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.Khái quát về công nghệ nội sinh
1.1 Khái niệm
Công nghệ nội sinh là công nghệ được tạo ra thông qua quá trình hình thành, nghiên
cứu và triển khai ở trong nước.
1.2 Chu trinh hình thành: gồm 5 giai đoạn
3.1.1 Mục tiêu
Đại hội lần thứ V của Đảng (1982) đã xác định phải lấy nông nghệp làm mặt trận
hàng đầu,ra sức phát triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng,việc xây dựng và phát
triển công nghiệp nặng trong giai đoạn này cần làm có mức độ,vừa sức.
3.1.2 Đặc trưng
Công nghiệp hóa theo mô hình khép kín,hướng nội và thiên về công nghiệp nặng.
Công nghiệp hóa chủ yếu dựa vào lợi thế về lao động,tài nguyên,đất đai và viện
trợ của các nước xã hội chủ nghĩa.
Phân bổ nguồn lực được thông qua cơ chế kế hoạch hóa tập trung,quan liêu bao
cấp.
Nóng vội,đơn giản,chủ quan,ham làm nhanh làm lớn,không quan tâm đến hiệu
quả kinh tế xã hội.
3.2 Thời kì đổi mới
Hội nghị Trung Ương VII (1/1994) có bước đột phá mới trong việc nhận thức về
CNH,HĐH “ CNH,HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản ,toàn diện các hoạt động sản
xuất ,kinh doanh,dịch vụ và quản lí kinh tế,xã hội từ việc sử dụng lao động thủ công là
chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ,phương tiện và
phương pháp tiên tiến,hiện đại,dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ của
khoa học và công nghệ,tạo ra năng xuất lao động cao”.
3.2.1 Mục tiêu
Cải biến nước ta thành nước công nghiệp có cơ sở vật chất kĩ thuật hiên đại,có cơ
cấu kinh tế hợp lí,quan hệ sản xuất tiến bộ,phù hợp với trình độ phát triển của sản
xuất,mức sống vật chất và tinh thần cao,quốc phòng –an ninh vững chắc,dân
giàu,nước mạnh,xã hội công bằng,dân chủ và văn minh.
3.2.2 Nội dung cơ bản của quá trình CNH,HĐH.
•
Quá trình trang bị và trang bị lại công nghệ cho tất cả các hoạt động từ chổ sử
Trang thiết bị hầu hết đã cũ nát, chắp vá không thể sản xuất được những sản
phẩm yêu cầu độ chính xác cao, không thể đáp ứng được thị hiếu ngày càng
cao của thị trường trong và ngoài nước. Có đến 70% thiết bị máy móc thuộc
thế hệ những năm 60- 70, trong đó có hơn 60% đã hết khấu hao, gần 50%
máy móc cũ được tân trang lại để dùng, việc thay thế chỉ đơn lẻ từng bộ
phận, chắp vá thiếu đồng bộ. Tình trạng máy móc có tuổi thọ trung bình trên
20 năm chiếm khoảng 38% và dưới 5 năm chỉ chiếm có 27%.
• Trước đây chúng ta đa số là nhập máy móc thiết bị từ nhiều nguồn khác
nhau: 25% từ Liên Xô, 21% từ các nước Đông Âu, 20% từ các nước
ASEAN,…nên tính đồng bộ kém, khi sử dụng năng lực sản xuất chỉ đạt hơn
50% công suất.
• Do đầu tư thiếu đồng bộ nên doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn về phụ
tùng thay thế, suất tiêu hao vật liệu, nhiên liệu trên một đơn vị sản phẩm còn
quá lớn, nhiều tiêu chuẩn định mức đã lỗi thời không còn phù hợp nhưng
chưa sửa đổi. Máy móc thiết bị cũ làm cho số giờ máy chết cao…Những điều
này chính là nguyên nhân làm cho giá thành sản phẩm cao, chất lượng thấp
và không đủ sức cạnh tranh cả trong thị trường nội địa.
Xuất phát từ thực trạng máy móc thiết bị trên đòi hỏi tất yếu các doanh nghiệp phải
đổi mới máy móc thiết bị mới có thể đáp ứng được nhu cầu thị trường, chiến thắng
trong cạnh tranh.Quá trình trang bị và trang bị lại cho tất cả các hoạt động chuyển từ
chỗ sử dụng thủ công là chính sang sử dụng máy móc thiết bị hiện đại nhờ ứng dụng
công nghệ nội sinh và công nghệ ngoại sinh vào sản xuất.Đó là quá trình tạo sự chuyển
biến căn bản về lực lượng sản xuất nhằm nâng cao năng suất,chất lượng,hiệu quả và
khả năng cạnh tranh của nền kinh tế thế giới.
Trong lĩnh vực y tế
Từng bước đổi mới công tác quản lý, sắp xếp và tổ chức lại hệ thống .Những
Sản phẩm của TOMECO ngày càng đa dạng phong phú,
chất lượng ngày càng được hoàn thiện.
Trong lĩnh vực giáo dục.
Chỉ tính riêng trong năm học 2011-2012, nhiều địa phương trên cả nước đã
đầutư mua sắm bổ sung thiết bị dạy học tối thiểu, sách giáo khoa, sách giáo viên,tủ
sách dùng chung... với tổng kinh phí hơn 844 tỷ đồng.Nhiều địa phương đã đầu tư
mua sắm các thiết bị giảng dạy hiện đại phục vụ tốt công tác đổi mới phương
phương pháp dạy học của giáo dục mầm non và các cấp học phổ thông.Cùng với
cơ sở vậtchất trường, lớp học thì thiết bị giảng dạy đầy đủ là một trong những điều
kiệnquyết định thành công của việc đổi mới phương pháp dạy học. Nhất là việc sử
dụng thiết bị giảng dạy sẽ tránh được tình trạng truyền thụ kiến thức một chiều; tạo
động lực khuyến khích tư duy sáng tạo của đội ngũ giáo viên và học sinh, bồi
dưỡng năng lực tự học, phát triển năng lực thực hành. Có được các thiết bị giảng
dạy thích hợp, người giáo viên sẽ phát huy hết năng lực sáng tạo của mình trong
công tác giảng dạy, làm cho hoạt động nhận thức của học sinh trở nên nhẹ nhàng
và hấp dẫn hơn, tạo ra cho học sinh những tình cảm tốt đẹp với môn học
Máy chiếu 28/2x/3x
2.2 Tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc dân và cơ cấu nội tai
của mỗi ngành kinh tế.
•
Sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Dưới tác động của công nghệ nội sinh,ngoại sinh,cơ cấu kinh tế nước ta cũng có
những chuyển biến rõ rệt.Trong 10 năm 1991-2000, tăng trưởng GDP đạt 7,5%
độ
tăng
chung
của
nền
kinh
tế
Chuyển dịch nền kinh tế theo hướng CNH, nông nghiệp tăng khá về giá trị tuyệt
đối, từ 38,7% năm 1980 xuống còn 25% năm 2000, tương ứng công nghiệp và xây
dựng tăng từ 22,7% lên khoảng 34,5% và dịch vụ 38,6% lên 40,5% trong GDP
(mức độ thay đổi trong 10 năm đối với nông nghiệp là -13,7%, công nghiệp 11,8%,
dịch vụ là 1,9%)
•
Cơ cấu nội tại của mỗi ngành kinh tế
Ngành nông nghiệp
Mức tăng trưởng sản xuất duy trì ở mức 4,8% liên tục trong 10 năm. Nhiều
vực nông nghiệp, chiếm tỷ trọng gần 60% tổng số lao động đang làm việc trong
các khu vực kinh tế của cả nước.
Một nền nông nghiệp hướng vào sản xuất hàng hóa đã bước đầu hình thành.
Diện tích gieo trồng các loại cây trồng mà sản phẩm tạo ra dành nhiều cho xuất
khẩu hoặc phục vụ trực tiếp cho người tiêu dùng trong nước đã tăng lên như diện
tích các loại cây rau, quả, cây công nghiệp ngắn ngày có hướng tăng nhẹ khoảng 24%/năm. Diện tích các cây lâu năm tăng gần 80 nghìn ha riêng trong năm 2009 do
giá xuất khẩu một số nông sản này tăng. Những dịch chuyển này đã tạo ra sự hình
thành các vùng chuyên canh, đặc biệt là vùng sản xuất các loại cây rau, quả xuất
khẩu như vải, bưởi, sầu riêng, na, xoài, thanh long,… cùng với sự hình thành các
mô hình sản xuât hàng hóa nông sản lớn. Bên cạnh đó thì những cây trồng có định
hướng phục vụ cho các ngành công nghiệp chế biến các sản phẩm chỉ tiêu dùng nội
địa thể hiện sự khó khăn, không có năng lực phát triển như cây mía đường, bông,
cây thức ăn gia súc,…
Ngành công nghiệp –xây dựng
Sự chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp và tỷ trọng của các phân ngành
công nghiệp trên GDP cho thấy nền công nghiệp của Việt Nam mới ở giai đoạn
đầu của quá trình công nghiệp hoá. Tỷ trọng các ngành khai thác khoáng sản, thâm
dụng lao động, sản xuất hàng tiêu dùng thay thế nhập khẩu đang tăng lên
Ngành dịch vụ
Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động
dịch vụ phát triển, nhờ vậy khu vực dịch vụ đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sản
xuất, tiêu dùng và đời sống dân cư, góp phần đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế…
Ngành dịch vụ tăng khá nhanh trong giai đoạn 1991-1995, đạt 8,6%, nhưng sang
giai đoạn 1996-2000 tốc độ tăng chậm lại, chỉ đạt 5,7% và đang có xu hướng hồi
phục trong những năm gần đây (năm 2001 đạt 6,1% năm 2002 đạt 6,54% và 2003
đạt 6,57%).
hội chủ nghĩa đã lựa chọn. Cải cách thể chế có tính hệ thống, bao hàm hai lĩnh vực
thể chế trọng yếu, nổi bật nhất trong đời sống xã hội. Đó là thể chế kinh tế và thể
chế chính trị.
Quá trình CNH-HĐH cũng tạo nên những biến đổi hết sức sâu sắc về mặt thể
chế kinh tế và về mặt xã hội .Ở Việt Nam hiện nay, để phát triển mạnh mẽ kinh tế
thị trường thì phải ra sức xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa. Định hướng xã hội chủ nghĩa là vấn đề chính trị và xã hội,
là bảo đảm chính trị và bảo đảm xã hội cho sự vận hành và phát triển kinh tế. Đó là
bảo đảm tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội, thể hiện trong từng
chính sách, kế hoạch phát triển. Đối tượng thụ hưởng các lợi ích do cải cách thể
chế đem lại chính là người dân, hộ dân và các cộng đồng dân cư Việt Nam - một
quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo và đa văn hóa
Cải cách thể chế kinh tế tạo ra môi trường và động lực phát triển kinh tế, củng cố
cơ sở kinh tế cho những cải cách chính trị và hệ thống chính trị. Đến lượt nó, cải
cách chính trị, nhất là cải cách thể chế nhà nước và luật pháp lại tạo ra cơ sở chính
trị - pháp lý cho sự phát triển kinh tế.
Mô hình và cơ chế quản lý kinh tế kiểu hành chính - mệnh lệnh trước đổi mới dẫn
đến tâm lý thụ động, ỷ lại vào Nhà nước, sự trì trệ và sự thiếu vắng trách nhiệm cá
nhân. Khuyết tật và hạn chế này dần dần được khắc phục khi xã hội và các công
dân làm quen với cơ chế thị trường và thích ứng với kinh tế thị trường. Nó đòi hỏi
mỗi người dân và từng tổ chức phải tỏ rõ năng lực và trách nhiệm, ý thức chấp
hành luật pháp, tính chủ động tháo vát, tính thiết thực và chú trọng kết quả, hiệu
quả công việc, nhất là đối với các chủ thể sản xuất, kinh doanh, các doanh nghiệp,
công ty, các cơ quan kinh tế. Chuyển sang cơ chế thị trường và kinh tế thị trường,
ngay các tổ chức chính trị (Đảng, Nhà nước), các đoàn thể xã hội và những người
hoạt động trong lĩnh vực này cũng phải thay đổi tư duy, đổi mới phương pháp và
phong cách hoạt động sao cho phù hợp với những đòi hỏi mới, yêu cầu mớiTrong
tiến trình cải cách thể chế chính trị ở Việt Nam, có những thay đôi đáng chú ý là:
Thứ sáu, cải cách thể chế chính trị ở Việt Nam trong đổi mới, nhất là trong giai
đoạn hiện nay, đang nổi lên một nhiệm vụ bức xúc, gay gắt là đấu tranh chống
quan liêu, tham nhũng. Tình trạng này ở Việt Nam hiện nay là khá trầm trọng và
phổ biến, đã trở thành quốc nạn. Đây là nguy cơ đối với sự ổn định và phát triển
bền vững của chế độ. Đây cũng là một trong những thách thức lớn đối với Việt
Nam trong hội nhập quốc tế, trong bối cảnh và xu thế toàn cầu hóa.
Nói tóm lại, những biến đổi kinh tế - xã hội, từ cơ cấu kinh tế và cơ cấu xã hội đến
các quan hệ kinh tế và các quan hệ xã hội trong nền kinh tế thị trường, mở cửa và
hội nhập đòi hỏi tổ chức và hoạt động chính trị phải đổi mới để thích ứng với
những cải cách kinh tế và thúc đẩy xã hội phát triển.
2.4 Tác động đến CNH.HĐH nông nghiệp nông thôn.
Nước ta xuất phát từ nền nông nghiệp lạc hậu,phân tán,năng suất thấp nên
CNH,HDH nông nghiệp nông thôn giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong toàn bộ tiến trình
CNH,HĐH đất nước.Đến nay,các nước có khoảng 80% dân số ở nông thôn,trong đó tỷ
lệ đói nghèo vẫn còn trên 22%,ở một số huyện miền núi còn trên 42%.Điều đó làm cho
thu nhập và tích lũy của đại bộ phận dân cư nông thôn còn bấp bênh,sức mua,khả năng
thanh toán về tư liệu sản xuất tiêu dùng hạn chế.
So với các giải pháp khác thì giải pháp về khoa học công nghệ đem lại hiệu quả
cao.Theo đánh giá chung,trong nông nghiệp ước tính 1/3 giá trị tăng của sản xuất lương
thực thời gian qua là do người dân tiếp thu,ứng dụng các tiến bộ về khoa học kĩ thuật
mới vào sản xuất.Nhờ ứng dụng những thành tựu về công nghệ mà nước ta đã tạo ra
được nhiều giống tốt,kết hợp với việc phát triển các quan hệ thị trường đùng hướng,có
thể chuyển cơ cấu sản xuất nông nghiệp từ thuần nông,độc canh sang đa dạng hóa các
cây trồng.
Gần đây,nhà nước tiếp tục tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho
nông nghiệp,nông thôn.Hiện nay có rất nhiều vấn đề về kĩ thuật để đảm bảo hiệu quả
vốn đầu tư của nhà nước chưa được giải quyết tôt.Do đó,nông nghiệp nông thôn đang
rât cần có sự tác động của khoa học công nghệ.
nhập kinh tế với khu vực và quốc tế từ khi tham gia ASEAN (1995) và các định
chế kinh tế, tài chính thương mại của ASEAN như: Khu vực mậu dịch tự do
ASEAN (AFTA), Khu vực đầu tư ASEAN (AIA); ký Hiệp định khung với EU
(1995); tham gia Diễn đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM) năm 1996, Diễn đàn APEC
năm 1998; ký Hiệp định Thương mại với Hoa Kỳ (2000) dựa trên những nguyên
tắc cơ bản của WTO và năm 2007 đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của
WTO. .
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam ngày càng năng động tiếp
thu khoa học và công nghệ, kỹ năng quản lý, góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ quản
lý và cán bộ kinh doanh. Đồng thời, từng bước đưa hoạt động của các doanh
nghiệp và cả nền kinh tế vào môi trường cạnh tranh, tạo tư duy làm ăn mới, thúc
đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
ASEAN là một trong những đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam. Năm
2009, xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN đạt 8,9 tỷ USD, tương đương 15%
tổng kim ngạch xuất khẩu. Giá trị nhập khẩu từ ASEAN đạt 14 tỷ USD, chiếm
20% tổng kim ngạch nhập khẩu cả nước. Tổng vốn đầu tư trực tiếp đăng ký của
ASEAN tại Việt Nam khoảng trên 60 tỷ USD. Bên cạnh đó Việt Nam còn tham gia
với tinh thần trách nhiệm cao vào các cơ chế hợp tác đa phương của ASEAN với
các đối tác bên ngoài như: ASEAN+1, ASEAN+3, Hợp tác Á-Âu (ASEM), Hội
nghị Thượng đỉnh Đông Á.
Bên cạnh việc phát triển quan hệ với các nước láng giềng và khu vực, Việt Nam
còn năng động cải thiện quan hệ với các nước, nhất là các nước lớn và các tổ chức
quốc tế trong quá trình hội nhập.
Bình thường hoá quan hệ với Mỹ là một hướng lớn trong hoạt động đối ngoại
của Việt Nam
sản giảm dần từ 29,37% năm 2001 xuống còn 23,3% vào năm 2010; nhóm hàng
công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp đã tăng mạnh từ 35,72% vào năm 2001,
lên 48,9% năm 2010; nhóm hàng nhiên liệu khoáng sản giảm từ 34,92% năm 2001
xuống còn 27,8% năm 2010.
Thị trường ngoài nước ngày càng mở rộng, đa dạng. Số lượng thị trường xuất
khẩu đã tăng gấp hơn 1,4 lần sau 10 năm, từ 160 thị trường lên trên 230 thị trường.
Cơ cấu thị trường xuất, nhập khẩu đã có sự chuyển dịch theo hướng giảm dần lệ
thuộc vào thị trường Châu Á.
Dưới tác động của công nghệ nội sinh,ngoại sinh,quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế diễn ra ngày càng mạnh mẽ,nó cũng tác động đến quá trình trang bị và
trang bị lại các phương tiện,tạo ra các trang thiết bị ngày càng hiện đại hơn,góp
phần nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm nhờ ứng dụng những công nghệ
trong nước cũng như nhập các công nghệ nước ngoài.Nó làm thay đổi cơ cấu
ngành cũng như nội bộ ngành,hợp tác quốc tế sẽ tạo ra nhiều cơ hội hơn cho các
quốc gia,làm tăng tỉ trọng của công nghiệp nhẹ,giảm ti trọng công nghiệp nặng,góp
phần phát triển đất nước.Và nó cũng tác động mạnh mẽ đến quá trình CNH,HĐH ở
nông thôn,làm cho sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn đạt được những
thành tựu to lớn,góp phần ổn định và phát triển kinh tế xã hội,đư nước ta sang giai
đoạn mới.
2.3 Đánh giá
Công nghệ nội sinh
Ưu điểm:
Tạo được công nghệ phù hợp với thực tế cơ sở, địa phương mình, của quốc gia.
Dễ dàng làm chủ công nghệ và dễ dàng quản lí
Tận dụng được các nguồn lực sẵn có của từng địa phương, từng vùng miền hay
2.3.1
•
•
•
gian, đáp ứng nhu cầu và sức ép cạnh tranh.
Có điều kiện nâng cao được trình độ công nghệ.
Nhược điểm:
Chi phí cho chuyển giao công nghệ là rất cao
Bị phụ thuộc nhiều vào các kỹ sư nước ngoài
Các nước nhận chuyển giao công nghệ nếu không tìm hiểu kỹ về công nghệ
được chuyển giao có thể nhập về các công nghệ đã lỗi thời, khi đó sản phẩm
được tạo ra không có sức cạnh tranh, và các quốc gia nay sẽ trở thanh bải rác
công nghệ
• Các công nghệ nhập về có thể không phù hợp với điều kiện ở địa phương.
Nguyên nhân :
Nguyên nhân khách quan
Không quốc gia nào trên thế giới có đủ mọi nguồn lực đẻ làm ra tất cả các công
nghệ cần thiết một cách kinh tế, do đó nhiều nước muốn có một công nghệ
thường cân nhắc giữa mua và làm.
Sự phát triển không đồng đều giữa các quốc gia trên thế giới về công nghệ (85%
các sáng chế công nghệ nằm trong tay sáu nước ), nhiều nước không có khả
năng tạo ra công nghệ mà mình cần, buộc phải mua để đáp ứng nhu cầu cấp
thiết.
Xu thế mở rộng hợp tác, khuyến khích thương mại tạo điều kiện thuận lợi cho
mua bán, kể cả mua bán công nghệ
Các thành tựu KH-CN hiện đại làm rút ngắn tuổi thọ của các công nghệ, khiến
nhu cầu đổi mới công nghệ tăng cao.