Họ và tên : Bùi Thị Thúy Duyên
Chủ đề: Quan điểm của đảng về xây dựng nền Văn hóa Việt Nam
I. Văn hóa Việt Nam:
Văn hóa được đề cập ở đây bao gồm những hoạt động văn hóa, nghệ thuật, những phong
tục, tập quán cùng lối sống của con người Việt Nam. Những lĩnh vực như giáo dục, thể
dục thể thao, y tế, khoa học kỹ thuật, tôn giáo là thành phần của nền văn hóa theo nghĩa
rộng không thuộc phạm vi của công trình này.
Văn hóa dân tộc là kết quả lao động bền bỉ, lâu dài đầy sức sáng tạo của biết bao thế hệ
nối tiếp nhau. So với lịch sử dân tộc, 55 năm là một khoảng thời gian không dài và không
thể tách khỏi quy trình tiến hóa hàng mấy ngàn năm của dân tộc. Nền văn hóa mới phải
bắt nguồn từ truyền thống của dân tộc và biết khai thác, phát triển những tinh hoa của văn
hóa dân tộc, đồng thời khắc phục những nhược điểm của văn hóa truyền thống. Vì vậy,
để đánh giá 55 năm xây dựng nền văn hóa mới và hoạt động của Ngành Văn hóa - Thông
tin, chúng ta sẽ điểm qua một số đặc điểm lịch sử của Việt Nam, quan hệ thống nhất với
nền văn hóa truyền thống của nước ta cùng với đường lối văn hóa của Đảng ta từ trước
tới nay.
Mấy đặc điểm của lịch sử Việt Nam:
1. Việt Nam là một nước văn hiến, là một trong những cái nôi của nhân loại. Trước
khi bị đế chế phong kiến Trung Quốc đô hộ trên nghìn năm, Việt Nam đã có một nền văn
hóa bản địa đặc sắc (Văn hóa đồng thau Đông Sơn). Học thuyết Khổng Tử, Phật giáo vào
nước ta sớm nhất so với một số nước trong vùng, không tồn tại nguyên gốc, mà thông
qua tập quán, lối sống truyền thống đã ảnh hưởng tới tư tưởng, tâm lý Việt Nam. Văn hóa
bản địa tạo nên bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam.
Cho đến khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, xã hội Việt Nam chưa từng qua một cuộc
cách mạng văn hóa xã hội sâu sắc, nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế sản xuất nhỏ, tự
cấp, tự túc, do đó bên cạnh những truyền thống tốt đẹp của văn hóa Việt Nam, chúng ta
cũng cần thấy mặt hạn chế, bảo thủ của một xã hội chậm tiến hàng ngàn năm, những ảnh
hưởng của tư tưởng và phong cách của người sản xuất nhỏ, những ảnh hưởng của các loại
tư tưởng phản động nẩy sinh từ chế độ thực dân rất nặng nề.
2. Do vị trí địa lý - chính trị của mình, nét nổi bật của lịch sử dân tộc Việt Nam từ thời
dựng nước cho đến nay là biết lợi dụng những ưu đãi của thiên nhiên khắc phục những
Nam.
Mặt khác, quá trình hình thành quốc gia dọc theo sông Hồng và
tiến về phía Nam cùng với điều kiện địa lý đã tạo nên những đặc
điểm văn hóa mang tính chất "vùng". Việt Nam có những "vùng
văn hóa" với một số sắc thái độc đáo làm cho nền văn hóa Việt
Nam thêm đa dạng. Văn hóa Việt Nam như một vườn hoa có
nhiều hương sắc, sinh ra từ những vùng khác nhau. Bảo tồn và
phát huy những đặc điểm này làm phong phú thêm cho nền văn
hóa dân tộc, hoàn toàn khác với tư tưởng địa phương, cục bộ do
ảnh hưởng của sự chia cắt và nền kinh tế sản xuất nhỏ tạo nên.
5. Nằm trên các đầu mối giao thông, ở vào vị trí chiến lược vùng
Đông Nam á là một ngã tư bên bờ Thái Bình Dương, Việt Nam từ
xưa vốn là nơi giao tiếp của nhiều nền văn hóa lớn của thế giới.
Do đó nền văn hóa Việt Nam ngoài phần bản địa là cơ bản còn
bao gồm những yếu tố tiếp thu từ bên ngoài, những yếu tố văn hóa cộng sinh trong nền
văn hóa Việt Nam là phổ biến. Do văn hóa Việt Nam có một bản sắc bền vững, nên văn
hóa Việt Nam trong khi tiếp thu văn hóa thế giới, đã tỏa ra thế giới, đóng góp vào văn
hóa thế giới. Đặc điểm này đã bị kìm hãm nặng nề trong suốt những thời kỳ bị đô hộ, và
sau này bị bao vây bởi các thế lực thù địch. Chúng dùng mọi thủ đoạn xảo quyệt nhằm
phong tỏa Việt Nam về kinh tế và văn hóa, cô lập Việt Nam, mặt khác thâm nhập văn hóa
phải động và đồi trụy vào Việt Nam nhằm phá hoại tư tưởng và xã hội Việt Nam, chia rẽ
Việt Nam và các nước trong khu vực.
Cả một bề dày lịch sử dân tộc, cả một quá trình hình thành nền văn hóa dân tộc đã rèn
luyện cho nhân dân ta những đức tính tiêu biểu: Yêu nước, cần cù lao động, thực tế, bình
dị, đôn hậu, nhân ái, trọng lẽ phải, biết yêu cái đẹp, không kỳ thị dân tộc.
Xây dựng văn hóa là xây dựng con người, là "trồng người" như Bác Hồ nói. (Nguồn gốc
của từ văn hóa là "trồng"). Một nhiệm vụ quan trọng vào bậc nhất của sự nghiệp xây
dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa là phải giữ gìn và phát huy cho được những đức tính
của con người Việt Nam trong điều kiện mới của đất nước và thế giới.
II. Đường lối văn hóa của Đảng ta:
3. Dân tộc, khoa học, đại chúng nêu trong đề cương thực chất bao gồm ba tính chất "dân
tộc, hiện đại, nhân văn" theo cách thể hiện ngày nay.
Tra cứu lại những văn kiện của Đảng, chúng ta thấy từ khi Đề cương văn hóa Việt Nam
ra đời cho đến nay, tuy cách thể hiện ở từ ngữ mỗi thời kỳ có điểm khác nhau, có bổ
sung, nhưng phương châm cơ bản của nền văn hóa nước nhà vẫn là: dân tộc, khoa học,
đại chúng. Dân tộc, tính chất dân tộc, bản sắc dân tộc là vấn đề hàng đầu của nền văn
hóa. Đảng ta chưa một lần thay thế khái niệm "văn hóa dân tộc" bằng khái niệm "văn hóa
vô sản". Hơn thế, Đảng ta đặt sự nghiệp xây dựng nền văn hóa mới vào quá trình liên tục
dựng nước và giữ nước của nhân dân ta, là một bộ phận khăng khít với kinh tế và chính
trị trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
Trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc (1930 - 1945), Đảng ta sử dụng một số
hình thức văn hóa như báo chí, văn học nghệ thuật để giác ngộ nhân dân làm cách mạng
đánh đổ ách thực dân và phong kiến; tự do sáng tạo được đặt trong tự do và độc lập của
dân tộc. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Đảng ta vừa sử dụng văn
hóa như một vũ khí đấu tranh, vừa coi nó là một mục tiêu trong công cuộc xây dựng đất
nước theo đường lối chung "vừa chống, vừa xây", "kháng chiến hóa văn hóa, văn hóa hóa
kháng chiến", "xây dựng một nền văn nghệ nhân dân", "nền văn nghệ dân tộc hiện đại",
"xây dựng nếp sống mới", "xây dựng gia đình văn hóa", đề cao "người tốt, việc tốt", "lấy
tiếng hát át tiếng bom", "tiếp tục xóa nạn mù chữ", "đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục", huy
động truyền thống cha ông cùng con cháu ngày nay đánh giặc, "bốn nghìn năm ta vẫn là
ta" v.v... là những chủ trương rất đúng đắn của đường lối văn hóa hiện thực của Đảng ta.
Từ sau 30-4-1975, non sông Việt Nam quy về một mối, cả nước quá độ tiến lên chủ nghĩa
xã hội, trên lĩnh vực văn hóa, đồng thời với việc "xóa bỏ tàn dư của văn hóa thực dân
mới". Đảng ta chủ trương "xây dựng nền văn hóa mới nội dung xã hội chủ nghĩa và
tính chất dân tộc", một "nền văn hóa tiên tiến - đậm đà bản sắc dân tộc", "tạo ra
một đời sống tinh thần cao đẹp, phong phú và đa dạng, có nội dung nhân đạo, dân
chủ, tiến bộ" (cương lĩnh của Đảng được thông qua tại Đại hội VII), coi "văn hóa là một
động lực", là "một nền tảng", là "một mục tiêu phát triển của xã hội ta, đặt kinh tế và xã
hội trong mối quan hệ hữu cơ, biện chứng". Khẩu hiệu "dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, văn minh" thể hiện mối quan hệ đó đang dần dần trở nên hiện thực trên đất
là sản phẩm do lao động của con người tạo ra mà hoạt động lao động của con người rất
đa dạng, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Từ đó đi đến việc tạo ra những quan niệm cụ
thể khác nhau: văn hóa du lịch; văn hóa kinh doanh, văn hóa ẩm thực ... Ở đây trong bài
viết này trình bày khái niệm văn hóa theo nghĩa rộng được nhiều nhà nghiên cứu tán
thành. Đó là: Văn hóa là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần do lao động của người sáng
tạo ra, được cộng đồng khẳng định tích lũy lại, tạo ra bản sắc riêng của từng tộc người,
từng xã hội. Trong Nghị quyết Trung ương 5 ( Khóa VIII), Đảng ta khẳng định: Văn hóa
Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt
Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ nước..., là kết quả giao lưu và tiếp thu
tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình. Văn hóa Việt
Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang
của dân tộc.
Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển bởi lẽ, văn hóa do con người sáng tạo ra, chi phối
toàn bộ hoạt động của con người, là hoạt động sản xuất nhằm cung cấp năng lượng tinh
thần cho con người, làm cho con người ngày càng hoàn thiện, xa rời trạng thái nguyên sơ
ban đầu khi từ con vật phát triển thành con người. Con người tồn tại, không chỉ cần
những sản phẩm vật chất mà còn có nhu cầu hưởng thụ sản phẩm văn hóa tinh thần, con
người và xã hội loài người càng phát triển thì nhu cầu văn hóa tinh thần đòi hỏi ngày
càng cao. Đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần đó chính là đảm bảo sự phát triển ngày càng
nhiều của cải vật chất cho con người và xã hội.
Trên ý nghĩa đó, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, đồng thời là mục tiêu của sự
phát triển. Vì xét cho cùng, mọi sự phát triển đều do con người quyết định mà văn hóa
4
thể hiện trình độ vun trồng ngày càng cao, càng toàn diện con người và xã hội, làm cho
con người và xã hội ngày càng phát triển, tiến bộ; điều đó nghĩa là ngày một xa rời trạng
thái nguyên sơ, mông muội để tiến tới một cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc và văn
minh. Trong đó, bản chất nhân văn, nhân đạo của mỗi cá nhân cũng như của cả cộng
đồng được bồi dưỡng; phát huy trở thành giá trị cao quý và chuẩn mực tốt đẹp của toàn
của xã hội; mặt khác, văn hóa sử dụng sức mạnh của các giá trị truyền thống, của đạo lý,
dân tộc để hạn chế xu hướng sùng bái hàng hóa, sùng bái tiền tệ, nghĩa là hạn chế xu
hướng tiêu cực của hàng hóa và đồng tiền "xuất hiện với tính cách là lực lượng có khả
năng xuyên tạc bản chất con người, cũng như những mối liên hệ khác". Hạn chế những
tiêu cực này chỉ có thể là văn hóa và chủ yếu bằng văn hóa.
Toàn cầu hóa kinh tế quốc tế là một xu thế, đòi hỏi chúng ta phải chủ động và tích cực
hội nhâp. Đây là cơ hội để chúng ta phát triển nhanh có hiệu quả, nhưng cũng là thách
thức rất lớn với nước ta trên nhiều mặt, trong đó có cả văn hóa. Sự thâm nhập của văn
hóa độc hại, của sự lai căng văn hóa, của lối sống thực dụng và những tiêu cực khác của
5
kinh tế thị trường..., đã và đang ảnh hưởng, làm băng hoại những giá trị văn hóa truyền
thống, ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của đất nước...
Cần phải hiểu rằng về mặt kinh tế, việc thực hiện chính sách hội nhập để tăng cường liên
kết, liên doanh với nước ngoài là rất cần thiết. Song, mọi yếu tố ngoại sinh như vốn, kỹ
thuật, công nghệ, kinh nghiệm quản lý và thị trường của nước ngoài chỉ có thể biến thành
động lực bên trong của sự phát triển, nếu chúng được vận dụng phù hợp và trở thành các
yếu tố nội sinh của con người Việt Nam với truyền thống văn hóa, đạo đức, tâm hồn, lối
sống của dân tộc Việt Nam. Trên cơ sở kiến thức khoa học, kinh nghiệm và sự tỉnh táo,
khôn ngoan, chúng ta cần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình hội
nhập, phát triển. Bởi lẽ, nền văn hóa dân tộc sẽ đóng vai trò định hướng và điều tiết để
hội nhập và phát triển bền vững, hội nhập để phát triển nhưng vẫn giữ vững được độc lập,
tự chủ. Hợp tác kinh tế với nước ngoài mà không bị người ta lợi dụng, biến mình thành
kẻ đi vay nặng lãi, thành nơi cung cấp nguyên liệu và nhân công giá rẻ, thành nơi tiêu thụ
hàng hóa ế thừa và tiếp nhận chuyển giao những công nghệ lạc hậu, tiếp nhận lối sống
không lành mạnh với những ảnh hưởng văn hóa độc hại...
Vì sự phát triển bền vững, văn hóa phê phán lối sống thực dụng, chụp giật, chạy theo ham
muốn quá mức của "xã hội tiêu thụ", dẫn đến chỗ làm cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi
trường sinh thái. Như vậy, văn hóa đã góp phần quan trọng vào vấn đề bảo vệ môi trường
hội nhập quốc tế; giữ vững ổn định chính trị - xã hội; sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng
kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp
theo hướng hiện đại.
Như vậy, vấn đề xã hội và văn hoá đã được Đảng ta coi là nội dung quan trọng. Tư
tưởng nổi bật trong đường lối giải quyết các vấn đề xã hội và phát triển văn hoá của Đảng
là “Từ thực tiễn xây dựng đất nước mấy chục năm qua, chúng ta nhận thức ngày càng sâu
sắc rằng: xã hội, văn hoá là những lĩnh vực thể hiện rõ nhất bản chất của chế độ xã hội
chủ nghĩa”. Đại hội đã thể hiện và khẳng định quyết tâm “Trong những năm tới, cần đưa
việc giải quyết các vấn đề xã hội và phát triển văn hoá lên nhanh hơn nữa, tương xứng
với nhịp độ phát triển kinh tế”(Báo cáo trên). Những tư tưởng, quan điểm về xã hội và
văn hoá nêu trên định hướng cho đường lối tiếp tục xây dựng, phát triển về xã hội và văn
hoá của Đại hội X. Tiếp tục xây dựng trên lĩnh vực này vừa có tính chiến lược vừa có ý
nghĩa điều kiện bảo đảm tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa và bảo đảm cho sự phát
triển của đất nước theo hướng bền vững.
Đại hội đã chỉ rõ các quan điểm về các lĩnh vực cụ thể hơn trong phát triển văn hoá xã hội.
1. Trong lĩnh vực xã hội: Đại hội X chỉ rõ các tư tưởng chỉ đạo chủ yếu:
- Đảng ta chủ trương: “Kết hợp chặt chẽ và hợp lý các mục tiêu kinh tế và mục tiêu
xã hội trong phạm vi cả nước, ở từng lĩnh vực, địa phương. Thực hiện tiến bộ và công
bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; Thực hiện tốt các chính
sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn quyền lợi với nghĩa vụ, cống hiến với hưởng
thụ, tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển kinh tế xã hội
Cái mới ở đây là Đảng ta đã đặt vấn đề giải quyết tốt mối quan hệ giữa mục tiêu kinh
tế và mục tiêu xã hội một cách toàn diện. Đây là cơ sở để nâng cao tầm nhìn chung, có hệ
thống nhằm giải quyết mối quan hệ kinh tế và xã hội ở cả phương diện vĩ mô, cả phương
diện vi mô, cụ thể, gắn với từng ngành, từng địa phương. Mặt khác, thực hiện tiến bộ và
công bằng xã hội phải được tiến hành ngay trong từng bước đi, từng chính sách phát
triển, tạo sự phát triển đồng thời cả kinh tế và tiến bộ xã hội. Thực hiện các chính sách xã
hội phải dựa trên cơ sở của sự phát triển kinh tế, tránh nôn nóng, chủ quan, duy ý chí,
tránh tư tưởng tách bạch giữa hai lĩnh vực này. Vấn đề quan trọng là phải gắn quyền lợi
và nghĩa vụ, cống hiến và hưởng thụ, quan tâm đến lợi ích chính đáng của con người.
2. Về văn hoá: Văn kiện Đại hội X chỉ rõ: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất
lượng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với
phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn hoá thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội, tạo ra chất lượng mới của cuộc sống, xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con
người Việt nam thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá”
Tư tưởng nổi bật ở đây là tập trung nâng cao chất lượng của việc xây dựng con người
và môi trường văn hoá để tạo nhân cách mới của con người Việt Nam trong thời kì đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.
Tiếp tục thực hiện chiến lược phát triển văn hoá từ hội nghị trung ương 5 (Khóa VIII)
Và kết luận của hội nghị trung ương 10 (Khoá IX), Đại hội X đã xác định cụ thể ba lĩnh
vực cần tập trung thực hiện:
- Xây dựng môi trường, lối sống và đời sống văn hoá của mọi người dân ở cơ sở, phát
huy tinh thần tự nguyện, tính tự quản và năng lực làm chủ của nhân dân. Thực hiện theo
hướng góp phần nâng cao tinh thần công dân trong thời kỳ mới, nâng cao ý thức về
quyền lợi, trách nhiệm, nghĩa vụ của mọi công dân đối với nhân dân, dân tộc và thời đại.
- Khuyến khích sáng tạo văn học nghệ thuật, tạo ra những tác phẩm công trình có giá
trị cao về tư tưởng và nghệ thuật. (Văn kiện Đại hội X, trang 213)
Văn học, nghệ thuật là lĩnh vực đặc trưng của văn hoá và có ý nghĩa tạo nên bộ mặt
văn hoá dân tộc. Để thực hiện được nhiệm vụ này, cần tạo ra môi trường thuận lợi về vật
chất, tinh thần, phát huy dân chủ, đảm bảo tự do cho mọi sự sáng tạo. Đồng thời nêu cao
trách nhiệm công dân của trí thức, văn nghệ sĩ trước nhân dân, dân tộc và thời đại.
- Tập trung xây dựng và nâng cấp đồng bộ hệ thống thiết chế văn hoá, chú trọng xây
dựng các công trình văn hoá tiêu biểu.
Hệ thống thiết chế văn hoá bao gồm toàn bộ bộ máy tổ chức, các cơ quan hoạt động
sáng tạo, biểu diện, nghiên cứu quản lí văn hoá, nghệ thuật; các đơn vị hành chính - sự
8
nghiệp, toàn bộ cơ sở vật chất kĩ thuật và đội ngũ nhân sự cùng với cơ chế hoạt động để
xây dựng vấn đề trong Chiến lược xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tục khẳng định chính sách đối ngoại đúng đắn của Đảng và chỉ rõ những định hướng,
nhiệm vụ lớn mà công tác đối ngoại của đất nước phải quán triệt và thực hiện tốt trong
thời gian tới trên các lĩnh vực cả ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế và ngoại giao
văn hoá.
Được sự phân công của Lãnh đạo Ban Tuyên giáo Trung ương, tôi xin phát biểu góp
phần cụ thể hoá một số nội dung về “Ngoại giao Văn hóa” của nước ta trong thời gian tới
như” về định hướng văn hoá, chính sách giao lưu văn hoá của Đảng ta đã được khẳng
định trong các văn kiện của Đảng; Chủ tịch Hồ Chí Minh – Nhà Ngoại giao Văn hóa vĩ
đại của cách mạng Việt Nam; một số nội dung cần được quan tâm trong thực hiện gnoại
giao văn hoá.
9
Nhân loại đang đi vào những năm đầu của thế kỷ 21, với những thách thức và những kỳ
vọng, dù là quốc gia phát triển hay đang phát triển, văn hóa luôn luôn là mục tiêu và động
lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. Sự phát triển của đường lối văn hóa văn nghệ theo
từng thời kỳ đều phù hợp với yêu cầu của cách mạng. Tất cả quan điểm đều nhất quán
theo nguyên lý chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, ngọn cờ độc lập dân tộc và
CNXH cũng như mục tiêu xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quan điểm chỉ đạo đường lối văn hóa văn nghệ luôn gắn chặt
với yếu tố dân tộc. Ngay từ năm 1943, Đảng ta đã ban hành "Đề cương văn hóa", thể hiện
rõ quan điểm phát triển văn hóa, văn nghệ của Đảng với phương châm: Dân tộc, khoa
học và đại chúng. Trong công cuộc đổi mới, đứng trước nhu cầu giao lưu văn hóa quốc
tế, Đảng ta đặc biệt quan tâm đến văn hóa từ hình thức đến nội dung, từ tư tưởng đến chất
lượng sáng tác, từ ý thức bảo tồn văn hóa dân tộc đến việc chắt lọc tiếp thu tinh hoa văn
hóa thế giới. Vì thế, các văn kiện Đại hội Đảng VI, VII, VIII, IX và X đều thể hiện quan
điểm nhất quán của Đảng trong nhìn nhận, đánh giá, chỉ đạo phát triển văn hóa. Văn kiện
Đại hội Đảng lần thứ VII (1991) khẳng định: “Tiếp tục bảo tồn và phát triển sự nghiệp
văn hóa, bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp các dân tộc, tiếp thu tinh hoa
ta có vị trí địa lý thuận lợi cho việc giao lưu văn hoá. Việc tiếp nhận văn hoá ở nước ta
diễn ra xuyên suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, ngày cả trong
các thời kỳ chịu sự đô hộ của các triều đại phong kiến phương thức cưỡng chế, áp đặt, âm
mưu đồng hoá hay tiếp thu tự nguyện. Nhưng dù theo cách nào, thì bản sắc dân tộc là cơ
sở quan trong, nguồn sức mạnh, điểm tựa quý báu để Việt Nam đến với thế giới, hoà
đồng, thiếp thu, tiếp nhận mà không mất đi bản sắc văn hoá dân tộc.
Hình thành trên nền của văn hóa bản địa Nam Á và Đông Nam Á, trải qua hàng ngàn
năm giao lưu với văn hóa khu vực, văn hoá Việt Nam dù tiếp thu với nhiều nền văn hoá
khác, nhưng vẫn mang bản sắc riêng thống nhất trong đa dạng của 54 dân tộc, với phổ hệ
xã hội là gia đình, làng xã và đất nước; với hoàn cảnh thường xuyên phải chống giặc
ngoại xâm; với tinh thần đoàn kết, gắn bó cộng đồng, trọng tình, ứng xử mềm dẻo, khoan
dung hòa hiếu, hướng tới sự hài hòa…Tất cả là nét tâm lý chủ đạo và đồng thời cũng là
bản sắc văn hóa Việt Nam. Nghị quyết TW5 (khóa VIII) khẳng định “Bản sắc dân tộc
bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam
được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là
lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự lực tự cường của dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức
cộng đồng gắn kết cá nhân, gia đình, làng xã, Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung trọng
11
nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sang tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính
giản dị trong lối sống”
Bản sắc văn hóa Việt Nam là nguồn lực và thế mạnh của đất nước có cội nguồn từ nền
văn hóa nông nghiệp lúa nước, được tôi luyện vững bền trong cả quá trình lịch sử lâu dài,
không bị văn hoá phương Bắc đồng hoá, đủ sức tiếp biến thành công văn hóa phương
Tây và sẵn sàng hội nhập văn hóa trong khu vực và thế giới trong thời đại ngày nay.
Động lực để Việt Nam thực hiện giao lưu văn hoá mà không làm mất đi bản sắc văn hoá
dân tộc chính là lòng yêu nước, ý chí tự tôn dân tộc cùng với khát vọng hòa bình, mong
muốn tiến kịp văn minh nhân loại, sự bao dung, hoà đồng, mềm dẻo, linh hoạt...Sự từng
trải của dân tộc qua xung đột và giao lưu là thế mạnh nổi trội nhất của Việt Nam. Nói
ngoại phát huy tốt nhất sức mạnh dân tộc và kết hợp hiệu quả với sức mạnh thời đại. Sự
trân trọng các giá trị văn hoá trong công tác ngoại giao trở thành nhịp cầu nối để vượt qua
những khác biệt, đưa các dân tộc xích lại gần nhau, cùng giải quyết những vấn đề chung
của mỗi quốc gia, dân tộc và chung tay giải quyết các vấn đề toàn cầu.
12
Đối với nền Ngoại giao cách mạng nước nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh hông chỉ là người
thầy, người sáng lập, mà chính Người còn là một nhà ngoại giao văn hoá vĩ đại của cách
mạng Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ vĩ đại, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá
thế giới đã có nhiều đóng góp toàn diện vừa sâu sắc trên lĩnh vực văn hoá và cũng là vị
lãnh tụ sớm đề cập đến khái niệm văn hoá, Người đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục
đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức,
pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng
ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó
tức là văn học. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện
của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi
của sự sinh tồn”
Trong cuộc đời hoạt động cách mạng ở trong nước và ngoài nước, Người đã vận dụng
văn hóa trong hoạt động ngoại giao một cách khéo léo, linh hoạt và mềm dẻo. Di sản lớn
nhất trong đường lối ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là sự gắn bó giữa tinh
thần yêu nước với đặc điểm văn hóa dân tộc; giữa kinh nghiệm hoạt động ngoại giao của
cha ông với kinh nghiệm ngoại giao của thế giới. Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc vai trò
của văn hoá đối với sự nghiệp cách mạng nói chung và đối với công tác ngoại giao Việt
Nam nói riêng. Người đã kết hợp được một cách chặt chẽ và biện chứng giữa văn hoá với
cách mạng. Văn hoá theo Người phải vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp cách
mạng. Vì vậy, khi nói về Đảng ta, Người khẳng định: “Đảng ta là đạo đức, là văn minhLà thống nhất, độc lập, là hoà bình, ấm no”.
Là người sáng lập nền ngoại giao Việt Nam hiện đại (28/8/1945), người thừa hưởng
chính sách khoan dung, hòa hiếu của ông cha trong hoạt động ngoại giao, vận dụng một
Chí Minh.
Về một số nội dung cần đẩy mạnh của ngoại giao văn hoá trong thời gian tới:
- Các cơ quan ngoại giao trong và ngoài nước, các cán bộ làm công tác ngoại giao, các
lực lượng làm công tác thông tin đối ngoại và mọi cán bộ, đảng viên, các tổ chức, đoàn
thể chính trị, tổ chức chính trị-xã hội và mỗi công dân Việt Nam cần tận dụng mọi cơ hội,
tăng cường giới thiệu với bạn bè quốc tế về đường lối xây dựng văn hoá dân tộc của
Đảng hiện nay: đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời
sống văn hóa lành mạnh trong xã hội, trước hết là trong các tổ chức Đảng, Nhà nước, Mặt
trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và trong từng cá nhân, gia đình, thôn xóm, đơn vị, tổ
chức cơ sở. Những nét mới trong chuẩn mực văn hoá và trong nhân cách con người Việt
Nam thời kỳ CNH–HĐH. Gắn chặt nhiệm vụ xây dựng văn hoá với nhiệm vụ xây dựng,
chỉnh đốn Đảng thông qua cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ
Chí Minh”. Cụ thể hoá các chuẩn mực đạo đức, lối sống cho phù hợp với từng đối tượng
cụ thể. Nâng cao chất lượng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và cải cách hành chính,
chống quan liêu, tham nhũng.
Giới thiệu với bạn bè quốc tế về phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam theo 5 đức
tính:
Đức tính thứ nhất: "Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, đoàn
kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ
và tiến bộ xã hội".
Đức tính thứ hai: "Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung".
Đức tính thứ ba: "Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân
nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng; có ý thức bảo vệ và cải
thiện môi trường sinh thái".
Đức tính thứ tư: "Lao động chăm chỉ vì lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo".
Đức tính thứ năm: "Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết trình độ chuyên môn,
trình độ thẩm mỹ và thể lực".
Năm đức tính của con người Việt Nam đã được Đảng ta xây dựng và xác định có thể coi
đó là "cương lĩnh đạo đức công dân", trong đó các yếu tố quan trọng là yêu nước, tuân
- Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền và văn hoá đối ngoại, tăng cường sự hiểu biết
lẫn nhau, sự hợp tác và tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước,
góp phần làm cho bạn bè thế giới hiểu rõ hơn về công cuộc Đổi mới, về đất nước và con
người Việt Nam trên con đường hội nhập và phát triển.
- Phối hợp chặt chẽ ngoại giao Nhà nước với hoạt động đối ngoại của Đảng, của Quốc
hội vµ ngoại giao nhân dân; giữa đối ngoại với quốc phòng-an ninh, tư tưởng; giữa đối
thoại trung ương với đối thoại địa phương tạo thành sức mạnh tổng hợp nhằm thực hiện
tốt nhiệm vụ đối ngoại chung của đất nước.
- Tổ chức những sự kiện văn hóa trọng điểm ở các nước nhân chuyến thăm của lãnh đạo
cấp cao của Đảng và Nhà nước; Khuyến khích các hoạt động của các địa phương, các
ngành trong việc quảng bá hình ảnh Việt Nam thông qua báo chí, truyền hình, internet…
- Xây dựng và hoàn thiện cơ chế tổ chức bộ máy hoạt động ngoại giao văn hóa, các cơ
quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài; chú trọng đào tạo đội ngũ Tùy viên văn hóa; tiến
hành chọn các Đại sứ văn hóa, nghệ thuật với mục đích quảng bá văn hóa Việt Nam.
- Mở rộng, khuyến khích xuất khẩu sách, báo, văn hoá phẩm; nâng công suất và thời
lượng phát thanh, truyền hình ra nước ngoài; phát triển và nâng cao chất lượng các hoạt
động thông tin tuyên truyền đối ngoại.
- Xúc tiến xã hội hóa các hoạt động văn hóa, nghệ thuật; huy động các nguồn lực và sức
sáng tạo trong xã hội để đầu tư xây dựng các công trình và thiết chế văn hóa, tổ chức các
15
hoạt động văn hóa; khuyến khích các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, đoàn thể tham gia
hoạt động văn hóa, nghệ thuật, quản lý và bảo vệ di tích ở trong nước và ngoài nước.
- Phân công trách nhiệm của các chủ thể trong tiến hành hoạt động ngoại giao văn hoá
đối với các bộ, ngành như: Tuyên giáo; Ngoại giao; Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Tài
chính…
- Đề xuất với Bộ Tài chính tiếp tục xây dựng, hoàn thiện cơ chế tài chính cho các hoạt
động văn hóa đối ngoại theo hướng vừa tăng thêm nguồn tài chính, vừa hoàn thiện cơ chế
và định mức chi tiêu hợp lý cho các hoạt động văn hóa đối ngoại ở trong nước và ngoài
Để cụ thể chủ trương đó, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương phát triển giáo dục một
cách tổng thể và toàn diện, bắt đầu từ chủ trương phát triển giáo dục mầm non, thực hiện
xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở trên phạm vi cả nước, tạo
môi trường thuận lơi để cho mọi người học tập và học tập suốtđời. Điều hành hợp lý cơ
16
cấu bậc học, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng trong hệ thống Giáo dục và đào tạo, quan
tâm đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuât lành nghề, hướng vào mục tiêu phát triển kinh tế,
thực hiện tốt chính sách giáo dục gắn với phát triển kinh tế xã hội.
Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta lại càng phải quan tâm hơn nũa đến sự nghiệp Giáo dục
và đào tạo nhằm nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ và nhân dân lao động để họ tham
gia hội nhập mà vẫn giữ vững truyền thống văn hoá dân tộc, đồng thời tiếp thu tinh hoa
văn hoá nhân loại, làm chủ khoa học tiên tiến.
I. Tính tất yếu khách quan và sự lãnh đạo của Đảng đối với GD-ĐT
1. Vị trí, vai trò của GD-ĐT
Hiện nay, cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển ngày càng nhanh. Kinh tế tri
thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất. Trong bối
cảnh đó, giáo dục đã trở thành nhân tố quyết định đối với sự phát triển kinh tế xã hội. Các
nước trên thế giới kể cả những nước đang phát triển đều coi giáo dục là nhân tố hàng đầu
quyết định sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi quốc gia.
Đảng và Nhà nước ta đã đặt giáo dục ở vị trí cao. Nghị quyết Trung ương 2 khoá IIX đã
xác định phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng động lực thúc
đẩy phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước.
Đánh giá thực trạng giáo dục đào tạo sau 20 năm đổi mới, Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ X đã khẳng định sự nghiệp giáo dục đào tạo nước ta tiếp tục phát triển và được đầu tư
nhiều hơn. Cơ sở vật chất được tăng cường, quy mô đào tạo mở rộng, nhất là bậc trung
học và dạy nghề. Trình độ dân trí được năng cao. Điều đó được thể hiện :
Phổ cập giáo dục tiểu học tiếp tục được củng cố, phổ cập giáo dục bậc trung học cơ sở
thông. Đào tạo nghề còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng.
Việc xã hội hoá giáo dục được thực hiện chậm, thiếu đồng bộ. Công tác giáo dục đào tạo
ở vùng sâu vùng xa còn nhiều khó khăn, chất lượng thấp, chưa quan tâm đúng mức phát
triển giáo dục đào tạo ở đồng bằng sông Cửu Long, để giáo dục và đào tạo ở vùng này tụt
hậu dài so với các vùng khác trong cả nước.
Công tác quản lý nhà nước về giáo dục đào tạo chậm đổi mới và còn nhiều bất cập. Công
tác thanh tra giáo dục còn yếu kém. Những hiện tượng tiêu cực như bệnh thành tích, thiếu
trung thực trong đánh giá kết quả giáo dục trong học tập, tuyển sinh, thi cử cấp bằng và
tình trạng dạy thêm, học thêm tràn lan, kéo dài chậm được khắc phục.
2. Sự lãnh đạo của Đảng đối với giáo dục
Giáo dục và đào tạo là một lĩnh vực rất quan trọng của đời sống xã hội, nó liên quan đến
nhiều lĩnh vực khác, cho nên Đảng ta rất chú trọng phát triển giáo dục và đào tạo. Những
năm qua quan điểm của Đảng về đường lối phát triển giáo dục và đào tạo chủ yếu tập
trung ở nghị quyết trung ương 2 khoá IIX ( nghị quyết chuyên đề về giáo dục và đào tạo);
kết luận của hội nghị lần 6 Ban chấp hành trung ương Đảng khóa 9; nghị quyết hội nghị
lần thứ 9 Ban chấp hành trung ườn Đảng khoá IX; Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ IX, X.
Qua các văn kiện này thể hiện một số quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục đào tạo như
sau:
- Giáo dục và đào tạo nhằm xây dựng con người có đầy đủ phẩm chất để xây dựng và bảo
vệ đất nước.
- Giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa trong giáo dục và đào tạo, nhát là chính sách công
bằng xã hội.
- Thực sự coi giáo dục là quốc sách hàng đầu cùng với khoa học và công nghệ là yếu tố
quyết định góp phần tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội.
- Giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân; mọi người, mọi cấp chăm lo
cho giáo dục và đào tạo.
- Giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, với khoa học công
nghệ và củng cố quốc phòng an ninh.
18
quyền cao nhất là quyền làm chủ. Muốn làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội, làm chủ bản
thân thì điểm đầu tiên là phải có tri thức. Muốn có tri thức thì phải học, nhưng không phải
ai cũng có điều kiện để học, vì vậy cần có Đảng lãnh đạo để đảm bảo thực hiện quyền đó.
Nhận thức rõ điều đó Đảng đã có nghị quyết trung ương 2 khoá IIX. Nghị quyết chuyên
đề về giáo dục đào tạo khẳng định: Giáo dục đào tạo cùng với khoa học công nghệ là
quốc sách hàng đầu. Là động lực và điều kiện để thực hiện những mục tiêu kinh tế xã hội.
Là chìa khóa để mở cửa để mở cửa tiến vào tương lai. Là một trong những động lực quan
trọng để thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, là điều kiện để phát
huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và
bền vững.
Phải có đầu tư cho giáo dục đào tạo là đầu tư phát triển phải tạo điều kiện cho giáo dục đi
trước để phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội.
19
Giáo dục và đào tạo là một vấn đề hết sức quan trọng trong đời sống chính trị của mỗi
nước, là biểu hiện trình độ phát triển của mỗi nước. Vì vậy, ngay từ khi giành được chính
quyền, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ "một dân tộc dốt là một dân tộc yếu". Do đó xác định Giáo
dục và đào tạo là một nhiệm vụ quan trọng của cách mạng Việt Nam.
Bắt đầu từ Nghị quyết của Đại hội lần thứ IV của Đảng (1979) đã ra quyết định số 14NQTƯ về cải cách giáo dục với tư tưởng: Xem giáo dục là bộ phận quan trong của cuộc
cách mạng tư tưởng; thực thi nhiệm vụ chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ từ nhỏ đến lúc
trưởng thành; thực hiện tốt nguyên lý giáo dục học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với
lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội.
Tư tưởng chỉ đạo trên được phát triển bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với yêu cầu thực
tế qua các kỳ Đại hội VII, VIII, IX, X của Đảng cộng sản Việt Nam.
Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo đã được Đại hội VII xem là quốc
sách hàng đầu. Đó là một động lực thúc đẩy và là một điều kiện cơ bản bảo đảm việc
thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ đất nước. Phải coi đầu tư
cho giáo dục là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển, tạo điều kiện cho
giáo dục đi trước và phục vụ đắc lực sự phát triển kinh tế - xã hội.
- Khuyến khích đi học nước ngoài bằng con đường tự túc, hướng vào những ngành mà
đất nước đang cần, theo quy định của Nhà nước.
Thực hiện Nghị quyết này, Chính phủ đã dành 100 tỉ đồng đầu tư cho việc đào tạo ở nước
ngoài vào năm 2000 (tương đương với 7,12 triệu USD tại thời điểm đó). Vấn đề nhân tài
ngày càng trở nên bức thiết, đến Đại hội IX, Trung ương Đảng một lần nữa nhấn mạnh
rằng: "Có chính sách hỗ trợ đặc biệt những học sinh có năng khiếu, hoàn cảnh sống khó
khăn được theo học ở các bậc học cao. Có quy hoạch và chính sách tuyển chọn người
giỏi, đặc biệt chú ý đến con em công nhân và nông dân để đào tạo ở các bậc đại học và
sau đại học. Tăng ngân sách nhà nước cho việc cử người đi học ở các nước có nền khoa
học và công nghệ tiên tiến. Khuyến khích việc du học tự túc"
Đại hội Đảng lần thứ IX nêu rõ: "Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi
mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo
dục; thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá" . Nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo
dục.
Tạo chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục, trước hết nâng cao chất lượng đội ngũ
nhà giáo, thực hiện giáo dục toàn diện, đặc biệt chú trọng giáo dục tư tưởng - chính trị,
nhân cách, đạo đức, lối sống cho người học.
Tăng cường phối hợp nhà trường và gia đình, phát huy vai trò giáo dục gia đình.
Đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại
hóa, tăng cường giáo dục tư duy sáng tạo, năng lực tự học, tự tu dưỡng, tự tạo việc làm.
Tăng cường giáo dục hướng nghiệp, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực của đất nước và
các địa phương, vùng, miền. Nâng cao chất lượng giảng dạy các môn khoa học xã hội,
nhân văn, nhất là các môn học Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Một số trường đại
học phải sớm đạt chất lượng ở trình độ quốc tế.Hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách,
phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng nhân tài, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện
đại hóa. Sớm xây dựng chính sách sử dụng và tôn vinh các nhà giáo, cán bộ quản lý giỏi,
có công lao lớn trong sự nghiệp giáo dục, đào tạo. Nâng cao chất lượng đào tạo sau đại
học, chấn chỉnh việc phong chức danh, học vị, cấp văn bằng. Phát triển quy mô giáo dục
cả đại trà và mũi nhọn, trên cơ sở bảo đảm chất lượng và điều chỉnh cơ cấu đào tạo, gắn
đào tạo với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đào tạo với sử dụng.
môi trường thuận lơi dể cho mội người học tập và học tập suốtđời. Điều hành hợp lý cơ
cấu bậc học, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng trong hệ thống Giáo dục và đào tạo, quan
tâm đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuât lành nghề, hướng vào mục tiêu phát triển kinh tế,
thực hiện tốt chính sách giáo dục gắn với phát triển kinh tế xã hội.
Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta lại càng phải quan tâm hơn nũa đến sự nghiệp Giáo dục
và đào tạo nhằm nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ và nhân dân lao động để họ tham
gia hội nhập mà vẫn giữ vững truyền thống văn hoá dân tộc, đồng thời tiếp thu tinh hoa
văn hoá nhân loại, làm chủ khoa học tiên tiến. Đại hội Đảng lần thứ X tiếp tục khẳng
định: "Giỏo dục và đào tạo cựng với khoa học và cụng nghệ là quốc sách hàng đầu, là
nền tảng và động lực thúc đẩy cụng nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước
NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ LẦN THỨ NĂM BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG
(KHÓA VIII)
VỀ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC
NỀN
VĂN
HOÁ
VIỆT
NAM
Số 03/NQ-TW ngày 16/7/1998
Văn hoá Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường
dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp
thụ tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình. Văn hoá
Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ
Mọi người Việt Nam phấn đấu vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh đều
tham gia sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hoá nước nhà. Công nhân, nông dân,
trí thức là nền tảng khối đại đoàn kết toàn dân, cũng là nền tảng của sự nghiệp xây dựng
và phát triển văn hoá dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước. Đội ngũ trí thức
gắn bó với nhân dân giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển văn
hoá.
5. Văn hoá là một mặt trân; xây dựng, phát triển văn hoá là một sự nghiệp cách mạng lâu
dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng
Bảo tồn và phát huy những di sản văn hoá tốt đẹp của dân tộc, sáng tạo nên những giá trị
văn hoá mới, xã hội chủ nghĩa, làm cho những giá trị ấy thấm sâu vào cuộc sống của toàn
xã hội và mỗi con người, trở thành tâm lý và tập quán tiến bộ, văn minh là một quá trình
cách mạng đầy khó khăn, phức tạp, đòi hỏi nhiều thời gian. Trong công cuộc đó, "xây" đi
đôi với "chống", lấy "xây" làm chính. Cùng với việc giữ gìn và phát triển những di sản
văn hoá quí báu của dân tộc, tiếp thụ những tinh hoa văn hoá thế giới, sáng tạo, vun đắp
nên những giá trị mới, phải tiến hành kiên trì cuộc đấu tranh bài trừ các hủ tục, các thói
hư tật xấu, nâng cao tính chiến đấu, chống mọi mưu toan lợi dụng văn hoá để thực hiện
"diễn biến hoà bình".
II. NHỮNG NHIỆM VỤ CỤ THỂ
1. Xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới với những đức tính sau:
- Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội, có chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, đoàn kết với nhân dân
thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
- Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung.
23
- Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng
kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng; có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường
sinh thái.
- Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo, năng suất cao vì
công dân, lòng yếu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, đạo đức, lối sống, nếp sống văn hoá, lịch
sử dân tộc và bản sắc dân tộc, ý chí vươn lên vì tương lai của mỗi người và tiền đồ của
đất nước, bồi dưỡng ý thức và năng lực phát huy giá trị văn hoá dân tộc, tiếp thụ tinh hoa
văn hoá nhân loại.
..................
6. Bảo tồn, phát huy và phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số
"Coi trọng và bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống và xây dựng, phát triển những
giá trị mới về văn hoá, văn học, nghệ thuật của các dân tộc thiểu số.
24
Bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, chữ viết của các dân tộc. Đi đôi với việc sử dụng ngôn
ngữ, chữ viết phổ thông, khuyến khích thế hệ trẻ thuộc đồng bào các dân tộc thiểu số học
tập, hiểu biết và sử dụng thành thạo, tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình. Phát hiện, bồi
dưỡng, tổ chức lực lượng sáng tác, sưu tầm, nghiên cứu văn hoá, văn học nghệ thuật là
người dân tộc thiểu số.
Ưu tiên tài trợ cho các tác giả dân tộc thiểu số có tài năng sáng tạo các tác phẩm về đề tài
dân tộc và miền núi. Đào tạo đội ngũ trí thức thuộc đồng bào các dân tộc thiểu số và tạo
điều kiện để trí thức, cán bộ dân tộc thiểu số trở về phục vụ quê hương. Phát huy tài năng
các nghệ nhân.
Đầu tư và tổ chức điều tra, sưu tầm, nghiên cứu, phổ biến các giá trị văn hoá, văn học,
nghệ thuật các dân tộc thiểu số.
Xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, mở rộng mạng lưới thông tin ở vùng dân
tộc thiểu số.
Thực hiện tốt chính sách phát triển kinh tế xã hội ở vùng dân tộc thiểu số, sớm giảm tỉ lệ
hộ đói nghèo, ổn định và cải thiện đời sống, xoá mù chữ, nâng cao dân trí, xoá bỏ hủ tục.
.................................
III. NHỮNG NHIỆM VỤ CẤP BÁCH ĐẾN NĂM 2000
Từ nay đến năm 2000, đặt trọng tâm vào nhiệm vụ xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống
và đời sống văn hoá lành mạnh trong xã hội, trước hết trong các tổ chức Đảng và Nhà
Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc khi trở thành thành viên Tổ chức Thương mại
thế giới
25