MỤC LỤC
MỤC LỤC............................................................................................... 1
LỜI MỞ ĐẦU........................................................................................2
CƠ SỞ LÝ LUẬN...................................................................................3
I. Sự cần thiết trợ giúp của Chính phủ đối với phát triển nông nghiệp,
nông thôn của các nước đang phát triển ..................................................3
1. Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp......................................................3
2. Vai trò của nông nghiệp với phát triển kinh tế......................................3
3. Sự cần thiết trợ giúp của Chính phủ đến phát triển nông nghiệp và
nông thôn...................................................................................................4
4. Kinh nghiệm của các nước đi trước......................................................4
4.1. Kinh nghiệm chung ở các nước đang phát triển............................4
4.2 Kinh nghiệm của một số nước cụ thể ...........................................6
II. Các chính sách kinh tế tác động đến phát triển kinh nông nghiệp và
nông thôn....................................................................................................11
1. Chính sách sử dụng đất nông nghiệp..................................................11
2. Chính sách hỗ trợ giá trong nước........................................................12
3. Chính sách bảo hộ nông nghiệp..........................................................14
3.1 Bảo hộ bằng thuế quan................................................................15
3.2 Bảo hộ bằng biện pháp phi thuế quan..........................................15
Tác động của các chính sách đối với Việt Nam...................................16
I. Chính sách đổi mới nông nghiệp, nông thôn.......................................16
II. Một số chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn .....................17
1. Chính sách ruộng đất ..........................................................................17
2. Chính sách thuế sử dụng đất ..............................................................19
3. Chính sách đầu tư ...............................................................................20
4. Chính sách phát triển công nghiệp và ngành nghề nông thôn ............20
5. Chính sách giá ....................................................................................21
6. Tín dụng nông thôn và các dịch vụ tài chính .....................................26
Định hướng, kiến nghị của Việt Nam..................................................28
1
thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
2
CƠ SỞ LÝ LUẬN
I. Sự cần thiết trợ giúp của Chính phủ đối với phát triển nông nghiệp,
nông thôn của các nước đang phát triển
1. Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp
Nông nghệp là ngành có lịch sử phát triển lâu đời, các hoạt động nông
nghiệp đã có từ hàng nghìn năm nay kể từ khi con người bỏ nghề săn bắn và
hái lượm. Do lịch sử lâu đời này mà nền kinh tế nông nghiệp thường được nói
đến như nền kinh tế truyền thống.
Nông nghiệp là ngành tạo ra sản phẩm thiết yếu nhất cho con người.
Lương thực là sản phẩm chỉ có ngành nông nghiệp sản xuất ra. Con ngưới
không thể sống thiếu lương thực và hơn cả là không có sản phẩm nào thay thế
lương thực được. Do đó nước nào cũng phải sản xuất hoặc nhập khẩu lương
thực.
Hoạt động sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào điều kiện khách
quan. Nông nghiệp khác cơ bản với các ngành khác ở chỗ tư liệu sản xuất chủ
yếu là đất đai.
Ở các nước đang phát triển nông nghiệp tập trung nhiều lao động hơn
hẳn so với các ngành khác, trung bình thường chiếm từ 60%-80% lực lượng
lao động xã hội. Ở Việt Nam hiện nay tỷ lệ là 75%.
2. Vai trò của nông nghiệp với phát triển kinh tế.
Nông nghiệp giữ vai trò quan trong trong phát triển kinh tế, đặc biệt đối
với các nước đang phát triển.
Bởi vì ở các nước này đa số người dân sống dựa vào nghề nông
Trừ một số ít nước dựa vào nguồn tài nguyên phong phú để xuất khẩu,
đổi lấy lương thực, còn hầu hết các nước đang phát triển phải sản xuất lương
thực cho nhu cầu tiêu dùng của dân số nông thôn cũng như thành thị. Nông
nghiệp còn cung cấp các yếu tố đầu vào cho hoạt động kinh tế.
- Các chính sách tác động trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp, bao gồm:
• Chính sách về ruộng đất.
• Chính sách hỗ trợ đầu vào cho sản xuất, bao gồm các chính sách về
tín dụng, các chính sách tạo vốn, các chính sách hỗ trợ phân bón,
thuốc trừ sâu.
• Chính sách nghiên cứu, triển khai nông nghiệp nhằm giúp nông dân
nâng cao các kiến thức sản xuất.
• Các chính sách hỗ trợ đầu ra của sản xuất.
4
• Các chính sách đối với nông thôn, thủy lợi phí.
- Các chính sách tác động gián tiếp đến sản xuất nông nghiệp và kinh tế
nông thôn, bao gồm:
• Chính sách hỗ trợ, điều tiết sản xuất nông nghiệp, thông qua việc
thúc đẩy hay hạn chế xuất khẩu.
• Chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho kinh tế nông thôn.
• Chính sách trợ cấp lương thực và thực phẩm cho cho tiêu dùng (trợ
cấp tiêu dùng trong xã hội).
• Chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp – dịch vụ nông
thôn.
Bài học kinh nghiệm từ lý luận và thực tiễn các nước:
- Chính sách kinh tế của các chính phủ đối với nông nghiệp – nông thôn
thường thực hiện:
• Coi trọng phát triển sản xuất, tạo cơ sở đảm bảo an toàn lương thực
và những nhu yếu phẩm quan trọng nhất cho nông thôn và an toàn
xã hội.
• Trợ giúp nông dân nghèo ở nông thôn là tư tưởng chung nhất trong
chính sách đối với nông nghiệp – nông thôn.
- Cùng với khuyến khích phát triển sản xuất, chính sách phải hướng vào
tái tạo các nguồn lực đầu vào và bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo sự phát
triển nông nghiệp lâu bền.
Việt Nam đều bắt đầu từ nông thôn. Trải qua 3 năm cải cách ở Trung Quốc,
22 năm đổi mới, nghiên cứu về tam nông và xử lý vấn đề tam nông ở Trung
Quốc vừa có ý nghĩa khoa học, vừa mang tính thực tiến sâu sắc, góp phần gợi
mở những kinh nghiệm mà Việt Nam có thể tham khảo.
Trong quá trình thực hiện “bốn hiện đại hóa”, Trung Quốc bắt đầu cải
cách ở nông thôn trước bằng việc khoán sản lượng tới hộ. Do được làm chủ
ruộng đất, tự chủ làm ăn, tính tích cực sản xuất của người nông dân được phát
huy, sản xuất lương thực nhanh chóng tăng lên, đời sống nhân dân chưa từng
có sự cải thiện khá rõ nét.
Một số chính sách đã được triển khai ở Trung Quốc và mang lại kết quả
đáng kể:
- Bằng việc xóa bỏ thuế nông nghiệp, Chính phủ Trung Quốc đã chấm
dứt lịch sử nông dân làm ruộng mà phải nộp thuế. Sản lượng lương thực tăng
liên tục bốn năm liền 2007: 500 triệu tấn với việc xóa bỏ thuế nông nghiệp,
gồm cả thuế chăn nuôi, thuế đặc sản, mỗi năm giảm nhẹ gánh nặng đóng góp
cho nông dân 133,5 tỷ nhân dân tệ.
6
- Trung Quốc cũng toàn diện thực hiện giáo dục nghĩa vụ (9 năm) miến
phí: không phải nộp học phí , không phải mua sách giáo khoa 150 triệu học
sinh của những gia đình khó khăn được trợ cấp sinh hoạt phí toàn phần hoặc
một phần. Cơ bản giải quyết được nạn tráng niên bị mù chữ tại miền Tây.
- Thành lập được bước đầu hệ thống y tế công và hệ thống dịch vụ khám
chữa bệnh cơ bản khắp nông thôn. Cải tạo và xây dựng mới 188.000 trạm y tế
hương, trấn trang bị thêm thiết bị y tế cho 117.000 trạm y tế hương, trấn…
Điều kiện khám chữa bệnh ở nông thôn được cải thiện rõ rệt. Chế độ hợp tác
chữa bệnh kiểu mới ở nông thôn được xác lập, đã mở rộng tới 87% huyện với
730 triệu nông dân tham gia.
- Hệ thống dịch vụ văn hóa công nông thôn bước đầu hoàn thiện.
- Hỗ trợ việc học nghề cho các tầng lớp thu nhập thấp trong toàn xã hội
66,6 tỷ nhân dân tệ trong 5 năm tài chính của chính quyền trung ương, trong
giai cấp địa chủ. Cuối những năm 40, chính phủ Hàn Quốc ban hành Luật cải
cách ruộng đất với hai điểm cơ bản: giới hạn quyền sở hữu ruộng đất không
quá 3 ha và cấm hình thức thuê tá điền để canh tác, tuy nhiên cuộc cải cách
này chỉ được thực hiện nửa vời. Cùng thời gian đó, một số chính sách có lợi
cho sự phát triển nông thôn của chính quyền Păc-chung-hi được ban hành
:Ngân hàng Nhà Nước cùng với các hợp tác xã tín dụng đã phát triển vốn đầu
tư , góp phần thúc đẩy tỉ lệ tăng trưởng từ 1,6% thời kì 1957-1960 lên 8,8%
thời kì 1962-1965. Đời sống của hàng chục triệu nhân dân được cải thiện, tạo
ra thị trường nội địa rộng lớn cho việc thực hiện chiến lược công nghiệp hóa
thay thế nhập khẩu . Nhưng từ cuối những năm 60 Hàn Quốc quyết định
chuyển sang áp dụng chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu. Chiến
lược này đã làm giảm thu nhập của các hộ nông dân và gây ra làn sóng phản
đối mạnh mẽ. Để trấn an tinh thần trong cả nước, chính quyền Hàn Quốc đã
đề ra chương trình phát triển nông thôn với các chính sách để tăng số tiền cho
nông dân vay, mua ngũ cốc của nông dân với giá cao và bán lại với giá thấp,
thay giống lúa cũ bằng giống lúa mới năng suất cao, khuyến khích xây dựng
cộng đồng mới ở nông thôn bằng việc thành lập các hợp tác xã sản xuất và
các đội lao động để sửa chữa cầu cống, đường xá và nâng cấp nhà ở. Thời
gian đầu, chương trình này đã đem lại một kết quả tích cực. Tuy nhiên sau đó
lại bộc lộ những khuyết tật đáng kể. Chính sách trợ giá quá mức cho nông sản
đặc biệt là việc thu mua lúa gạo của nông dân đắt gấp đôi giá thị trường thế
giới, đã làm cho Ngân sách Nhà Nước thiếu hụt ngày càng lớn. Việc thay thế
giống lúa mới tuy đạt được sản lượng cao hơn nhưng nông dân lại phải vay nợ
để mua phân bón hóa học và thuốc trừ sâu. Còn việc thành lập các hợp tác xã
và các hộ lao động phần nhiều không dựa vào cơ sở tự nguyện của người dân
mà do sự thúc ép của chính quyền các cấp để chạy theo các chỉ tiêu của
chương trình xây dựng “cộng đồng mới” ở nông thôn. Như vậy, Nhà nước
Hàn Quốc từ chỗ là một nhân tố góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng của nền
kinh tế quốc dân trong một thời gian đã biến thành” vật hy sinh” của chiến
lược công nghiệp hóa hướng ra xuất khẩu. Tất cả các nhân tố nói trên đã làm
coi trọng phát triển nông nghiệp nông thôn để đảm bảo cân đối hợp lý trong
toàn bộ chiến lược phát triển kinh tế xã hội.
c, Đài loan:
Trong số các nước Nics , Đài Loan được đánh giá là nước có mô hình
thành công nhất về việc kết hợp chặt chẽ giữa phát triển công nghiệp/ đô thị
với nông nghiệp/ nông thôn. Đài Loan không có các điều kiện tự nhiên thuận
lợi, sau cuộc chiến tranh Trung- Nhật 1985 Đài Loan trở thành thuộc địa của
9
Nhật và sau này khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Nhật Bản rời khỏi
Đài Loan, chính quyền Tưởng Giới Thạch đứng lên nắm quyền cai trị ở đây.
Với viện trợ kinh tế, tài chính và bảo hộ quân sự ở Mỹ, chính quyền Đài Loan
đã cố gắng tìm ra các chính sách phát triển kinh tế xã hội phù hợp. Kết quả
chỉ trong vòng hơn 3 thập kỷ, Đài Loan từ một nước nông nghiệp kém phát
triển , nơi ngự trị của giai cấp địa chủ phát canh thu tô , đã trở thành một
trong 4 con rồng châu Á.
Từ 1952-1990 sản lượng nông nghiệp tăng 4,5 lần, sản lượng công
nghiệp tăng 50 lần. Tỷ trọng lao động nông nghiệp từ 56% tổng lao động xã
hội 1952 giảm xuống còn 12,95% năm 1990 nhưng tổng sản lượng nông
nghiệp lại tăng từ trên 700 triệu $ lên 12 tỷ $ riêng nông sản xuất khẩu đã tăng
từ 114 triệu $ lên trên 4tỷ $.
Để đạt được các thành tựu trên, Đài Loan đã sử dụng các giải pháp và
biện pháp sau:
- Một là: đưa lại ruộng đất cho nông dân, tạo điều kiện cho việc hình
thành các trang trại với quy mô nhỏ bằng cách : giảm tô cho tá điền từ 50%
xuống còn 37,5 % thu hoạch chủ yếu, bán chịu cho nông dân ruộng đất công
cộng, trưng mua số ruộng đất của địa chủ vượt quá giới hạn quy định ( 3ha
đối với ruộng nước, 6 ha đối với ruộng cạn) để bán lại cho nông dân theo
phương thức trả dân.
- Hai là: đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp và công nghiệp hóa nông
thôn. Việc đem lại ruộng đất cho người làm ruộng đã làm cho nông dân “
ruộng đất để truyền lại ruộng đất bằng cách chuyển quyền sử dụng đất cho
người khác, nhưng chủ ruộng đất vẫn giữ quyền sở hữu. Người ta gọi đó là
phương thức sản xuất ủy thác. Người dân này nhận ruộng đất ủy thác của
người khác để mở rộng quy mô sản xuất, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật,
tăng năng suất lao động, tăng thu nhập. Đến nay có khoảng ¾ số trang trại đã
áp dụng phương thức này.
II. Các chính sách kinh tế tác động đến phát triển kinh nông nghiệp và
nông thôn
1. Chính sách sử dụng đất nông nghiệp
Đất đai luôn là tài sản chủ yếu của nông dân, đặc biệt là người nghèo ở
nông thôn, nó là cơ sở cho các hoạt động kinh tế xã hội và sự vận hành của thị
trường. Các thể chế liên quan đến đất đai, chính sách đất đai luôn chịu tác
động của sự không hoàn hảo của thị trường
Nói đến chính sách đất đai trong nông nghiệp trước hết là nói đến quyền
sở hữu, quyền sử dụng đất đai cảu người nông dân, đó là yếu tố quan trọng
trong các chính sách đất đai và quyết định đến cai trò của các chính sách này:
Thứ nhất, việc đảm bảo quyền sở hữu, quyền sử dụng đất đai sẽ tăng
cường khuyến khích các hộ gia đình và cá nhân đầu tư cũng như thường
xuyên tạo cho họ khả năng tiếp cận tốt hơn với tín dụng.
11