Kiểm toán viên và yêu cầu đối với kiểm toán viên - Pdf 32

Lời mở đầu
Trong nền kinh tế thị trờng, hoạt động kiểm toán, đặc biệt là kiểm toán độc
lập, đã trở thành nhu cầu tất yếu đối với hoạt động kinh doanh và nâng cao chất l-
ợng quản lý của các doanh nghiệp. Kiểm toán là sự xác nhận tính khách quan, tính
chuẩn xác của thông tin; và quan trọng hơn là qua đó để hoàn thiện quá trình quản
lý, hoàn thiện quá trình tổ chức thông tin, phục vụ có hiệu quả cho các đối tợng sử
dụng thông tin kế toán.
Từ những năm đầu của thập kỷ 90, sự ra đời của các công ty kiểm toán của
Việt Nam, cùng với sự tham gia trong một số lĩnh vực của các công ty kiểm toán
hàng đầu thế giới, hoạt động kiểm toán ở Việt Nam đã đợc hình thành và bớc đầu
phát triển. Kiểm toán đã trở thành một nghề nghiệp, một lĩnh vực hoạt động
nghiệp vụ.
Cùng với sự phát triển của kiểm toán thì trách nhiệm của kiểm toán viên cũng
ngày càng đợc quan tâm hơn. Chính vì vậy mà nhóm em quyết định chọn đề tài
cho đề án môn học kiểm toán tài chính của mình là: Trách nhiệm pháp lý của
kiểm toán viên trong kiểm toán tài chính.
Bài viết của em gồm những nội dung chủ yếu sau đây:
Phần I: Kiểm toán viên và yêu cầu chung đối với kiểm toán viên.
Phần II: Trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên:
1. Trách nhiệm đối với khách hàng trực tiếp_ đơn vị đợc kiểm toán.
2. Trách nhiệm đối với những đối tợng quan tâm tới kết quả kiểm toán.
3. Trách nhiệm đối với đồng nghiệp.
4. Trách nhiệm đối với những vi phạm pháp luật của đơn vị đợc kiểm toán.
5. Trách nhiệm tuân thủ pháp luật và các chuẩn mực kiểm toán.
1
Nội dung
I. Kiểm toán viên và yêu cầu chung đối với kiểm toán viên:
1. Kiểm toán viên:
Kiểm toán viên là khái niệm chung chỉ những ngời làm công tác kiểm toán cụ
thể có trình độ nghiệp vụ tơng xứng với công việc đó.
Chủ thể tiến hành kiểm toán tài chính có thể là kiểm toán viên Nhà nớc, kiểm

phạm vi và mức độ phức tạp của nhiệm vụ kiểm toán đợc giao.
- Phải thờng xuyên học tập nắm vững sự phát triển, đổi mới về kế toán, kiểm
toán ở trong nớc cũng nh nớc ngoài và những quy định của pháp luật có liên quan.
- Phải có năng lực kiểm tra, đánh giá, đề xuất các kiến nghị và điều hành,
phối hợp trong khi nhận nhiệm vụ đợc giao.
- Phải chủ động sáng tạo, có khả năng thích ứng mọi nhiệm vụ đợc giao,
biết ứng xử phù hợp với sự đa dạng, phong phú và phức tạp của nhiệm vụ cũng nh
các đối tợng kiểm toán.
- Phải đợc trang bị đầy đủ năng lực để sử dụng thành thạo các phơng pháp
nghiệp vụ và phơng tiện hiện đại trong hoạt động kiểm toán.
* Thận trọng và bảo mật:
Kiểm toán viên phải thực hiện công việc đợc giao với sự thận trọng cần thiết
trong mọi giai đoạn của quá trình kiểm toán; đồng thời phải giữ đúng các quy định
về bảo mật theo quy định của pháp luật.
Để bảo đảm sự thận trọng và bảo mật nghề nghiệp, yêu cầu kiểm toán viên:
- Phải thực hiện các phơng pháp chuyên môn nghiệp vụ tơng ứng với mức độ
phức tạp của cuộc kiểm toán; phải thực hiện nhiệm vụ với trách nhiệm nghề
nghiệp cao; thận trọng trớc mọi tình huống, không vội vã đa ra những nhận xét
hoặc phán quyết khi cha nắm chắc và hiểu biết đầy đủ vấn đề cũng nh cha có bằng
chứng xác thực.
- Khi sử dụng các chuyên gia bên ngoài làm t vấn hoặc sử dụng các kết quả của
kiểm toán viên tiền nhiệm, kiểm toán viên nội bộ, các kết luận thanh tra. Kiểm
toán viên phải xem xét, kiểm tra, sử dụng có chọn lọc và phải chịu trách nhiệm về
3
tính xác thực của các số liệu, tài liệu và bằng chứng liên quan đến kết luận kiểm
toán.
- Có tác phong thận trọng, tỉ mỉ để công việc đạt chất lợng cao; trớc khi đa ra ý
kiến nhận xét, đánh giá phải kiểm tra, xem xét lại tính trung thực, hợp lệ, hợp pháp
của hồ sơ làm việc, tính đầy đủ, chính xác, thích hợp của các bằng chứng và kết
quả tính toán.

1.1.2. Trách nhiệm thiết kế chơng trình kiểm toán:
Kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải soạn thảo chơng trình kiểm toán,
trong đó xác định nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm toán cần
thiết để thực hiện kế hoạch kiểm toán.
Khi xây dựng chơng trình kiểm toán, kiểm toán viên phải xem xét các đánh
giá về rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát, cũng nh mức độ đảm bảo phải đạt đợc
thông qua thử nghiệm cơ bản. Trong đó kiểm toán viên cần phải xem xét:
+ Thời gian để thực hiện thử nghiệm kiểm soát và thử nghiệm cơ bản.
+ Sự phối hợp tử phía khách hàng, từ trợ lý kiểm toán trong nhóm và sự tham
gia của kiểm toán viên khác hoặc các chuyên gia.
Tuy nhiên, kiểm toán viên cần phải tuân theo chơng trình kiểm toán của hầu
hết các cuộc kiểm toán đợc thiết kế theo 3 phần sau đây: trắc nghiệm phân tích,
trắc nghiệm công việc và trắc nghiệm trực tiếp các số d.
Trong quá trình kiểm toán, kế hoạch kiểm toán và chơng trình kiểm toán sẽ đợc
sửa đổi, bổ sung nếu có những thay đổi về tình huống hoặc do những kết quả ngoài
dự đoán của các thủ tục kiểm toán. Nguyên nhân và nội dung thay đổi kế hoạch kiểm
toán và chơng trình kiểm toán phải đợc ghi rõ trong hồ sơ kiểm toán.

1.2. Trách nhiệm phát hiện ra các sai phạm trọng yếu trong báo cáo tài chính:
Kiểm toán viên và công ty kiểm toán không phải chịu trách nhiệm trực tiếp
trong việc ngăn ngừa các sai phạm ở đơn vị mà họ kiểm toán nhng thông qua công
5
việc kiểm toán, kiểm toán viên và công ty kiểm toán có trách nhiệm giúp đỡ đơn
vị đợc kiểm toán ngăn ngừa và xử lý các gian lận và sai sót.
Vì vậy mà khi lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên và công ty kiểm toán
phải đánh giá mức độ trọng yếu để ớc tính mức độ sai sót của các báo cáo tài
chính có thể chấp nhận đợc, xác định phạm vi của cuộc kiểm toán và đáng giá ảnh
hởng của những sai sót lên báo cáo tài chính để từ đó xác định bản chất, thời gian
và phạm vi thực hiện các khảo sát (thử nghiệm) kiểm toán.
Trờng hợp mà kiểm toán viên và công ty kiểm toán cho rằng các sai sót có

giá các bằng chứng về các báo cáo tài chính của một tổ chức kinh tế cụ thể nhằm
mục đích xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp của các báo cáo này với các
chuẩn mực đã đợc thiết lập.
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 500, bằng chứng kiểm toán, là tất cả
các tài liệu, thông tin mà các kiểm toán viên thu thập đợc liên quan đến cuộc kiểm
toán và dựa trên các thông tin này kiểm toán viên hình thành nên ý kiến của mình.
Bằng chứng kiểm toán có tính đa dạng. Vì vậy mà các loại bằng chứng kiểm
toán khác nhau sẽ ảnh hởng khác nhau đến việc hình thành nên ý kiến kết luận
kiểm toán. Do đó, kiểm toán viên cần nhận thức đầy đủ và cụ thể về các loại bằng
chứng để có thể đánh giá đánh giá bằng chứng kiểm toán một cách hữu hiệu khi
thực hành kiểm toán. Một khi kiểm toán viên không thu thập đầy đủ và đánh giá
đúng các bằng chứng kiểm toán thích hợp thì kiểm toán viên khó có thể đa ra một
nhận định xác đáng về đối tợng đợc kiểm toán. Nói cách khác, kết luận kiểm toán
khó có thể đúng với thực trạng đối tợng đợc kiểm toán nếu nh bằng chứng kiểm
toán thu đợc quá ít hay bằng chứng không phù hợp hoặc có độ tin cậy không cao.
Vì vậy mà chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 500 đã quy định:
Kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải thu thập đầy đủ các bằng chứng
kiểm toán thích hợp để làm cơ sở đa ra ý kiến của mính về báo cáo tài chính của
đơn vị đợc kiểm toán .
Kiểm toán tài chính có đối tợng là các báo cáo tài chính bao gồm các thông tin
tổng hợp liên quan đến toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh trong một niên độ
7
tài chính đợc kiểm toán. Với đối tợng rộng nh vậy, chi phí của kiểm tra và đánh
giá tất cả các bằng chứng sẽ trở nên rất cao. Do đó vấn đề đặt ra là phải xác định
số lợng bằng chứng thích hợp cần thu thập để có thể đánh giá một cách toàn diện
về đối tợng kiểm toán. Quyết định này của kiểm toán viên về thu thập bằng chứng
kiểm toán có thể chia thành 4 loại:
+ Quyết định về thể thức kiểm toán cần áp dụng.
+ Quyết định về quy mô mẫu cần chọn đối với một thể thức nhất định.
+ Quyết định về những khoản mục cá biệt cần chọn từ tổng thể.

thấp.
Yêu cầu đầy đủ là biểu thị số lợng bằng chứng kiểm toán mà kiểm toán viên
thu thập đợc và có thể dựa vào đó để đa ra những ý kiến của mình. Mặc dù không
có một thớc đo tuyệt đối nào để xem xét bằng chứng đã đầy đủ hay cha nhng số l-
ợng bằng chứng thu thập đợc có quyết định tính đầy đủ của chúng. Quy mô mẫu
mà kiểm toán viên lựa chon để kiểm toán rất quan trọng trong việc quyết định
tính đầy đủ của bằng chứng kiểm toán. Song, ngoài quy mô lựa chọn để kiểm toán,
tính đầy đủ của bằng chứng kiểm toán còn phụ thuộc vào mẫu đó có bao quát đợc
các yếu tố hoặc các tiêu thức có thể đại diện cho tổng thể hay không.
Khi đã thu thập đợc bằng chứng kiểm toán, kiểm toán viên phải xét đoán và
lựa chọn những bằng chứng nào nên sử dụng và đa ra làm bằng chứng cho những ý
kiến nhận xét của mình. Đồng thời trong quá trình thu thập bằng chứng kiểm toán,
kiểm toán viên phải sử dụng sự xét đoán nghề nghiệp để đánh giá rủi ro kiểm toán,
và thiết kế các thủ tục kiểm toán để đảm bảo rủi ro kiểm toán đợc giảm xuống
mức có thể chấp nhận đợc.
1.4. Trách nhiệm về tính bảo mật thông tin của khách hàng:
Trong tiến trình kiểm tra, các kiểm toán viên thu đợc một số lợng đáng kể
thông tin bảo mật, gồm cả lơng của các viên chức, quá trình định giá sản phẩm,
các kế hoạch quảng cáo, và số liệu chi phí sản phẩm. Nếu kiểm toán viên tiết lộ
những thông tin này cho những ngời ở bên ngoài hoặc cho các nhân viên của công
ty khách hàng là những ngời bị ngăn chặn không cho tiếp cận những thông tin đó,
mối quan hệ của họ với ban quản lý sẽ bị căng thẳng nghiêm trọng và trong trờng
9


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status