Luận văn tốt nghiệp đề tài các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể - Pdf 32

Đề tài: văn hóa vật thể và phi vật thể
Danh sách nhóm:

BÀI LÀM

I Khái niệm
1.1 Văn hóa vật thể
Văn hoá vật thể là một bộ phận của văn hoá nhân loại, thể hiện đời
sống tinh thần của con người dưới hình thức vật chất; là kết quả của hoạt
động sáng tạo, biến những vật và chất liệu trong thiên nhiên thành những đồ
vật có giá trị sử dụng và thẩm mĩ nhằm phục vụ cuộc sống con người.
Văn hóa vật thể quan tâm nhiều đến chất lượng và đặc điểm của đối
tượng thiên nhiên, đến hình dáng vật chất, khiến những vật thể và chất liệu
tự nhiên thông qua sáng tạo của con người biến thành những sản phẩm vật
chất giúp cho cuộc sống của con người.
Trong VHVT, người ta sử dụng nhiều kiểu phương tiện: tài nguyên
năng lượng, dụng cụ lao động, công nghệ sản xuất, cơ sở hạ tầng sinh sống
của con người, phương tiện giao thông, truyền thông, nhà cửa, công trình


xây dựng phục vụ nhu cầu ăn ở, làm việc và giải trí, các phương tiện tiêu
khiển, tiêu dùng, mối quan hệ kinh tế... Tóm lại, mọi loại giá trị vật chất đều
là kết quả lao động của con người.

1.2 Văn hóa phi vật thể
Di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hình thức thể
hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồ vật, đồ
tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng và các
nhóm và trong một số trường hợp là cá nhân công nhận là một phần di sản
văn hóa của họ. Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn
hóa phi vật thể được cộng đồng, các nhóm không ngừng tái tạo để thích nghi

Thúc đẩy mạnh mẽ việc giáo dục quần chúng và truyền bá văn hóa

bằng cách:
o

Hợp tác với các nước thành viên trong việc phát triển các hoạt động
giáo dục theo yêu cầu của từng nước;

o

Hợp tác giữa các quốc gia nhằm thực hiện từng bước lý tưởng bình
đẳng về giáo dục cho mọi người, không phân biệt chủng tộc, nam nữ
hoặc bất cứ sự khác biệt nào khác về kinh tế hay xã hội;

o

Đề xuất những phương pháp giáo dục thích hợp để luyện tập thiếu nhi
toàn thế giới về trách nhiệm của con người tự do;
-

o

Duy trì, tăng cường và truyền bá kiến thức bằng cách:

Bảo tồn và bảo vệ di sản thế giới về sách báo, tác phẩm nghệ thuật và
các công trình lịch sử hay khoa học, khuyến nghị với các nước hữu
quan về các Công ước quốc tế cần thiết;

o


Mỗi di sản văn hóa phi vật thể muốn có tên trong danh sách phải được
một hoặc nhiều quốc gia đề cử cho UNESCO trước khi được một ủy ban của
tổ chức này xem xét khả năng đưa vào danh sách.

II. Những di sản văn hóa vật thể và phi Vật
thể ở Việt Nam hiện nay


2.1 Di sản văn hóa vật thể
2.1.1 Quần thể di tích Cố đô Huế.
Cố đô Huế là kinh đô một thời của Việt Nam, nổi tiếng với một hệ
thống những đền, chùa, thành quách, lăng tẩm, kiến trúc nguy nga tráng lệ
gắn liền với cảnh quan thiên nhiên núi sông thơ mộng. Nằm ở bờ Bắc sông
Hương, tổng thể kiến trúc của cố đô Huế được xây dựng trên một mặt bằng
với diện tích hơn 500ha và được giới hạn bởi ba vòng thành theo thứ tự
ngoài lớn, trong nhỏ: Kinh Thành, Hoàng Thành và Tử Cấm Thành.Ba tòa
thành này được đặt lồng vào nhau, bố trí đăng đối trên một trục dọc xuyên
suốt từ mặt Nam ra mặt Bắc. Hệ thống thành quách ở đây là một mẫu mực
của sự kết hợp hài hòa nhuần nhuyễn giữa tinh hoa kiến trúc Đông và Tây,
được đặt trong một khung cảnh thiên nhiên kỳ thú với nhiều yếu tố biểu
tượng sẵn có tự nhiên.
Cố đô Huế còn là nơi lưu giữ rất nhiều những di sản văn hóa vật thể
và phi vật thể, chứa đựng nhiều giá trị biểu trưng cho trí tuệ và tâm hồn của
dân tộc Việt Nam.
Năm 1993, quần thể di tích Cố đô Huế đã được UNESCO công nhận
là Di sản văn hóa thế giới.
2.1.2 Vịnh Hạ Long.
Vịnh Hạ Long là một di sản độc đáo vì nó chứa đựng những dấu tích
quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển lịch sử trái đất, là cái nôi
cư trú của người Việt cổ, đồng thời là tác phẩm nghệ thuật tạo hình vĩ đại

ngang dọc tạo thành các ô vuông kiểu bàn cờ, mô hình phổ biến của các đô


thị thương nghiệp phương Đông thời Trung đại. Cuộc sống thường ngày của
cư dân Hội An với những tập quán, sinh hoạt văn hóa lâu đời đang được duy
trì một cách khá bền vững, hiện là một bảo tàng sống về kiến trúc và lối
sống đô thị thời phong kiến.
Năm 1999, phố cổ Hội An đã được UNESCO công nhận là Di sản văn
hóa thế giới.
2.1.5 Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng.
Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng là một khu bảo tồn thiên nhiên
tại huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, có tổng diện tích 85.754ha. Đặc trưng
của vườn quốc gia này là các kiến tạo đá vôi, các loại hang động, sông ngầm
và hệ động thực vật quý hiếm nằm trong Sách Đỏ Việt Nam và thế giới. Đặc
biệt, ngoài hệ thống sinh cảnh thảm rừng và động vật hoang dã, vùng này
chứa đựng trong lòng nó cả một hệ thống trên 300 hang động lớn nhỏ được
mệnh danh là “vương quốc hang động”. Hệ thống động Phong Nha đã được
Hội nghiên cứu hang động hoàng gia Anh (BCRA) đánh giá là hang động có
giá trị hàng đầu thế giới với bốn điểm nhất có các sông ngầm dài nhất, có
cửa hang cao và rộng nhất, có những bờ cát rộng và đẹp nhất, có những
thạch nhũ đẹp nhất.
Năm 2003, Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng đã được UNESCO
công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới.
2.1.6 Hoàng thành Thăng Long-Hà Nội.
Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long-Hà Nội bao gồm Khu di
tích khảo cổ học 18 Hoàng Diệu với diện tích hơn 47.000m2 và Thành cổ
Hà Nội với diện tích hơn 138.000m2, tạo thành một di sản thống nhất. Đây
là minh chứng rõ nét về một di sản có liên hệ trực tiếp với nhiều sự kiện
trọng đại của lịch sử Việt Nam trong mối quan hệ với khu vực và thế giới; là


của các dân tộc thiểu số sống dọc Trường Sơn-Tây Nguyên. Mỗi dân tộc ở
Tây Nguyên sử dụng cồng chiêng theo cách thức riêng để chơi những bản
nhạc của riêng dân tộc mình, nhất là vào dịp lễ hội, chào đón năm mới,
mừng nhà mới… Trải qua bao năm tháng, cồng chiêng đã trở thành nét văn
hóa đặc trưng, đầy sức quyến rũ và hấp dẫn của vùng đất Tây Nguyên.
Năm 2005, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã chính
thức được UNESCO công nhận là Kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể và
truyền khẩu của nhân loại.
2.2.3 Quan họ Bắc Ninh.
Quan họ là một trong những làn điệu dân ca của vùng đồng bằng Bắc
Bộ, Việt Nam; tập trung chủ yếu ở vùng Kinh Bắc (Bắc Ninh và Bắc Giang).
Nghệ thuật dân ca Quan họ được coi là đỉnh cao của nghệ thuật thi ca. Đến
nay, Bắc Ninh còn gần 30 làng Quan họ gốc, với hơn 300 làn điệu dân ca
Quan họ.Hội đồng chuyên môn của UNESCO đánh giá cao giá trị văn hóa
đặc biệt, tập quán xã hội, nghệ thuật trình diễn, kỹ thuật hát, phong cách ứng
xử văn hóa, bài bản, ngôn từ và cả trang phục của loại hình nghệ thuật này.
Năm 2009, UNESCO chính thức công nhận Quan họ là Di sản văn
hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
2.2.4 Ca trù.
Hát ca trù (hay hát “ả đào”, hát “cô đầu”) là bộ môn nghệ thuật truyền
thống của miền Bắc Việt Nam, rất phổ biến trong đời sống sinh hoạt văn hóa
ở khu vực này từ thế kỷ 15. Ca trù sử dụng ba nhạc khí đặc biệt (không chỉ
về cấu tạo mà còn về cách thức diễn tấu) là đàn đáy, phách và trống chầu. Về
mặt văn học, ca trù làm nảy sinh một thể loại văn học độc đáo là hát nói.


Hội đồng chuyên môn của UNESCO đánh giá về ca trù: Ca trù đã trải
qua một quá trình phát triển ít nhất từ thế kỷ 15 đến nay, được biểu diễn
trong không gian văn hóa đa dạng gắn liền ở nhiều giai đoạn lịch sử khác
nhau. Ca trù thể hiện một ý thức về bản sắc và sự kế tục trong nghệ thuật

một nền văn hóa lâu đời chính vì vậy những di tích văn hóa vật thể còn lại
đến ngày nay là vô cùng quý báu.Nhưng trước những thay đổi về khí hậu,sự
tác động của con người và tác động của thời gian đã khiến cho những di sản
này dần tới những nguy cơ biến đổi và có thể dẫn đến biến mất. Trước
những thực trạng như sự ô nhiễm ở Vịnh Hạ long là đáng báo động,hay sự
xuống cấp của các kiểu nhà cổ ở phố cổ Hội An cũng ngày một trầm trọng
nếu không có được những biện pháp thích đáng của các cơ quan chức năng
nhằm trùng tu và bảo tồn trong thời gian sắp tới.

3.2.Văn hóa phi vật thể
Ra đời từ quá khứ, vận hành cùng lịch sử cho đến ngày nay, dù ở giai
đoạn nào, văn hoá phi vật thể cũng luôn đồng hành và có ý nghĩa quan trọng
đối với đời sống tinh thần của mỗi cộng đồng, dân tộc. Do đó, muốn phát
huy ý nghĩa tích cực của văn hóa phi vật thể trong xã hội hiện đại thì trước
hết, cần quan tâm việc bảo tồn nó như thế nào.

Ðặc trưng dễ nhận biết của văn hóa phi vật thể là nó không tồn tại


dưới dạng vật chất, vật thể cụ thể (không kể một số hình thức đã được văn
bản hóa) mà tiềm ẩn trong trí nhớ, tâm thức của con người và chỉ bộc lộ
thông qua hành vi và hoạt động của con người. Nói cách khác, nếu văn hóa
vật thể được khách thể hóa, tức tồn tại như một thực thể ngoài bản thân con
người, thì văn hóa phi vật thể lại tiềm ẩn trong bản thân con người và thông
qua diễn xướng, các hiện tượng vốn tiềm ẩn ấy mới có thể bộc lộ, thể hiện ra
như một hiện tượng văn hóa.
Văn hóa nói chung, nhất là văn hóa phi vật thể, đều là của cộng đồng
(gia tộc, làng xã, địa phương, tộc người), nhưng tiềm ẩn trong trí nhớ và tâm
thức của từng con người cụ thể, qua sự tiếp nhận và thể hiện của từng con
người, cho nên nó mang dấu ấn cá nhân và vai trò sáng tạo của cá nhân rất

mất đi vĩnh viễn. Những người còn nhớ được hàng chục bộ sử thi đồ sộ dài
hàng vạn câu, hiện nay số lượng có thể đếm trên đầu ngón tay và đều ở độ
tuổi khoảng 70.
Như đã phân tích, văn hóa phi vật thể vừa mang tính bền chắc lại vừa
mang tính mỏng manh, dễ bị thương tổn. Những đặc tính này gợi cho chúng
ta những cách thức hữu hiệu trong việc sưu tầm và bảo tồn các hiện tượng
văn hóa phi vật thể này. Những năm vừa qua, ngành văn hóa đã có cố gắng
lớn trong việc sưu tầm, nghiên cứu các hiện tượng văn hóa phi vật thể như
ngữ văn dân gian, diễn xướng dân gian, ứng xử và quan hệ xã hội, tri thức
dân gian...Tuy nhiên, việc sưu tầm, nghiên cứu còn chưa tuân thủ các


phương pháp khoa học nghiêm túc và chặt chẽ, do vậy chất lượng công tác
sưu tầm và nghiên cứu chưa cao.
Thí dụ, việc sưu tầm, nghiên cứu các hiện tượng văn hóa phi vật thể
chưa tuân thủ nguyên tắc diễn xướng một trong những môi trường cần thiết
để các hiện tượng văn hóa phi vật thể từ chỗ tiềm ẩn trong tiềm thức, tâm
thức con người bộc lộ ra như là một thực thể. Hay việc sưu tầm ca dao, dân
ca, truyện cổ, thành ngữ, tục ngữ của các dân tộc thiểu số vẫn chưa tuân thủ
nguyên tắc song ngữ, tức là được thể hiện bằng ngôn ngữ mẹ đẻ của chủ thể
sáng tạo ra các hiện tượng văn hóa đó và ngôn ngữ phổ thông.
Ngày nay, việc bảo tồn các hiện tượng văn hóa cổ truyền, trong đó có
văn hóa phi vật thể, cần được quan tâm nhiều hơn nữa trước nguy cơ bị mất
đi nhanh chóng trong sự biến đổi xã hội theo hướng CNH, HÐH. Có nhiều
cách bảo tồn, nhưng chung quy có hai hướng chủ yếu:
Bảo tồn trong dạng "tĩnh": Tiến hành điều tra, sưu tầm, thu thập các
dạng thức văn hóa phi vật thể như nó hiện có theo quy trình khoa học
nghiêm túc, chặt chẽ, "giữ" chúng trong sách vở, các ghi chép, mô tả trong
các băng hình (vi-đê-ô), băng tiếng (audio), ảnh...
Tất cả các hiện tượng văn hóa phi vật thể này có thể lưu giữ trong các

Nguyên, đã tiến hành thử nghiệm mở các lớp truyền dạy hát, kể sử thi, để
thế hệ nghệ nhân cao tuổi truyền lại việc diễn xướng sử thi cho thế hệ trẻ.
Như trên đã nói, văn hóa phi vật thể là văn hóa tiềm ẩn trong tâm
thức và trí nhớ của một số người, mà lâu nay chúng ta vẫn tôn vinh họ là
những nghệ nhân hay là những "báu vật sống". Do vậy, bảo tồn và phát huy


các giá trị văn hóa phi vật thể còn đồng nghĩa với việc "bảo tồn" các "báu
vật sống" đó.
Ðó chính là việc Nhà nước, cộng đồng thừa nhận những tài năng dân
gian, tôn vinh họ trong cộng đồng, tạo những điều kiện tốt nhất trong hoàn
cảnh có thể, để họ sống lâu, sống khỏe mạnh, phát huy khả năng của mình
trong sự nghiệp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong
thời kỳ CNH, HÐH ngày nay.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status