Cân đối thu – chi ngân sách nhà nước và các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN - Pdf 32

A. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Để đảm bảo cho công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước phát
triển đúng hướng, tăng cường hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế,
Nhà nước tiến hành quản lý đất nước bằng nhiều chính sách và công cụ khác
nhau. Nhưng việc nhà nước quản lý bằng công cụ ngân sách được đặc biệt coi
trọng, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi mà công cuộc công nghiệp hóa hiện
đại hóa đất nước đang ngày càng đi vào chiều sâu của nó. Trong hoạt động
NSNN, vấn đề cân đối ngân sách giữ vai trò khá quan trọng. Cân đối ngân sách
giúp cho nhà nước thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình.
Để hiểu sâu hơn các quy định của pháp luật về vấn đề cân đối ngân sách
theo luật ngân sách nhà nước năm 2002 em xin lựa chọn đề tài: “Cân đối thu – chi
Ngân sách nhà nước và các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN”.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Khái quát chung về hoạt động ngân sách nhà nước.
/. Khái niệm ngân sách nhà nước
Theo Điều 1, Luật Ngân sách nhà nước năm 2002 được Quốc hội thông
qua ngày 16/02/2002 quy định: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu,
chi của nhà nước trong dự toán đã được các cơ quan có thẩm quyền của nhà
nước quyêt định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức
năng, nhiệm vụ của nhà nước ”.
Ngân sách nhà nước là bộ phận quan trọng nhất của tài chính công. Ngân
sách nhà nước phản ánh các hoạt động thu, chi bằng tiền của nhà nước trong một
khoảng thời gian nhất định nhằm đáp ứng các nhu cầu thực hiện chức năng và
nhiệm vụ của nhà nước. Ngân sách nhà nước là bảng dự toán thu và chi tiền tệ
của quốc gia phải được cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất đại diện cho toàn
the nhân dân, thay mặt nhân dân quyết định.
Nội dung hoạt động của NSNN bao gồm thu NSNN và chi NSNN
2. Thu ngân sách nhà nước
a. Khái niệm
Thu ngân sách nhà nước là huy động một bộ phận giá trị sản phẩm xã hội
theo quy định của pháp luật, làm hình thành quỹ ngân sách nhà nước.

chức, cá nhân và tập trung vào quỹ ngân sách nhà nước. Thu từ thuế là nguồn thu
chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng thu ngân sách nhà nước.
Phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả khi được một tổ chức, cá nhân
khác cung cấp dịch vụ được quy định trong danh mục phí ban hành kèm theo
Pháp lệnh phí và lệ phí.


Lê phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cơ quan nhà
nước hoặc tổ chức được ủy quyền phục vụ công việc quản lý nhà nước được quy
định trong danh mục lệ phí ban hành kèm theo Pháp lệnh phí và lệ phí. Chỉ có
những chủ thể cung cấp dịch vụ gắn với chức năng quản lý nhà nước mới được
thu lệ phí.
Thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước bao gồm tiền thu hồi vốn của nhà
nước tại các cơ sở kinh tế; thu hồi tiền cho vay của nhà nước (bao gồm cả gốc lẫn
lãi) đối với các tổ chức, cá nhân; thu nhập của Nhà nước từ việc góp vốn vào các
cơ sở kinh tế, kể cả thu từ lợi nhuận sau khi thực hiện nghĩa vụ về thuế của các tổ
chức kinh tế có sự tham gian góp vốn của Nhà nước.
Những khoản thu khác hình thành nên quỹ ngân sách nhà nước bao gồm
các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân như khoản đóng góp dưới hình
thức tự nguyện và các khoản tiền huy động từ các tổ chức, cá nhân theo quy định
của pháp luật; các khoản viện trợ không hoàn lại của chính phủ các nước, của các
tổ chức và cá nhân ở nước ngoài; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật
như thu từ các di sản Nhà nước được hưởng, thu từ các khoản tiền phạt, tịch thu,
thu hồi dự trữ nhà nước...Mặc dù không phải là những khoản thu thường xuyên
của ngân sách nhà nước nhưng những khoản thu này cũng góp phần đáng kể vào
việc cân đối thu chi, đáp úng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.
3. Chi ngân sách nhà nước
a. Khái niệm
Chi ngân sách là hoạt động nhằm sử dụng quỹ ngân sách, là quá trình
phân phối nguồn tiền tệ nằm trong quỹ ngân sách nhà nước để chi dùng vào

quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của
Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật”. Theo
quy định tại khoản 2, Điều 2 Luật ngân sách nhà nước thì Chi ngân sách nhà
nước bao gồm các khoản chi:
Chi phát triển kinh tế - xã hôi là các khoản chi mang tính tích lũy. Khoản
chi này phản ánh quá trình sử dụng một bộ phận vốn ngân sách nhà nước để đầu
tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển sản xuất nhằm bảo đảm thực
hiện các mục tiêu ổn định và tăng trưởng kinh tế. Do có tác dụng tăng trưởng
kinh tế nên khoản chi này còn được gọi là chi tích lũy.
Chi đảm bảo quốc phòng an ninh và đảm bảo hoạt động của Bô máy nhà
nước là những khoản chi mang tính tiêu dùng. Đây là những khoản chi không tạo
ra giá trị mới mà là để duy trì hoạt động của bộ máy nhà nước, tạo điều kiện cho
Nhà nước thực hiện tốt các chức năng của mình.


Chi trả nợ là những khoản chi phản ánh việc thực hiện trái vụ của Nhà
nước trong quan hệ vay mượn. Trong quá trình chấp hành ngân sách , một hiện
tượng mà các quốc gia không phân biệt giàu, nghèo thường phải đương đầu là thu
ngân sách không đáp ứng đủ nhu cầu chi tiêu của Chính phủ. Một trong những
biện pháp hữu hiệu mà các chỉnh phủ thường sử dụng để đối phó với tình trạng
này là vay từ trong nước và nước ngoài. Việc sử dụng biện pháp này để cân đối
thu chi ngân sách đã dẫn đến tính tất yếu của khoản chi trả nợ trong kết cấu chi
ngân sách nhà nước.
Chi viện trợ là những khoản chi nảy sinh trong quan hệ đối ngoại của Nhà
nước. Khoản chi này thường được đưa vào kết cấu chi ngân sách nhà nước, cho
phép chính phủ có thể giúp đỡ các quốc gia bị lâm vào tình trạng khó khăn về tài
chính do trải qua những biến cố chính trị, kinh tế hoặc do phải đương đầu với
những thiệt hại nặng nề bởi thiên tai đem lại.
II. Nguyên tắc cân đối trong hoạt động Ngân sách nhà nước
1. Khái niệm cân đối Ngân sách nhà nước

Thứ ba, việc cân đối trong hoạt động ngân sách nhà nước còn xuất phát từ
mục tiêu có vai trò quan trọng đó là để tăng nguồn dự trữ ngân sách nhà nước,
khi cần thiết sẽ sử dụng những nguồn ngân sách dự tữ này để đáp ứng cho những
mục tiêu cao cả của đất nước.
Thứ tư, việc cân đối trong hoạt động ngân sách nhà nước là xuất phát từ
yêu cầu “đấu tranh phòng, chống tham nhũng, bởi lẽ những nguồn thu và nhiệm
vụ chi được lên kế hoạch cụ thể, có nghĩa là nguồn thu này được phân bổ bao
nhiêu cho nhiệm vụ chi cụ thể thì bắt buộc cơ quan có thẩm quyền thu, người có
nghĩa vụ nộp vào ngân sách nhà nước những khoản thuế theo quy định của pháp
luật và những cơ quan, đơn vị tiếp nhận việc phân bổ nguồn ngân sách để trực
tiếp thực hiện các công việc được giao phải làm đúng những định hướng, kế
hoạch mà cơ quan cấp trên đã đề ra để đảm bảo cho công việc được hoàn thành
mà ngân sách nhà nước lại vẫn ổn định, không bị xáo trộn” . Những nguồn thu
và nhiệm vụ chi có sự ăn khớp, cân bằng với nhau bởi những kế hoạch mà
không thể có sự gian dối, làm sai lệch những con số đó khi thực hiện thu và thực
hiện chi ngân sách.
3. Biểu hiện của nguyên tắc cân đối trong hoạt động ngân sách nhà nước
theo luật ngân sách nhà nước.
a. Tổng số chi thường xuyên không đươc vượt quá tổng số thu từ thuế, phí, lệ
phí.
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 8 Luật ngân sách nhà nước năm 2002
quy định: “1. Ngân sách nhà nước được cân đối theo nguyên tắc tổng số thu từ
thuế, phí, lệ phí phải lớn hơn tổng số chi thường xuyên và góp phần tích lũy ngày


càng cao vào chi đầu từ phát triển; trường hợp còn bội chi, thì số bội chi phải
nhỏ hơn số chi đầu tư phát triển, tiến tới cân bằng thu, chi ngân sách ”. Có nghĩa
là chỉ được chi các khoản chi thường xuyên trong phạm vi thu được từ thuế, phí,
lệ phí và các khoản thu khác, không được đi vay để chi thường xuyên. Chi
thường xuyên là những khoản chi mang tính định kỳ và lặp đi lặp lại: chi cho

nước.
c. Số bội chi hàng năm phải nhỏ hơn số đầu tư phát triển, số bội chi ngân sách
được dùng cho đầu tư phát triển, không đươc sử dụng cho tiêu dùng.
Bội chi ngân sách trong một vài tài khóa là điều không thế tránh khỏi, và
nó cũng chưa hẳn là do tình trạng yếu kém của nền kinh tế hay do thiếu hiệu quả
trong điều hành ngân sách của nhà nước. Tuy nhiên, dẫu chấp nhận bội chi ngân


sách theo chu kỳ, hay cố ý gây bội chi thì cũng là để tạo tiền đề nhằm đạt được sự
cân bằng ngân sách trong dài hạn. Từ đó, việc phối hợp cân đối giữa các khoản
thu, các khoản chi ngân sách để đạt đuợc đầu ra và kết quả tốt nhất là một trong
những nguyên tắc quan trọng khi thực hiện cân đối ngân sách.
Số bội chi hàng năm phải nhỏ hơn số đầu tư phát triển tức là ít nhất phải
cân đối NSNN giữa các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác của
nhà nước với tổng số chi thường xuyên đã được dự toán đầu năm tài chính.
d. Số bội chi ngân sách đươc bù đắp bằng nguồn vốn đi vay tr ung dài hạn
trong nước và ngoài nước. Có kế hoạch chủ động trả nợ vay, không được bù đắp
bằng vốn phát triển phần thâm hut ngân sách nhà nước. Khoản 2, Điều 8 Luật
ngân sách nhà nước năm 2002 quy định: “2. Bội chi ngân sách nhà nước được bù
đắp bằng nguồn vay trong nước và ngoài nước. Vay bù đắp bội chi ngân sách
nhà nước phải bảo đảm nguyên tắc không sử dụng cho tiêu dùng, chỉ được sử
dụng cho mục tiêu phát triển và đảm bảo bố trí ngân sách để chủ động trả hết nợ
khi đến hạn ”.
Nguyên tắc “vay bù đắp bội chi chỉ nên giành cho chi đầu tư” đã được
công nhận rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, điều đó không đồng
nghĩa rằng: đầu tư công cao sẽ có tính bền vững vì còn tùy thuộc vào mức độ tác
động lan truyền của khoản chi này đến sự phát triển của khu vục tư. Mặt khác,
trong chi tiêu công giữa chi đầu tư và chi thường xuyên có mối quan hệ mật thiết.
Do đó, chú trọng chi đầu tư phát triển cần có sự phối hợp cân đối với chi thường
xuyên, linh hoạt trong sự điều phối nguồn lực trong nội bộ các ngành, tránh tình

quy định;
c. Đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được ủy quyền
quyết định chi.
Ngoài các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này, đối với những khoản chi
cho công việc cần phải đẩu thầu thì còn phải tổ chức đấu thầu theo quy định của
pháp luật về đấu thầu.
3. Các ngành, các cấp, các đơn vị không được đặt ra các khoản thu, chi trái
với quy định của pháp luật.
4. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước có
trách nhiệm tổ chức thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng”.
Như vậy, theo quy đinh tại Điều 5 luật ngân sách nhà nước thì các khoản
thu, chi ngân sách nhà nước phải được thực hiện theo dự toán ngân sách nhà nước
đã được cơ quan có thấm quyền phê duyệt. Các cơ quan có nhiệm vụ thu NSNN
không được phcp thu các khoản thu không có trong quy định của pháp luật ngân
sách.
4. Ý nghĩa của nguyên tắc cân đối trong hoạt động Ngân sách Nhà nước


Thứ nhất, nguyên tắc này được ghi nhận trong luật, tức là Nhà nước đã
thấy được tầm quan trọng của nó trong việc làm ổn định kinh tế vĩ mô. Nhà
nước đưa nguyên tắc này áp dụng vào thực tiễn hoạt động ngân sách của Việt
Nam vì thấy được tác dụng của nó khi góp phần ổn định việc thực hiện các mục
tiêu của chính sách kinh tế vĩ mô: tăng trưởng mức thu nhập bình quân trong nền
kinh tế, giảm tỷ lệ thất nghiệp, lạm phát được duy trì ở mức ổn định và có thể dự
toán được, sở dĩ làm được điều này là do nguồn ngân sách của nước ta luôn
trong trạng thái cân bằng, nhiệm vụ chi không vượt quá khả năng thu.
Thứ hai, việc thừa nhận nguyên tắc có ý nghĩa trong việc phân bổ, sử
dụng và điều chỉnh nguồn lực tài chính có hiệu quả. Ý nghĩa này được thể hiện
từ việc lập dự toán nhà nước đã có ưu tiên họp lý trong phân bổ ngân sách nhà
nước và sự gắn kết chặt chẽ giữa chiến lược phát triển kinh tế- xã hội với công

Những tồn tại, hạn chế
Cân đối ngân sách nhà nước đã được đảm bảo bằng các quy phạm mang
tính nguyên tắc. Tuy nhiên, việc thực hiện Luật ngân sách nhà nước đã bắt gặp
những vướng mắc, tồn tại, trong đó vấn đề về phạm vi cân đối và và cách tính bội
chi ngân sách nhà nước còn có một số điếm chưa rõ ràng, chưa đúng với luật
ngân sách nhà nước, chưa đúng với thông lệ quốc tế. số thu về phí, lệ phí hiện
nay chưa được quy định rõ ràng, khoản nào trong cân đối, khoản nào ngoài cân
đối ngân sách nhà nước, khoản nào hoạch toán trong ngân sách nhà nước.
Theo quy định của Luật ngân sách nhà nước thì hiện nay số thu về phí, lệ
phí chưa được hạch toán đầy đủ vào cân đối ngân sách nhà nước cần sớm chấn
chỉnh cho đúng với luật ngân sách nhà nước. Các khoản vay về để cho vay, các
khoản viện trợ chính thức ODA, các khoản vay về trái phiếu chính phủ, công trái
giáo dục cũng chưa được phản ánh vào cân đối ngân sách nhà nước và các khoản
huy động vốn của chính quyền địa phương chưa được tống họp vào bội chi ngân
sách nhà nước.
Về vấn đề bội chi ngân sách nhà nước, bội chi ngân sách nhà nước là tình
trạng mất cân đối của ngân sách nhà nước khi mà thu ngân sách nhà nước không
đủ bù đắp cho chi ngân sách nhà nước trong một thời kỳ nhất định. Bội chi
NSNN năm 2007 là 56500 tỷ đồng, năm 2008 là 66900 tỷ đồng, năm 2009 là
873090 tỷ đồng, năm 2010 là 119700 tỷ đồng. Tỷ lệ bội chi NSNN so với GDP
năm 2007 là 5%, năm 2007 là 5%, năm 2009 là 4,82%, năm 2010 là 6,2%. Qua
số liệu trên có thể thấy, số bội chi NSNN từ năm 2007 đến năm 2010 có chiều
hướng tăng.
Ở Việt nam cân đối ngân sách nhà nước được thực hiện theo nguyên tắc
thận trọng. Khi cân đối NSNN quán triệt nguycn tắc tổng số thu từ thuế, phí, lệ
phí phải lớn hơn tồng số chi thường xuyên; nếu bội chi phải nhỏ hơn chi đầu tư
phát triển. Nhưng kết quả kiểm toán cho thấy một số khoản thu phí, lệ phí, học


phí, viện phí,...không được tính toán cân đối ngân sách nhà nước mà đế lại đơn

Lập dự toán NSNN là khâu quan trọng của quá trình NSNN, bởi lẽ khâu
này tạo tiền đề, cơ sở cho các khâu tiếp theo của quá trình NSNN. Cho nên việc


lập dự toán NSNN phải dựa trên các căn cứ: Nhiệm vụ cụ thể của các Bộ, cơ
quan ngang bộ, các cơ quan khác ở trung uơng và các cơ quan nhà nuớc ở địa
phuơng; Cơ chế phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách các cấp và tỷ lệ
% phân chia các khoản thu và mức bố sung cho ngân sách cấp duới; dựa trên các
chế độ, chính sách, tiêu chuẩn, định mức hiện hành về thu chi NSNN như tiền
lương, tiền sinh hoạt phí cho cán bộ,...để có một dự toán ngân sách cân đối toàn
diện đáp ứng được nhu cầu thực hiên chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.
2.2.
Tăng thu giảm chi
Tăng thu giảm chi là biện pháp cơ bản mà các nhà nước thường sử dụng
để điều tiết NSNN. Công tác thu ngân sách nhà nước phải đảm bảo mức động
viên vào ngân sách nhà nước họp lý tăng nhanh tỷ trọng nội địa trong tổng thu
NSNN tập trung thực hiện thu đúng, thu đủ, kịp thời theo các luật thuế nhằm
động viên hợp lý, khuyến khích sản xuất kinh doanh phát triển và đảm bảo nguồn
lực thực hiện nhiệm vụ quan trọng phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện hội
nhập kinh tế quốc tế chủ động ứng phó với các tác động của thị trường giá cả
trong và ngoài nước, đồng thời đấy mạnh cãi cách thủ tục hành chính, hải quan và
mở rộng cơ chế tự khai, tự nộp, tăng trách nhiệm của người nộp thuế và cơ quan
thu, tăng cường kiếm tra chống thất thu, nợ đọng tạo môi trường thuận lợi bình
đắng trong mọi doanh nghiệp của các thành phần kinh tế. Có cơ chế khuyến
khích các cấp tăng thu được hưởng hợp lý kết quả tăng thu so với nhiệm vụ của
nhà nước giao theo quy định của pháp luật.
Triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công và chi thường xuyên từ ngân
sách nhà nước. Triệt đế tiết kiệm các khoản đầu tư công có nghĩa là chi đầu tư
vào những dự án mang tính chủ đạo, hiệu quả nhằm tạo ra những đột phá cho sự
phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là những dự án chưa hoặc không hiệu quả thì

5. http://thuvienphapluat. vn
6. http://moi. 2QV. vn
7. http://chinhvhu. vn
8. http.v/taichinh. worpess. com




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status