TIỂU LUẬN
PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC THAY ĐỔI TỶ GIÁ
LÊN CÁC THÀNH PHẦN CỦA CÁN CÂN THANH TOÁN
Giáo viên hướng dẫn: ThS. Bùi Thành Trung
Nhóm thực hiện: Nhóm 8
1
LỜI MỞ ĐẦU
Trong điều kiện hội nhập và tự do thương mại hoá hiện nay, các quốc gia
thường sử dụng tỷ giá như là một công cụ hữu hiệu cho các hoạt động kinh tế
quốc tế. Vậy khi tỷ giá thay đổi sẽ tác động như thế nào đến cán cân thanh toán
của một quốc gia? Xuất phát từ tầm quan trọng đó chúng tôi xin “Phân tích tác
động của việc thay đổi tỷ giá lên các thành phần của cán cân thanh toán” với
những nội dung sau:
I.
LÝ THUYẾT VỀ TỶ GIÁ VÀ CÁN CÂN THANH TOÁN
II.
TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ LÊN CÁC THÀNH PHẦN CỦA
CÁN CÂN THANH TOÁN
III.
KẾT LUẬN
ở mức độ can thiệp của chính phủ vào sự vận động của tỷ giá và thị trường
ngoại hối. Các chế độ tỷ giá hiện nay bao gồm: chế độ tỷ giá thả nổi, chế độ tỷ
giá cố định, chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết.
- Tỷ giá cố định:
Tỷ giá hối đoái cố định, hay còn được gọi là tỷ giá hối đoái neo theo giá
ngoại tệ khác, một nước có chế độ tỷ giá cố định khi đó giá trị của một đồng nội
tệ được gắn với giá trị của một ngoại tệ khác hay với một rổ các đồng tiền khác,
hay cũng có thể gắn giá trị với vàng. Khi giá trị tham khảo tăng hoặc giảm, thì
giá trị của đồng tiền neo vào cũng tăng hoặc giảm. Đồng tiền sử dụng chế độ tỷ
giá hối đoái cố định gọi là đồng tiền cố định.
3
Tỷ giá hối đoái cố định khá cứng nhắc và thường không thể hiện hết những
thông tin cần thiết cho thị trươǹ g hoạt động đúng hươń g bởi vì khi đó đồng tiền
không còn thể hiện giá trị thị trươǹ g thực của chúng.
- Tỷ giá thả nổi: Trong chế độ tỷ giá thả nổi giá trị của một đồng tiền được
phép tự do dao động trên thị trươǹ g ngoại hối, được quyết định bởi cung cầu
ngoại hối của thị trường. Đồng tiền sử dụng chế độ tỷ giá thả nổi được gọi là
một đồng tiền thả nổi. Trong chế độ tỷ giá thả nổi đồng tiền thể hiện giá trị thị
trươǹ g thực của chúng.
- Tỷ giá thả nổi có điều tiết:
Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết là chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi theo sự
quyết định của thị trường nhưng chính phủ của quốc đó có những tác động nhằm
hướng tỷ giá đến có lợi cho nền kinh tế. Mặc dù về mặt lý thuyết nói chế độ tỷ
giá thả nổi tốt hơn nhưng trong thực tế không có đồng tiền nào được thả nổi
hoàn toàn, vì nếu để thả nổi hoàn toàn nó sẽ bất ổn định. So với chế độ tỷ giá hối
đoái cố định với sự ổn định, song việc can thiệp của chính phủ để giữ cho tỷ giá
hối đoái cố là khá khó khăn và tốn kém. Hiện nay hầu hết các đồng tiền trên thế
giới sử dụng chế độ tỷ giá thả nổi, nhưng có sự can thiệp của chình phủ để tỷ giá
- Du lịch;
- Vận tải (hàng không, đường biển, đường thủy…);
- Bưu chính viễn thông;
- Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm;
- Giáo dục, y tế;
- Chuyển giao kỹ thuật, công nghệ;
- Xuất khẩu lao động;
- Các hoạt động về ngoại giao, chính trị….
2.2.3 Cán cân vãng lai: “bao gồm cán cân ngoại thương, dịch vụ, chuyển
tiền đơn phương”
2.2.4 Cán cân chuyển tiền không phải hoàn trả
Là việc phản ánh, ghi chép toàn bộ các khoản không cần có sự bù đắp, bồi
hoàn như chuyển tiền kiều hối, khoản viện trợ không hoàn lại, tài trợ hay quà
tặng từ nước này đến một nước khác.
2.2.5 Cán cân nguồn vốn
Cán cân nguồn vốn là luồng vốn chảy vào hay chảy ra khỏi một quốc gia
vào khu vực tư nhân hoặc khu vực nhà nước. Theo thời gian thì có 2 loại nguồn
vốn: dài hạn và ngắn hạn. Thông qua các hoạt động được tổng quát như sơ đồ
bên dưới:
II. TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ LÊN CÁN CÂN THANH TOÁN
Khi tỷ giá thay đổi sẽ tác động đến tất cả các hoạt động của nền kinh tế, tuy
nhiên tỷ giá thay đổi ảnh hưởng lớn nhất, thể hiện nhanh và rõ nét nhất đến cán
cân ngoại thương (hoạt động xuất nhập khẩu) và cán cân vốn
5
1. Tác động của tỷ giá lên cán cân ngoại thương
- Bản chất của tỷ giá là so sánh giá trị của hai đồng tiền, khi tỷ giá thay đổi
nó kéo theo sự thay đổi về sức mua hàng hóa của hai đồng tiền. Sức mua khác
200
0
14,782
5.55
14,483
15,637
200
1
14,846
0.43
15,029
16,218
200
2
15,270
2.86
16,706
0.72
32,442
36,978
200
6
15,994
0.86
39,632
44,412
6
Giá trị
-1154
42.50
Tăng,
giảm(%)
-1189
-3.03
62,682
200
8
16,448
2.29
62,685
80,714
200
9
16,975
3.20
57,096
69,949
201
0
18,544
21,036
0.80
132,033
132,033
201
4
21,246
1.00
150,186
148,049
-14121
-195.42
-18029
-27.68
-12853
trường quốc tế, cơ cấu hàng xuất khẩu chưa có sự dịch chuyển, khả năng sản
xuất các mặt hàng thay thế nhập khẩu còn hạn chế, thâm hụt kỷ lục vào năm
2008 trong khi đồng nội tệ giảm giá liên tục, điều này làm cho tỷ lệ dự trữ ngoại
tệ giảm mạnh. Tỷ lệ thay đổi tỷ giá so với tỷ lệ thay đổi cán cân ngoại thương là
không đồng nhất. Năm 2010 tỷ giá tăng 9.24% cán cân thanh ngoại thương tăng
2.25%, tới năm 2011 tỷ giá tăng 11.18% trong khi cán cân ngoại thương được
cải thiện 21,65%. Từ đó cho thấy chính sách tỷ giá vẫn chưa hỗ trợ tốt cho hoạt
7
động xuất nhập khẩu, tuy nhiên khi tỷ giá thay đổi nó vẫn có tác động tới cán
cân thanh toán.
- Từ 2012 đến 2014: giai đoạn này tỷ giá ổn định được là do Ngân hàng
nhà nước cam kết điều hành tỷ giá theo hướng có lợi cho xuất khẩu, hạn chế
nhập khẩu, thu hút đầu tư từ nước ngoài bằng cách kiểm soát, theo dõi sát thị
trường ngoại tệ với cung cầu ngoại hối trên thị trường, cán cân thanh toán quốc
tế… điều đó làm cho người dân và nhà đầu tư có lòng tin vào VND. Chính sách
ổn định này dẫn tới sự dịch chuyển đáng kể cơ cấu mặt hàng xuất khẩu, bên
cạnh các mặt hàng chủ lực từ những năm trước thì các loại hàng điện tử, máy
tính, điện thoại và các linh kiện điện tử tăng nhiều so với 2010 và 2011 (bảng 2
và biểu đồ xuất nhập khẩu năm 2014), các mặt hàng này chịu nhiều tác động của
chính sách tỷ giá vì Việt Nam tự sản xuất các mặt hàng này trong khu vực có
vốn đầu tư nước ngoài nên khi đồng nội tệ mất giá các doanh nghiệp xuất khẩu
sẽ có lãi. Năm 2012 cũng là năm đầu tiên Việt Nam xuất siêu kể từ 1986. Giữ
vững cơ cấu tỷ giá đó, năm 2013 cán cân thăng bằng và đến 2014 thì thặng dư
hơn 2 tỷ USD.
10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam năm 2014 (Nguồn số liệu: Tổng cục thống kê)
8
6,396
12,746
21,252
24,080
Tổng cộng
6,702
11,058
20,595
31,887
44,850
Bảng 2: Dịch chuyển mặt hàng xuất khẩu 2010 - 2014 (Nguồn số liệu: Tổng cục thống kê)
- Nhìn vào biểu đồ xuất nhập khẩu năm 2014 và bảng 2 thấy được sự dịch
chuyển đáng kể cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu khi chính sách tỷ giá hợp lý.
Từ thực tế cán cân ngoại thương của Việt Nam từ năm 2000 đến 2014 cho
thấy sự thay đổi tỷ giá có tác động nhất định lên cán cân ngoại thương. Tuy
nhiên nó còn phụ thuộc vào thực tế các mặt hàng xuất nhập khẩu, chính sách tỷ
giá của nước đó có hiệu quả hay không hay chỉ dừng lại ở mức điều tiết giá cả
và kìm chế lạm phát.
Đầu tư danh mục đầu tư
Đầu tư khác
9,279.0
-578.0
3,640.0
2009
6,755.
0
6,900.
0
-71.0
-74.0
ĐVT: triệu USD
2013
2014
2010
2011
2012
6,201.0
5,921.0
7,601.0
đảm bảo xuất nhập khẩu vừa thu hút được đầu tư từ nước ngoài phục vụ cho
10
phát triển kinh tế, Chính phủ cần có các chính sách điều tiết ổn định tỷ giá, trong
phạm nghiên cứu của tiểu luận, nhóm chúng tôi đề xuất một số giải pháp sau:
Ngân hàng nhà nước cần có chính sách tỷ giá hiệu quả đến cán cân thương
mại trên cơ sở khuyến khích xuất khẩu. Để thực hiện điều đó cần phải điều
chỉnh tỷ giá sao cho xuất khẩu có lãi và kìm hãm lạm phát trong nước khi nâng
giá hoặc phá giá đồng nội tệ (lựa chọn theo thời điểm thích hợp). Dù áp dụng
chính sách tỷ giá nào thì cũng cần cần chú ý tỷ giá có ảnh hưởng nhiều đến gánh
nặng nợ quốc gia trong cơ cấu nợ hiện tại
Duy trì tỷ giá phù hợp với mục tiêu phát triển từng thời điểm đồng thời phải
nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế tránh bị tụt hậu so với các nước
trong khu vực.
Thực hiện chính sách tỷ giá linh hoạt, không nên neo giữ quá lâu đồng nội tệ
với một đồng ngoại tệ mạnh nào (như USD), cần xác lập một rổ ngoại tệ (bao
gồm nhiều loại ngoại tệ mạnh như: Đô la, Euro, Bảng Anh, Yên Nhật, France
Pháp…)
Việc xác lập một chính sách tỷ giá là cần thiết để tác động hiệu quả tới cán
cân thanh toán.Tỷ lệ dự trữ ngoại tệ, kiểm soát chặt chẽ thị trường tự do cũng là
một công cụ trọng yếu trong việc điều chỉnh tỷ giá.
Chính phủ nên có chính sách buộc các doanh nghiệp xuất khẩu phải bán lại
một lượng ngoại tệ để ngân hàng nhà nước dự trữ.
Thực hiện chích sách ổn định tỷ giá vì nó có tác động tích cực trong việc thu
hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, làm tăng cán cân nguồn vốn.
11