THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT ĐỐI
VỚI CÁC MẶT HÀNG THUỐC LÁ VÀ BIA RƯỢU NHẬP KHẨU
LỜI NÓI ĐẦU
Bối cảnh quốc tế và định hướng kinh tế – xã hội tác động đến xu hướng
hoàn thiện các luật thuế ở nước ta . Trong đó, Luật thuế giá trị gia tăng và
Luật thuế tiêu thụ đặc biệt cần thiết phải đạt được những mục tiêu, yêu cầu về
nội dung sau: Xu thế hội nhập, liên kết phát triển kinh tế trong khu vực và
tiến tới toàn cầu hóa kinh tế ngày càng ở mức độ cao là tất yếu khách quan.
Theo đó, các cam kết hội nhập quốc tế mà nước ta đã ký sẽ được thực hiện ở
mức độ cao hơn giai đoạn vừa qua như: Đối với Hiệp định CEPT/AFTA đến
năm 2006 sẽ hoàn thành cắt giảm thuế nhập khẩu hơn 80% dòng thuế xuống
mức thuế suất 0% và đến năm 2015 sẽ áp dụng cho tất cả các mặt hàng, trừ
một số mặt hàng có thể linh hoạt, nhưng thời hạn cuối cùng không vượt qua
năm 2018; đối với Hiệp định Việt – Mỹ thì 224 dòng thuế nhập khẩu sẽ giảm
bình quân 30%. Hiện nay, VN đang có các chương trình cắt giảm thuế quan
chuẩn bị cho tiến trình thực hiện tự do hóa thương mại và đầu tư APEC vào
năm 2020 và sẽ gia nhập WTO vào năm 2006. Điều này làm ảnh hưởng giảm
thuế nhập khẩu là rất lớn (dự kiến giảm thuế nhập khẩu do hội nhập đến năm
2010 sẽ lên tới 49,7 nghìn tỷ đồng). Trước tình hình đó, đòi hỏi hệ thống thuế
phải tiếp tục hoàn thiện cho phù hợp để vừa bảo hộ hợp lý có chọn lọc trong
sản xuất trong nước, khuyến khích đầu tư công nghệ mới, mở rộng thị trường
xuất khẩu, đảm bảo ổn định và tăng trưởng nguồn thu ngân sách nhằm bù đắp
phần thuế nhập khẩu bị cắt giảm do hội nhập kinh tế quốc tế.
Để VN trở thành một nước công nghiệp sau 20 năm nữa đòi hỏi nền
kinh tế phải đạt tăng trưởng cao một cách bền vững trên 8% trong một thời
gian dài và hướng tới mức tăng trưởng bình quân hai con số/năm; cơ cấu kinh
tế (tính theo GDP) tiên tiến với công nghiệp chiếm 45-50%, dịch vụ chiếm
1
40-50%; tích lũy từ nội bộ nền kinh tế đạt trên 30%/GDP, xuất khẩu tăng với
tốc độ gấp 1,5 lần trở lên so với tốc độ tăng GDP. Chất lượng cuộc sống vật
chất và văn hóa ngày càng tăng cao theo hướng văn minh hiện đại, nhận thức
sản phẩm, một phần thu nhập cho Nhà nước. Hình thức đóng góp ấy chính là
thuế.
Cùng với sự tồn tại và phát triển của Nhà nước, thuế đã trải qua quá
trình phát triển và hoàn thiện lâu dài, đồng thời người ta đã đưa ra rất nhiều
khái niệm về thuế khi đứng trên những góc độ khác nhau:
-Các nhà kinh điển cho rằng: “thuế là cái mà Nhà nước thu của dân
nhưng không bù lại”. Và “thuế cấu thành nên phần thu của chính phủ, nó
được lấy ra từ sản phẩm đất đai và lao động trong nước, xét cho cùng thì thuế
được lấy ra từ tư bản hay thu nhập của người chịu thuế”.
- Một số định nghĩa khác về thuế:
+Trong một số tài liệu có có viết: thuế là khoản đóng góp theo quy
định của pháp luật mà Nhà nước bắt buộc mọi tổ chức và cá nhân phải có
nghĩa vụ nộp vào cho ngân sách Nhà nước.
+ Trên một góc độ khác, người ta đã đưa ra khái niệm thuế như sau:
thuế là hình thức phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân
nhằm hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước để đáp ứng
nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng của Nhà nước.
1.1.1.2 Đặc điểm của thuế.
- Thứ nhất: thuế có tính cưỡng chế và tính pháp lý cao.
Đặc điểm này được thể chế hóa trong hiến pháp của mỗi quốc gia.
Trong các quốc gia, việc đóng thuế cho Nhà nước được coi là một trong
3
những nghĩa vụ bắt buộc của các tổ chức kinh tế và công dân cho Nhà nước.
Các tổ chức kinh tế và công dân thực hiện nghĩa vụ thuế theo các luật thuế cụ
thể được cơ quan quyền lực tối cao ở quốc gia đó quy định phù hợp với các
hoạt động và thu nhập của từng tổ chức kinh tế và công dân. Tổ chức hoặc cá
nhân nào không thực hiện đúng nghĩa vụ thuế của mình, tức là họ đã vi phạm
luật pháp của quốc gia đó.
Đặc điểm này phân biệt sự khác nhau giữa thuế với các khoản đóng
góp mang tính tự nguyện cho ngân sách Nhà nước và thuế đối với các khoản
thuế có phạm vi áp dụng hẹp( như thuế Chuyển quyền sử dụng đất, thuế Xuất
khẩu, thuế Nhập khẩu). Có những đối tượng nộp thuế chỉ kê khai và nộp một
loại thuế, song cũng có những đối tượng, trong một thời gian phải kê khai và
nộp nhiều loại thuế khác nhau (thuế giá trị gia tăng, thuế Thu nhập doanh
nghiệp, thuế Nhập khẩu), điều đó hoàn toàn tùy thuộc vào tính chất hoạt động
sản xuất kinh doanh của họ.
-Cơ sở thuế: là đối tượng tác động của một chính sách thuế.
Tùy theo mục đích và tính chất của từng sắc thuế, cơ sở thuế có thể là các
khoản thu nhập nhận được trong một thời gian nhất định của một tổ chức kinh
tế hoặc một cá nhân, tổng giá trị tài sản do tổ chức kinh tế hoặc cá nhân đó
nắm giữ, tổng trị giá một lô hàng hoặc một lượng giá trị nhất định của hàng
hóa, dịch vụ.
- Thuế suất: Là yếu tố quan trọng nhất của một sắc thuế. Có thể nói
thuế suất là linh hồn của một sắc thuế. Nó phản ánh mức độ điều tiết trên một
cơ sở thuế. Do đó, thuế suất thể hiện quan điểm của Nhà nước về yêu cầu
động viên nhằm khuyến khích hay không khuyến khích sự phát triển của một
ngành nghề, một loại sản phẩm cụ thể nào đó. Thuế suất là mức thu được ấn
định trên một cơ sở thuế bằng những phương pháp tính toán thích hợp. Từ đó
hình thành nên các loại thuế suất sau đây:
5
+ Thuế suất cố định: Mức thu được ấn định bằng một lượng thuế tuyệt
đối trên cơ sở thuế. Trong hệ thống các sắc thuế đang được áp dụng ở nước ta
hiện nay, thuế môn bài là loại thuế còn áp dụng thuế suất cố định. Tuy nhiên,
sắc thuế này cũng có tính chất đặc biệt : Mức thu cố định được ấn định cho
các đối tượng nộp thuế trong cả năm căn cứ vào mức thu nhập của đối tượng
nộp thuế.
Các sắc thuế áp dụng thuế suất cố định tuy đơn giản và dễ thực hiện
trong quá trình hành thu, song nó cũng có những nhược điểm lớn là không
đảm bảo được tính công bằng. Do vậy , hiện nay thuế suất này rất ít được áp
dụng ở các nước.
thuế này dễ dẫn đến phản ứng từ phía đối tượng nộp thuế, và như vậy tất yếu
làm giảm vai trò của thuế.
Hiện nay, thuế suất lũy tiến toàn phần rất ít được áp dụng.
+ Thuế suất lũy thoái: là loại thuế suất có tính chất ngược lại với thuế
suất lũy tiến, tức là mức thuế suất giảm dần trong khi cơ sở thuế lại tăng dần.
Ở một số nước trên thế giới, để khuyến khích các doanh nghiệp nhỏ và vừa
phát triển thành các công ty có quy mô lớn hơn, người ta đã áp dụng thuế suất
lũy thoái đánh trên lợi nhuận của công ty.
Nói chung, thuế suất lũy thoái là loại thuế suất không được áp dụng
phổ biến.
- Ngoài những yếu tố cơ bản trên đây, trong các sắc thuế, còn quy định
về giá tính thuế, các vấn đề miễn giảm hoặc ưu đãi về thuế trong những
trường hợp cụ thể nhằm thực hiện các vấn đề chính sách xã hội hoặc khuyến
khích phát triển kinh tế.
1.1.3 Phân loại thuế
Ta có thể phân loại thuế theo nhiều tiêu thức khác nhau tùy theo mục
đích nghiên cứu:
- Theo phạm vi điều chỉnh của thuế, người ta chia thuế thành 2 loại:
7
+ Thuế tổng hợp: Là loại thuế đãnh vào tất cả các thành phần của cơ sở
thuế mà không có trường hợp ngoại lệ không có miễn, giảm thuế.
+ Thuế có lựa chọn: Là loại thuế chỉ đánh vào một phần nhất định của
cơ sở thuế. Thuế thu nhập cá nhân có thể coi là một điển hình của loại thuế
này.
- Theo tính chất điều tiết của thuế, người ta chia thành: thuế trực thu va
thuế gián thu:
+ Thuế trực thu: là loại thuế mà người nộp thuế và người chịu thuế
đồng thời là một.Thuế trực thu trựctiếp điều tiết vào thu nhập của những
người nộp thuế ( thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp).
Loại thuế này có ưu điểm : nó trực tiếp điều tiết vào thu nhập của các tổ
đối ổn định cho Ngân sách Nhà nước, vì trong điều kiện nào thì tiêu dùng của
con người, của xã hội cũng luôn luôn diễn ra và có xu hướng ngày càng phát
triển, đa dạng hơn và phong phú hơn. Đối tượng quản lý thu thuế gián thu
cũng tập trung hơn so với thuế trực thu vì những ngừoi sản xuất, kinh doanh
hàng hóa là những người trực tiếp nộp thuế cho Nhà nước. Nghiệp vụ tính và
thu thuế do đó cũng đơn giản hơn, vì thế chi phí quản lý hành chính (gồm chi
phí trực tiếp và chi phí gián tiếp) đối với thuế gián thu cũng thấp hơn.
Bên cạnh những ưu điểm trên thì loại thuế này cũng còn tồn tại những
nhược điểm: đó là chưa đảm bảo được sự công bằng trong đánh thuế, nó còn
mang tính chất lũy thoái. Nhược điểm này là do thuê gián thu tính trong giá cả
hàng hóa tiêu thụ và dịch vụ. Mức thu cố định cho mỗi đơn vị sản phẩm hàng
hóa. Do vậy bất kể người tiêu dùng là ngưừoi giàu hay người nghèo, thu nhập
cao hay thấp, nếu cùng tiêu dùng một lượng hàng hóa như nhau thì cùng chịu
một số thuế như nhau. Số thuế này nếu so với thu nhập của người giàu và
người nghèo thì rõ ràng là mang tính chất lũy thoái.
Cơ cấu giữa thuế trực thu và thuế gián thu ở các nước có điều kiện kinh
tế khác nhau cũng rất khác nhau. Đối với những nước có nền kinh tế chưa
9
phát triển, thu nhập thấp thì thuế gián thu thường chiếm tỷ trọng lớn trong
tổng số thu bằng thuế của Nhà nước.
Trong quản lý thuế, khi xaay dựng hệ thống thuế ở các quốc gia, việc
chú trọng hơn đến loại thuế nào: các sắc thuế trực thu hay gián thu là tùy
thuộc rất nhiều vào tình hình kinh tế, xã hội và các chính sách của Nhà nước
trong từng thời kỳ.
- Theo cơ sở thuế:
Trong các sắc thuế đang được áp dụng trên thế giới, đối tượng tác động
(hay cơ sở thuế) của mỗi sắc thuế có khác nhau, do đó tác dụng của các sắc
thuế cũng rất khác nhau.
+ Thuế thu nhập:
Là thuế đánh vào thu nhập của các tổ chức kinh tế và thu nhập của các
ở các giai đoạn sẽ bằng với số thuế tính theo giá bán cho người tiêu dùng
cuối cùng.
Về nguyên tắc chỉ cần thu thu thuế ở khâu bán hàng cuối cùng, nhưng
thực tê rất khó phân biệt đâu là khâu tiêu dùng cuối cùng và đấu là trung gian,
do đó cứ có hành vi trao đổi hàng hóa là đánh thuế. Nếu đó là khâu trung gian
thì số thuế sẽ được tự động chuyển vào giá bán hàng cho người mua ở giai
đoạn sau.
- Thuế giá trị gia tăng có tính trung lập kinh tế cao, không chịu ảnh
hưởng bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế, là khoản được cộng thêm
vào giá bán của người cung cấp hàng hóa, dịch vụ.
-Thuế giá trị gia tăng không chịu ảnh hưởng bởi quá trình tổ chức và
phân chia các chu kỳ kinh tế nhiều hay ít nghĩa là tổng số thuế thu được ở các
giai đoạn bằng số thuế tính theo giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng.
1.2.1.3 Nội dung của chính sách thuế giá trị gia tăng hiện hành.
Theo các văn bản pháp luật hiện hành, nội dung cơ bản của thuế giá trị
gia tăng được quy định như sau:
a- Đối tượng chịu thuế:
11
Theo các quy định hiện hành, đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng là
hàng hóa, dịch vụ sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng ở VN như:
- Hàng hóa, dịch vụ được sản xuất và tiêu dùng trong nước.
- Hàng hóa. dịch vụ nhập khẩu để tiêu dùng trong nước.
- Hàng hóa, dịch vụ sản xuất được tiêu dùng nội bộ
- Hàng hóa, dịch vụ được mua bán dưới mọi hình thức, bao gồm cả
trao đổi bằng hiện vật.
b- Đối tượng nộp thuế
Các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ chịu thuế GTGT ở VN, không phân biệt ngành nghề, hình thức , tổ chức
kinh doanh và tổ chức, cá nhân khác có nhập khẩu hàng hóa, mua dịch vụ từ
nước ngoài chịu thuế GTGT đều là đối tượng nộp thuê GTGT.
lượng hàng hóa, giá tính thuế, thuế suất.
a. Số lượng hàng hóa: là số lượng hàng hóa thực tế.
b. Giá tính thuế giá trị gia tăng
Theo quy định của luật thuế GTGT, giá tính thuế GTGT được quy định
khác nhau tùy theo đối tượng chịu thuế là hàng nhập khẩu hay sản xuất trong
nước (hàng xuất khẩu có thuế suất GTGT là 0%)
Thuế GTGT phải nộp = Số lượng hàng hóa nhập khẩu x giá tính thuế x
thuế suất thuế GTGT.
Đối với hàng nhập khẩu, giá tính thuế GTGT là giá tính thuế hàng hóa
nhập khẩu cộng với thuế nhập khẩu (nếu có), cộng thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu
có).
Trường hợp đựoc giảm thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đăc biệt thì giá
tính thuế GTGT là giá tính thuế nhập khẩu cộng với thuế nhập khẩu, thuế tiêu
thụ đặc biệt tính theo mức thuế phải nộp sau khi đã được giảm.
13
Trường hợp được miễn thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt thì giá
tính thuế GTGT là giá tính thuế nhập khẩu.
c. Thuế suất thuế giá trị gia tăng: Luật thuế giá trị gia tăng quy định 3
mức thuế giá trị gia tăng là 0%, 5% và 10%.
* Mức thuế suất 0%: áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu bao
gồm cả hàng hoá gia công xuất khẩu; hoạt động xây dựng, lắp đặt các công
trình ở nước ngoài và công trình của doanh nghiệp chế xuất; hàng hoá bán
cho cửa hàng miễn thuế; hàng hoá, dịch vụ không thuộc diện chịu thuế GTGT
xuất khẩu (trừ vận tải Quốc Tế; hàng hoá, dịch vụ cung cấp trực tiếp cho vận
tải Quốc tế; dịch vụ du lịch lữ hành ra nước ngoài; dịch vụ bưu chính viễn
thông từ nước ngoài chuyển về VN; dịch vụ tín dụng, đầu tư tài chính, đầu tư
chứng khoán ra nước ngoài và các hàng hoá, dịch vụ nêu tại điểm 1.27 Mục
II, Phần A Thông tư 32/2007/TT-BTC).
* Mức thuế suất 5%: áp dụng đối với một số loại hàng hóa, dịch vụ đặc
biệt thiết yếu và được chỉ rõ tên trong Luật thuế GTGT, các văn bản hướng
- Trên cơ sở các quan điểm:
+ Không thu thuế tiêu thụ đặc biệt đối với một số hàng hóa, dịch vụ do
cơ sở sản xuất, gia công trực tiếp xuất khẩu hoặc bán, uỷ thác cho các cơ sở
kinh doanh xuất khẩu để xuất khẩu;
+ Không thu thuế tiêu thụ đặc biệt đối với một số hàng hóa được hưởng
ưu đãi thuế, một số hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế nhập khẩu, một
số hàng hóa thực chất không được lưu lại để tiêu dùng tại Việt Nam.
-Luật thuế tiêu thụ đặc biệt quy định các trường hợp sau hàng hóa
không thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt:
+ Hàng hóa do các cơ sở sản xuất, gia công trực tiếp xuất khẩu ra nước
ngoài bao gồm cả hàng hóa bán, gia công cho doanh nghiệp chế xuất.
+ Hàng hóa do cơ sở sản xuất bán hoặc ủy thác cho cơ sở kinh doanh
xuất khẩu để xuất khẩu theo hợp đồng kinh tế.
15
+ Hàng hoá mang ra nước ngoài để bán tại hội chợ triển lãm ở nước
ngoài.
+ Hàng hoá nhập khẩu trong một số trường hợp: Hàng viện trợ nhân
đạo, viện trợ ko hoàn lại. Quà tặng của các tổ chức, cá nhân nước ngoài cho
các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã
hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; ….
+ Hàng hóa chuyển khẩu, quá cảnh, mượn đường qua VN theo các hình
thức : hàng hóa được vận chuyển thẳng từ nước xuất khẩu đến nước nhập
khẩu không qua cửa khẩu VN; hàng hóa được vận chuyển từ nước xuất khẩu
đến nước nhập khẩu có qua cửa khẩu VN nhưng ko làm thủ tục nhập khẩu
vào VN và ko làm thủ tục nhập khẩu ra khỏi VN; …
+ Hàng hoá tạm nhập khẩu để tái xuất khẩu, nếu thực tái xuất khẩu
trong thời hạn chưa phải nộp thuế nhập khẩu theo chế độ quy định thì không
phải nộp thuế TTĐB tương ứng với số hàng thực tái xuất khẩu.
+ Hàng tạm nhập khẩu để dự hội chợ, triển lãm nếu thực tái xuất khẩu
trong thời hạn chưa phải nộp thuế nhập khẩu theo chế độ quy định.
quy định 8 loại hàng hóa và 5 loại dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ
đặc biệt. Cụ thể là:
- 8 mặt hàng chịu thuế TTĐB gồm:
+ Thuốc lá điếu, xì gà
+ Rượu
+ Bia
+ Ô tô
+ Xăng các loại, nap-ta (naptha), con-đen-sát (condensate), chế
phẩm tái hợp (reformade component) và các chế phẩm khác dùng để
pha chế xăng
+ Điều hoà nhiệt độ công suất từ 90.000 BTU trở xuống
+ Bài lá
+ Vàng mã, hàng mã
- 5 dịch vụ chịu thuế TTĐB gồm:
+ Kinh doanh vũ trường, massage, karaoke
+ Kinh doanh sòng bạc casino
+ Kinh doanh xổ số
17
+ Kinh doanh sân golf
+ Các trò chơi có đặt cược
1.2.2.5 Xác định thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp đối với hàng hóa nhập khẩu
Để xác định hàng hóa nhập khẩu có phải nộp thuế tiêu thụ đặc biệt
không, nếu phải nộp thì số phải nộp là bao nhiêu, phải căn cứ vào:
- Hàng hóa đó có phải là một trong những hàng hóa thuộc đối tượng
chịu thuế tiêu thụ đặc biệt;
- Số lượng hàng hóa nhập khẩu
- Giá tính thuế
- Thuế suất thuế tiêu thu đặc biệt đối với từng mặt hàng
Cụ thể:
Thuế TTĐB phải nộp = Số lượng hàng hóa nhập khẩu x Giá tính thuế
2.1.2 Các văn bản quy định về thuế giá trị gia tăng
1. Luật Thuế giá trị gia tăng số 02/1997/QH9 ngày 10/5/1997;
2. Luật thuế giá trị gia tăng số 07/2003/QH11 ngày 17/06/2003 sửa đổi
bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng số 02/1997/QH9 ngày
10/5/1997;
3. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng, thuế
Tiêu thụ đặc biệt số 57/2005/QH11 ngày 29/11/2005;
4. Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 10/12/2003 của Chính phủ quy
định chi tiết thi hành Luật thuế giá trị gia tăng số 02/1997/QH9 ngày
10/5/1997 và Luật thuế GTGT số 07/2003/QH11 ngày 17/6/2003 sửa đổi bổ
sung một số điều của Luật thuế GTGT số 02/1997/QH9 ngỳ 10/5/1997;
5. Nghị định số 156/2005/NĐ-CP ngày 16/12/2005 của Chính phủ suẳ
đổi bổ sung các Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật thuế tiêu thụ đặc
biệt và Luật thuế giá trị gia tăng.
6. Thông tư số 120/2003/TT-BTC ngày 12/12/2003 của Bộ tài chính
hướng dẫn thi hành Nghị định số 158/2003/NĐ-CP ngày 10/12/2003 của
Chính phủ;
7. Thông tư số 62/2004/TT-BTC ngày 24/6/2004 của Bộ tài chính
hướng dẫn thực hiện thuế suất thuế giá trị gia tăng theo danh mục Biểu thuế
nhập khẩu ưu đãi;
8. Thông tư số 115/TT-BTC ngày 16/12/2005 của Bộ tài chính hướng
dẫn thi hành Nghị định số 156/2005/NĐ-CP ngày 16/12/2005 của Chính phủ
sửa đổi bổ sung các Nghị định chi tiết thi hành Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và
Luật thuế giá trị gia tăng;
20