giải pháp đối việc áp đặt thuế chống bán phá giá đối với các mặt hàng xuất khẩu của việt nam - Pdf 24

Chơng I
Cơ sở khoa học của việc áp dụng thuế
chống bán phá giá
I. Khái niệm và ý nghĩa kinh tế của thuế chống bán
phá giá
1. Lịch sử và nguồn gốc của bán phá giá
Khái niệm bán phá giá trong thơng mại quốc tế có một lịch sử lâu
đời. Trong những cuộc tranh luận tại Mỹ năm 1791, Alexander Halinton đã
cảnh báo về các thủ pháp của các đối thủ cạnh tranh bán hạ giá tại các nớc
khác để nhằm mục tiêu chiếm lĩnh thị trờng. Những trờng hợp bán phá giá của
các nhà sản xuất Anh tại thị trờng mới mẻ ở nớc Mỹ đã đợc báo cáo. Cuộc
tranh luận của công chúng về vấn đề này, cùng nhiều nỗ lực của ngành lập
pháp nhằm đối phó với nó cũng đợc ghi nhận trong gần hết thế kỷ 19. Đầu
thế kỷ XX, Đạo luật chống bán phá giá cụ thể đầu tiên đợc ban hành ở Canada
năm 1904. Sau đó Luật chống bán phá giá đợc ban hành tại Newzealand năm
1905, Australia năm 1906 và Nam phi năm 1914. Nớc Mỹ có Đạo luật chống
bán phá giá năm 1916 và nớc Anh có vào năm 1921.
Khi xây dựng Hiệp định chung về Buôn bán và Thuế quan (GATT) năm
1947, một điều khoản đặc biệt về các trờng hợp chống bán phá giá đã đợc
soạn thảo. Điều VI của GATT cho phép các bên ký kết đợc sử dụng các sắc
thuế chống bán phá giá để bù trừ mức phá giá của các hàng nhập khẩu, miễn
là chứng minh đợc việc bán phá giá đang gây ra, hoặc đe doạ gây ra thiệt hại
vật chất cho các ngành công nghiệp nội địa có cạnh tranh. Cho đến nay, đây
vẫn là luật quốc tế cốt lõi về việc bán phá giá.
Tuy nhiên, một số quốc gia trong GATT nhận thấy rằng có một số nớc
đã áp dụng Luật chống phá giá để dựng lên những hàng rào thơng mại mới,
các thủ tục chống bán phá giá, những cách tính toán mức phá giá đã gây thiệt
hại làm hạn chế và lệch lạc các dòng thơng mại quốc tế. Tại vòng đàm phán
Kennedy của GATT (1962 - 1967) các bên ký kết GATT đã thảo luận bộ luật
chống bán phá giá, đặt ra một loạt các quy tắc về thủ tục và nguyên lý cho
việc áp dụng những sắc thuế chống bán phá giá nhằm hạn chế các thủ tục và

khẩu thấp hơn giá nội địa tức là có sự bán phá giá. Tuy nhiên, sự việc lại
không đơn giản chút nào khi một loạt câu hỏi đợc đặt ra cần giải quyết
khi so sánh giá để đảm bảo sự chính xác và công bằng: giá nội địa là giá
nào? Là giá bán buôn hay giá bán lẻ? Giá xuất khẩu là giá nào?
2.2 Thuế chống bán phá giá: là một sắc thuế mà nớc nhập khẩu đánh vào
một mặt hàng nhập khẩu đợc bán phá giá với mục đích ngăn cản sự tiếp
diễn của việc bán phá giá đó để tránh gây thiệt hại cho ngành sản xuất
mặt hàng tơng tự ở trong nớc.
3. ý nghĩa kinh tế của việc bán phá giá
Tác động của việc bán giá đợc đánh giá một cách đơn giản theo hình dới
đây. Trớc khi có việc hàng của nớc đợc bán vào thị truờng một nớc với giá
thấp hơn giá hiện hành, cung và cầu mặt hàng đó cân bằng ở điểm E, với giá
-2-
P1 và lợng tiêu thụ Q1, hoàn toàn là hàng sản xuất trong nớc. Tuy nhiên, khi
có nguồn hàng nớc ngoài bán với giá thấp hơn là P2, lợng tiêu thụ tăng lên
Q2, trong khi đó lợng hàng sản xuất trong nớc giảm xuống chỉ còn Q2, lợng
hàng nhập khẩu là Q2 - Q2.
Từ hình này cho thấy thặng d của ngời tiêu dùng tăng thêm một lợng
bằng diện tích hình thang ABDE, trong khi đó thặng d của nhà sản xuất trong
nớc giảm một lợng bằng diện tích hình thang ABCE.
Nh vậy có thể thấy tác động của việc bán phá giá là: gây thiệt hại cho
ngành sản xuất nội địa nhng lại mang lại lợi ích cho ngời tiêu dùng. Về tổng
thể, toàn xã hội đợc lợi bằng diện tích tam giác CDE.
Xuất phát từ thành kiến cố hữu, việc bán phá giá thờng đợc coi là có
tác động tiêu cực, thờng vì lý do làm giảm lợi nhuận của những ngời bán hàng
khác hoặc gây thiệt hại cho các nhà sản xuất cùng một mặt hàng của nớc nhập
khẩu, cho nên ngời ta thờng tìm biện pháp để chống lại hành động này. Tuy
nhiên, cần phải có sự phân tích thấu đáo bản chất của mọi trờng hợp bán phá
giá để xem có phải tất cả mọi hành động bán phá gía đều có hại hay không để
từ đó có biện pháp đối phó thích ứng.

chừng nào thị trờng đó còn chấp nhận đợc. Trong khi đó, do phải cạnh tranh ở
thị trờng nớc xuất khẩu, hãng đó chỉ có thể bán với giá đang tồn tại ở thị trờng
đó. Nh vậy đã xảy ra việc bán phá giá nh định nghĩa ở trên.
Nếu việc bán phá giá này không làm giá ở thị trờng nớc nhập khẩu thay
đổi (do cạnh trạnh ở đây hoàn hảo), sẽ không làm ảnh hởng đến lợi ích của n-
ớc nhập khẩu, và vì thế sẽ không cần thiết phải có biện pháp chống đối lại.
Tuy nhiên, nếu việc bán phá giá này xảy ra với một lợng lớn và trong
thời gian dài, làm giảm giá ở thị trờng nớc nhập khẩu sẽ gây tác động đến lợi
ích của nớc nhập khẩu. Ngời tiêu dùng sẽ đợc lợi từ giá thấp nhng ngợc lại các
nhà sản xuất và công nhân trong ngành công nghiệp đó sẽ bị thiệt hại vì lợi
nhuận và lơng bị giảm. Lợi ích cuối cùng của nớc nhập khẩu phụ thuộc vào
việc lợi ích của ngời tiêu dùng có lớn hơn thiệt hại của ngời sản xuất và công
nhân hay không.
Ngay cả trong trờng hợp về tổng thể nớc nhập khẩu bị thiệt hại cũng
khó có lý do để áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với hàng hoá của
hãng đó nhằm khắc phục thiệt hại bởi vì hãng đó có thể lập luận rằng do điều
kiện thị trờng của nớc nhập khẩu là cạnh tranh, bất kỳ hãng nào cũng có thể
tham gia thị trờng đó và làm cho giá giảm xuống. Tuy nhiên, để khắc phục
thiệt hại, nớc nhập khẩu có thể áp dụng các biện pháp đợc phép khác nh tự vệ.
Tr ờng hợp thứ hai: Giá xuất khẩu thấp hơn chi phí sản xuất
Trớc hết, để hiểu đợc ý nghĩa kinh tế của việc bán phá giá thấp hơn chi
phí, cần phân biệt các loại chi phí.
Thông thờng, chi phí sản xuất đợc phân biệt theo 2 loại: chi phí bình
quân (average cost) và chi phí lề (marginal cost).
Chi phí bình quân đợc tính bằng tổng tất cả các chi phí một hãng phải
chịu chia cho lợng sản phẩm sản xuất ra.
Chi phí lề là chi phí phải bỏ ra để sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm.
Sự phân biệt này có ý nghĩa quan trọng trong ngắn hạn khi nhiều loại
chi phí sản xuất là cố định, không phụ thuộc vào số lợng sản xuất, chỉ có một
phần nhỏ chi phí sản xuất là thay đổi khi lợng sản xuất thay đổi. Chính chi phí

radio nữa mỗi năm. Các chi phí cố định, theo giả định, đã đợc trang trải xong
với một triệu chiếc radio đầu tiền. Nếu nó có thể xoay xở bán đợc một triệu
chiếc radio thứ hai này mà không ảnh hởng gì tới giá bán một triệu chiếc radio
đầu tiên, vậy thì bất cứ mức giá nào cao hơn mức chi phí biến động 10 USD/
chiếc cũng làm tăng thêm lợi nhuận cho công ty. Thí dụ nó bán radio làm ca
đêm với giá 14 USD, thì nó lãi thêm 4 triệu USD (ngoài số lãi 4 triệu USD từ
một triệu chiếc radio đầu tiên làm ca ngày), tức là tăng gấp đôi lợi nhuận. Dĩ
nhiên, việc bán sản phẩm ca đêm không đợc ảnh hởng tới giá trị bán của một
triệu radio đầu tiên làm ca ngày. Điều này dẫn đến việc phải tìm kiếm một thị
trờng khác hẳn cho sản lợng của ca đêm. Thị trờng mới này phải đảm bảo
không dễ gì chuyển ngợc hàng trở lại thị trờng thứ nhất, nếu không thì giá bán
của radio làm ca ban ngày sẽ bị cắt xuống tới mức thấp hơn giá thành.
-5-
Một phơng cách để thực hiện việc trên là tính giá bán khác nhau ở
những khu vực khác nhau, với điều kiện chi phí vận chuyển hàng theo chiều
ngợc lại phải đủ cao để ngăn không cho ngời mua ở thị trờng giá rẻ đem bán
lại ở thị trờng giá đắt. Trong trờng hợp xuất khẩu sản phẩm, các Chính phủ có
thể dựng hàng rào thuế quan ngăn cản việc chở hàng hoá ngợc về thị trờng
gốc. Nh thế, nếu có một mức thuế quan 40% đánh lên radio nhập khẩu, thì sản
lợng của ca đêm có thể bán sang nớc ngoài sẽ chở radio ngợc về thị trờng giá
gốc để làm giảm giá bán tại thị trờng nội địa.
Có thể chứng minh những lập luận trên bằng trờng hợp điển hình về bán
phá giá đã xẩy ra trên thơng trờng quốc tế sau đây:
Từ những năm 1960, sáu công ty điện tử hàng đầu của Nhật Bản là
Hitachi, Misubishi, Masushita, Sanyo, Sharp và Toshiba đã
cạnh tranh gay gắt với nhau. Nhng ngày 10/09/1964, họ đã thoả thuận thống
nhất nâng giá bán, quy định sản lợng của mỗi công ty. Kết quả của việc thoả
thuận này là trong nhiều năm trời, ngời tiêu dùng ở Nhật phải trả 700 USD
cho một tivi màu, trong khi các công ty đó ở Mỹ chỉ với giá 400 USD cho một
tivi mầu cùng loại. Việc bán phá giá tivi Nhật ở Mỹ làm cho các công ty Mỹ

1.400
1.200
1.000
800
600
200
0
4 8 12 16 q(100.000)
Sản l ợng
P
USD
(giá)
PT =700
P
C
=450
P
N
=400
qA
qT qC
1
C
3
C
1 2 3
B
P
B
=500

vừa có thoả thuận vừa có xuất khẩu). Còn nếu so sánh khi các doanh nghiệp
cạnh tranh với nhau trong nớc, lợi nhuận đã tăng từ 0 triệu lên đến 65 triệu
USD. Nếu chi phí sản xuất tivi ở Mỹ là 400USD, tức là thấp hơn của Nhật bản
là 450USD, thì để có lãi, giá bán tivi của Mỹ phải trên 400USD. Nếu các
doanh nghiệp Nhật bản xuất khẩu sang Mỹ với giá 400USD thì rõ rằng là các
doanh nghiệp Mỹ không chịu đựng nổi. Và nh đã nêu ở trên, sau 30 năm bán
phá giá, Nhật bản đã đánh bại công nghiệp tivi của Mỹ, mặc dù chi phí sản
xuất của các công ty Nhật bản có thể cao hơn các công ty Mỹ.
Mô hình nêu trên đã chứng minh một khả năng là: Một nớc có trình độ
công nghệ không cao hơn, có chi phí sản xuất cao hơn vẫn có thể xuất khẩu
sang nớc có chi phí sản xuất thấp hơn, với một giá thấp hơn chi phí của nớc
chủ nhà, vừa chiếm đợc thị trờng mà vẫn gia tăng đợc lợi nhuận.
Bản chất kinh tế của chiến lợc này là: Hạn chế tối đa nhập khẩu, thoả
thuận trong nớc về giá và xuất khẩu với giá tiêu diệt địch thủ:
Bằng cách hạn chế nhập khẩu và thoả thuận giữa các doanh
nghiệp, các doanh nghiệp đẩy đợc giá trong nớc lên cao làm tăng
lợi nhuận (điều này làm thiệt hại ngời tiêu dùng trong nớc).
-7-
Bằng cách xuất khẩu để sử dụng tối đa công suất, các doanh
nghiệp lại giảm đợc chi phí, từ đó lại tăng thêm đợc lợi nhuận của
phần sản phẩm bán trong nớc. Chính phần lợi nhuận tăng thêm này
là nguồn tài chính để bù lỗi việc bán phá giá ở nớc ngoài.
Nh vậy, trong một cơ chế thị trờng có sự hỗ trợ của Nhà nớc nh trên
(khuyến khích thoả thuận, bảo hộ mậu dịch và trợ cấp sản xuất xuất khẩu),
chính ngời dân Nhật bản là ngời gánh chịu cái giá của sự mở rộng thị trờng
quốc tế của Nhật. Họ phải mua hàng với giá cao ở trong nớc để tài trợ cho các
doanh nghiệp bán phá giá ở nớc ngoài, còn bản thân các chủ doanh nghiệp vẫn
thu đợc lợi nhuận cao dù phải bán phá giá để chiếm thị trờng mới.
Cũng có những trờng hợp các hãng bán với giá thấp hơn chi phí lề.
Trong các trờng hợp này không thể xem xét nguyên nhân hành động của các

khẩu.
- Trợ cấp: Đặc điểm cơ bản của trợ cấp là hớng vào giúp đỡ phát triển
sản xuất. ở các nớc công nghiệp phát triển, các khoản trợ cấp chiếm
một nửa toàn bộ khối lợng tài trợ. Tỷ trọng của các khoản trợ cấp cho
từng ngành trong tổng số giúp đỡ của Chính phủ có sự khác nhau
đáng kể giữa các nớc. Nh ở Anh, ý, Hà Lan thì trợ cấp chiếm phần
lớn.
- u đãi về thuế: Những u đãi về thuế nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho
một số ngành trong một số loại hoạt động riêng biệt. Chúng đợc áp
dụng rộng rãi ở nhiều nớc, mặc dù ít khi đợc phản ánh trong các chỉ
tiêu của Chính phủ vì chúng là ngoại lệ khi áp dụng các thuế suất
chuẩn. ở Anh, Bỉ, Đan Mạch, giá trị của chúng không lớn, còn ở Mỹ
thì tổng số u đãi về thuế cho công nghiệp lớn gấp 3 lần khối lợng trợ
cấp.
- u đãi về tín dụng: Những u đãi về tín dụng là sự cho vay của Chính
phủ với điều kiện hấp dẫn hơn là tìm kiếm trên thị trờng vốn. ở các n-
ớc thuộc Cộng đồng Kinh tế Châu Âu khoảng 14% tổng khối lợng
giúp đỡ cho công nghiệp đợc thực hiện dới hình thức tín dụng u đãi.
Phần lớn khối lợng tín dụng của Chính phủ Nhật bản cấp cho các
hãng vừa và nhỏ với lãi suất thấp hơn ở lãi suất thị trờng vốn 0,5%.
Các Chính phủ cũng thờng xuyên bảo đảm các khoản tín dụng, tức là bảo
lãnh cho các công ty vay mà không trả nợ đợc. Phơng pháp tài trợ này thờng
dùng cho các hợp đồng xuất khẩu để đảm bảo cho các công ty xuất khẩu của
nớc mình. Theo đánh gái, quy mô của tài trợ này chiếm vào khoản từ 2% đến
8% tổng tài trợ công nghiệp ở các nớc công nghiệp phát triển.
- Tham gia của Chính phủ vào chi phí kinh doanh: Sự tham gia của
Chính phủ vào chi phí kinhdoanh thờng là 15% tổng tài trợ trở xuống.
Từ thập kỷ 80 đến nay, phần sở hữu Nhà nớc trong hoạt động kinh
doanh có xu hớng giảm. Phơng pháp này đợc sử dụng để bù đắp
những tổn thất trong những lĩnh vực kinh tế riêng đang suy thoái.

thiếu hụt này
Khi đó họ có thể áp dụng công cụ bán phá giá để giải quyết vấn đề thiếu
hụt ngoại tệ.
5.6 Một số nớc làm ra đợc một số sản phẩm với giá thành rất thấp là nhờ
sử dụng lao động trẻ em tiền lơng thấp và sử dụng lao động của tù
nhân làm hàng xuất khẩu
Theo số liệu của Văn phòng Quốc tế về lao động trẻ em (BIT) thì trên
toàn thế giới hiện có tới 250 triệu trẻ em từ 5 - 14 tuổi đang tham gia một hoạt
-10-
động kinh tế. Còn theo Quỹ Nhi đồng Liên Hợp quốc (UNICEF) thì tại các n-
ớc nghèo, cứ 4 trẻ em thì có một trẻ em làm việc nh ngời lớn.
Việc sử dụng lao động trẻ em và sử dụng lao động tù nhân ngoài việc
mang lại siêu lợi nhuận, nó còn là cách để cạnh tranh đối với các đối thủ làm
ăn. Nhờ giá nhân công rẻ mạt, ngời ta có thể hạ giá thành sản phẩm, xuất
khẩu hàng hoá bán phá giá ở nớc ngoài.
5.7 ở Việt Nam có hiện tợng một số công ty kinh doanh hàng nhập khẩu
trả chậm, đã bán phá giá nhằm dùng nguồn vốn nớc ngoài để kinh
doanh mặt hàng khác và hàng nhập lậu với khối lợng lớn
Để làm đợc việc đó, họ tìm cách bán phá giá trên thị trờng, có lúc bán ồ
ạt chịu lỗ từ 10 -20% so với giá vốn nhập khẩu để nhanh chóng thu hồi vốn, đi
buôn mặt hàng khác có lãi suất cao hơn, không những đủ bù lỗ số hàng nhập
trả chậm, mà còn có lãi lớn.
Năm 1995, ba mặt hàng quan trọng đã bị bán phá giá theo cách tính
toán trên là xăng dầu, thép xây dựng và phân bón. Cuối năm 1995, giá phân
Urê Indonesia nhập vào Việt nam đang ở mức cao (260-265USD/ tấn CIF
Cảng Sài gòn), nhng giá bán buôn cả tàu tại Tân Quy, Nhà Bè, Thành phố Hồ
Chí Minh liên tục giảm xuống chỉ còn 245đồng/kg.
Ngoài ra, hàng ngoại nhập lậu với khối lợng lớn trong những năm vừa
qua thu đợc lợi nhuận siêu ngạch từ việc trốn thuế nhập khẩu đã chiếm lĩnh thị
trờng với giá cạnh tranh so với hàng sản xuất trong nớc, loại khỏi thị trờng các

H
N
M
J
D
Q
Khi một sắc thuế T đợc áp dụng, làm cho giá trong nớc của sản phẩm tăng
lên một lợng bằng T. Do vậy, với các yếu tố về cầu của thị trờng nội địa đối
với sản phẩm đó không đổi, lợng tiêu thụ giảm từ Q1 xuống Q1, trong đó l-
ợng hàng sản xuất trong nớc tăng từ Q2 lên Q2, lợng hàng nhập khẩu giảm
xuống chỉ còn bằng Q1 - Q2. Nh vậy có thể thấy rõ tác động bảo hộ của thuế
nhập khẩu đối với sản xuất trong nớc: làm tăng giá trong nớc, giảm tiêu thụ
hàng nhập khẩu và tăng sản xuất trong nớc. Các nhà sản xuất trong nớc đợc h-
ởng lợi rõ ràng khi giá trị thặng d của họ đợc gia tăng thêm một lợng bằng
diện tích tứ giác ACJG.
Tuy nhiên, cùng với việc các nhà sản xuất đợc hởng lợi thì ngời tiêu
dùng lại bị thiệt hại: giá trị thặng d của họ bị giảm một lợng bằng diện tích tứ
giác ABHG.
Nhà nớc cũng đợc hởng lợi khi ngân sách thu vào từ thuế nhập khẩu
tăng một lợng bằng diện tích hình chữ nhật MNHJ.
Thế nhng, xét về tổng thể, toàn xã hội sẽ bị thiệt khi lợi ích mang lại
cho các nhà sản xuất trong nớc và Nhà nớc không thể bù đắp cho thiệt hại về
lợi ích của ngời tiêu dùng. Lợng thiệt hại của toàn xã hội bằng diện tích tam
giác CMJ cộng với diện tích tam giác NBH.
Ngoài tác động bảo hộ của thuế chống phá giá nh phân tích trên đây,
quá trình dẫn đến việc áp dụng thuế chống phá giá cũng phần nào có tác động
bảo hộ. Ví dụ, bản thân việc bắt đầu quá trình điều tra chống phá giá có nghĩa
là trong tơng lai rất có thể thuế chống phá giá sẽ đợc áp dụng, làm cho sản
phẩm là đối tợng điều tra trở nên ít hấp dẫn hơn đối với các nhà nhập khẩu,
nh vậy phần nào đã ngăn cản dòng hàng hoá nhập khẩu.

BĐPG có thể tính bằng giá trị tuyệt đối hoặc theo phần trăm công thức:
BĐPG = (GTTT-GXK)/GXK
1.3 Tính biên độ phá giá
Cách tính GTTT:
Trờng hợp không có giá nội địa của SPTT ở nớc xuất khẩu do:
- sản phẩm không đợc bán tại nớc xuất khẩu trong điều kiện thơng mại
thông thờng; hoặc
- có bán ở nớc xuất khẩu nhng trong điều kiện đặc biệt; hoặc
-13-
- số lợng bán ra không đáng kể (<5% số lợng SPTT bán ở nớc nhập
khẩu) thì:
GTTT = giá xuất khẩu SPTT sang nớc thứ ba; hoặc
GTTT = giá thành sản xuất + chi phí (hành chính, bán hàng, quản lý
chung ) + lợi nhuận
Trờng hợp SPTT đợc xuất khẩu từ một nớc có nền kinh tế phi thị trờng
(giá bán hàng và giá nguyên liệu đầu vào và do chính phủ ấn định) thì các quy
tắc trên không đợc áp dụng để xác định GTTT.
Cách tính GXK:
GXK = giá mà nhà sản xuất nớc ngoài bán SPTT cho nhà nhập khẩu đầu tiên.
Trờng hợp giá bán SPTT không tin cậy đợc do:
- giao dịch xuất khẩu đợc thực hiện trong nội bộ công ty; hoặc
- theo một thoả thuận đền bù nào đó
thì:
GXK = giá mà sản phẩm nhập khẩu đợc bán lần đầu tiên cho một ngời
mua độc lập ở nớc nhập khẩu.
So sánh GTTT và GXK:
Để so sánh một cách công bằng GTTT và GXK, Hiệp định quy định
nguyên tắc so sánh nh sau:
So sánh hai giá này trong cùng điều kiện thơng mại (cùng xuất x-
ởng/ bán buôn/ bán lẻ), thờng lấy giá ở khâu xuất xởng;

ớc nhập khẩu.
2. Xác định thiệt hại
2.1.Định nghĩa thiệt hại:
Thiệt hại về vật chất đối với một ngành sản xuất trong nớc (thiệt
hại hiện tại); hoặc
Nguy cơ gây thiệt hại về vật chất đối với một ngành sản xuất
trong nớc (thiệt hại tơng lai); hoặc
Làm trì trệ sự phát triển một ngành sản xuất trong nớc (không có
quy định cụ thể)
Nh vậy, để xác định thiệt hại cần xem xét các nhân tố sau:
Khối lợng hàng nhập khẩu bị bán phá giá: có tăng một cách
đáng kể không?
Tác động của hàng nhập khẩu đó lên giá SPTT: Giá của hàng
nhập khẩu đó:
có rẻ hơn giá SPTT sản xuất ở nớc nhập khẩu nhiều
không?
-15-
có làm sút giá hoặc kìm giá SPTT ở thị trờng nớc nhập
khẩu không?
Khi sản phẩm thuộc diện điều tra đợc nhập khẩu từ nhiều nớc: đánh giá
gộp tác động nếu BĐPG >= 2% GXK và khối lợng hàng nhập khẩu từ mỗi nớc
>= 3% khối lợng nhập khẩu SPTT.
Việc khảo sát tác động của hàng nhập khẩu bị bán phá giá đối với một
ngành sản xuất trong nớc phải xem xét tất cả các yếu tố kinh tế có thể ảnh h-
ởng đến ngành sản xuất đó, gồm những yếu tố sau:
Năng suất
Thị phần
Biên độ phá giá
Giá nội địa ở nớc nhập khẩu
Suy giảm thực tế và nguy cơ giảm doanh số bán hàng

Nhà sản xuất và nhà nhập khẩu/nhập khẩu có liên quan với nhau:
ngành sản xuất trong nớc là các nhà sản xuất còn lại.
Lãnh thổ nớc nhập khẩu bị chia thành nhiều thị trờng riêng: các nhà
sản xuất ở mỗi thị trờng có thể coi là một ngành sản xuất riêng
nếu:
+ bán toàn bộ hoặc phần lớn sản phẩm liên quan ra thị trờng đó;

+ nhu cầu của thị trờng đó đối với SPTT nhập khẩu từ nớc khác
là không đáng kể.
4. Nộp đơn yêu cầu tiến hành chống phá giá
Việc điều tra nhằm xác định sự tồn tại, mức độ và tác động của một số
sản phẩm bị bán phá giá sẽ đợc tiến hành khi:
có đơn bằng văn bản của ngành sản xuất trong nớc hoặc đại diện
cho ngành sản xuất trong nớc đề nghị điều tra phá giá; hoặc
không có đơn bằng văn bản của ngành sản xuất trong nớc hoặc đại
diện cho ngành sản xuất trong nớc hoặc đại diện cho ngành sản xuất
trong nớc nhng cơ quan điều tra có đầy đủ bằng chứng về việc bán
phá giá, thiệt hại và mối liên hệ giữa hai yếu tố này.
Đơn đề nghị điều tra phá giá phải bao gồm những thông tin sau:
Tên ngời nộp đơn, số lợng và giá trị của sản phẩm tơng tự do ngời
nộp đơn sản xuất trong nớc. Nếu đơn đợc nộp đại diện cho ngành
sản xuất trong nớc thì đơn phải nêu danh sách tất cả các nhà sản
-17-
xuất sản phẩm tơng tự trong nớc và số lợng, giá trị của các sản phẩm
tơng tự trong nớc và số lợng, giá trị của các sản phẩm tơng tự do các
nhà sản xuất này sản xuất;
Mô tả sản phẩm đang nghi ngờ bị bán phá giá, xuất xứ hàng hoá,
tên nhà xuất khẩu hoặc nhà sản xuất nớc ngoài;
Giá sản phẩm liên quan khi tiêu thụ ở thị trờng trong nớc sản xuất
hoặc nớc xuất khẩu, hoặc giá mà sản phẩm liên quan đợc bán cho

quan đến cuộc điều tra. Thời hạn trả lời câu hỏi điều tra là 30 ngàyvà có thể
đợc gia hạn thêm 30 ngày hoặc lâu hơn nếu cần thiết.
Ngay khi bắt đầu điều tra, cơ quan điều tra sẽ gửi nguyên văn đơn đề
nghị điều tra cho các nhà xuất khẩu và cơ quan liên quan ở nớc xuất khẩu và
các bên quan tâm khi có yêu cầu.
Trong suốt quá trình điều tra, cơ quan điều tra sẽ tạo đầy đủ điều kiện
cho các bên quan tâm bảo vệ quyền lợi của mình, gặp các bên có quyền lợi
đối nghịch để trao đổi quan điểm và đa ra thoả thuận. Các bên quan tâm có
quyền trình bày các thông tin khác bằng miệng, nhng sẽ chỉ đợc cơ quan
điều tra lu ý tới khi đợc soạn lại băng văn bản và gửi cho các bên quan tâm
khác.
Bất kỳ thông tin nào có tính bí mật (chẳng hạn, bị đối thủ cạnh tranh lợi
dụng hoặc gây tác hại cho ngời cung cấp thông tin) hoặc đợc các bên cung
cấp một cách bí mật sẽ không đợc tiết lộ nếu không đợc bên cung cấp cho
phép.
Cơ quan điều tra có thể tiến hành điều tra ở nớc ngoài nếu cần thiết để
thẩm định các thông tin cung cấp hoặc để tìm hiểu thêm chi tiết với điều kiện
đợc sự đồng ý của các công ty liên quan và thông báo cho đại diện chính phủ
nớc này và các nớc không phản đối.
Cơ quan điều tra sẽ tính biên độ phá giá riêng cho từng nhà xuất khẩu
hoặc nhà sản xuất sản phẩm đang bị điều tra. Trờng hợp không tính đợc biên
độ phá giá riêng do số nhà xuất khẩu, nhà sản xuất, nhà nhập khẩu hoặc loại
sản phẩm liên quan quá lớn thì cơ quan điều tra có thể giới hạn diện điều tra
tới một số nhà sản xuất, xuất khẩu hay nhập khẩu hoặc giới hạn ở một số loại
sản phẩm nhất định bằng cách sử dụng mẫu thống kê, hoặc giới hạn ở tỷ lệ
phần trăm lớn nhất của khối lợng hàng xuất khẩu từ nớc liên quan.
Việc chọn các nhà sản xuất, nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu hoặc loại sản
phẩm để điều tra giới hạn sẽ đợc tiến hành trên cơ sở tham khảo ý kiến và có
sự đồng ý của các nhà sản xuất, nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu có liên quan.
Trong trờng hợp cơ quan điều tra giới hạn diện điều tra nh nêu trên, họ

7. Cam kết giá
Việc điều tra có thể ngừng hoặc kết thúc mà không cần áp dụng biện
pháp tạm thời hoặc thuế chống bán phá giá nếu một nhà xuất khẩu tự nguyện
cam kết tăng giá lên hoặc ngừng xuất khẩu phá giá vào khu vực thị trờng
đang điều tra và đợc cơ quan điều tra nhất trí rằng biện pháp này sẽ khắc
phục đợc thiệt hại. Mức giá tăng không nhất thiết phải lớn hơn mà thờng là
nhỏ hơn biên độ phá giá nếu nh đã đủ để khắc phục thiệt hại cho ngành sản
xuất trong nớc.
Cơ quan điều tra sẽ không chấp nhận cho các nhà xuất khẩu cam kết giá
nếu thấy việc cam kết không khả thi, chẳng hạn nh khi số lợng nhà xuất khẩu
thực tế quá lớn. Trong trờng hợp này, cơ quan điều tra sẽ giải thích rõ lý do
không chấp nhận cam kết giá với các nhà xuất khẩu.
Nếu cơ quan điều tra chấp nhận việc cam kết giá thì cuộc điều tra phá
gá và thiệt hại vẫn có thể đợc hoàn tất nếu nhà xuất khẩu muốn nh vậy và cơ
quan điều tra đồng ý. Trong trờng hợp này, nếu điều tra đi đến kết luận là
-20-
không có phá giá hoặc không gây thiệt hại thì việc cam kết giá sẽ đơng nhiên
chấm dứt, trừ khi kết luận trên đợc rút ra trong bối cảnh đã cam kết giá rồi.
Trờng hợp này cam kết giá sẽ duy trì trong thời hạn hợp lý.
Cơ quan điều tra có thể đề nghị nhà xuất khẩu cam kết giá nhng nhà
xuất khẩu không bắt buộc phải cam kết.
Các cơ quan hữu quan của nớc nhập khẩu có thể yêu cầu bất kỳ nhà
xuất khảu nào đã chấp nhận cam kết giá cung cấp thông tin định kỳ về thực
hiện cam kết giá. Trờng hợp nhà xuất khẩu vi phạm cam kết giá, cơ quan
điều tra có thể lập tức áp dụng biện pháp tạm thời trên cơ sở các thông tin mà
họ có (best information).
8. áp dụng thuế và thu thuế chống bán phá giá
Việc quyết định có đánh thuế chống bán phá giá hay không và đánh thuế
tơng đơng hay nhỏ hơn biên độ phá giá sẽ do cơ quan điều tra của nớc nhập
khẩu quyết định.

sẽ đợc thực hiện trong vòng 90 ngày kể từ khi ra quyết định hoàn
thuế.
Thu thuế với hàng nhập khẩu từ các nhà xuất khẩu không điều tra:
Trờng hợp số nhà xuất khẩu/sản xuất sản phẩm bán phá giá quá lớn,
không tính riêng biên độ phá giá thì đợc cơ quan chức năng sẽ giới hạn việc
điều tra ở một số nhà xuất khẩu/sản xuất nhất định trên cơ sở trao đổi với
các nhà xuất khẩu/sản xuất liên quan.
Mức thuế đối với hàng nhập khẩu từ các nhà xuất khẩu không điều
tra không đợc vợt quá bình quân gia quyền BĐPĐ của các nhà xuất khẩu
có điều tra.
Sau mỗi đợt rà soát, hàng nhập khẩu thuộc diện không điều tra sẽ đợc
hoàn lại khoản thuế bằng:
Bình quân gia quyền BĐPG (cũ) - bình quân gia quyền BĐPG (mới)
Khi có yêu cầu từ các nhà xuất khẩu không điều tra, cơ quan chức năng
sẽ tính lại mức thuế bằng:
Bình quân gia quyền GTTT (nhà XK có điều tra) - giá xuất khẩu
(nhà XK không điều tra)
Phải loại trừ các biên độ bằng không và biên độ tối thiểu (2%) khi tính
bình quân gia quyền BĐPG.
Hàng nhập khẩu mới, nghĩa là:
cha đợc xuất khẩu sang nớc nhập khẩu trong giai đoạn điều
tra
nhập khẩu từ nguồn không liên quan đến các nhà xuất khẩu
đang bị đánh thuế chống bán phá giá trong thời gian tiến
hành rà soát.
Tuy nhiên, hàng nhập khẩu này có thể bị truy thu thuế kể từ ngày bắt đầu
rà soát nếu có quan chức năng xác định đợc là có bán phá giá.
9. Truy thu thuế
Các biện pháp tạm thời và thuế chống bán phá giá chỉ đợc áp dụng với
sản phẩm đợc đa ra bán sau thời điểm quyết định áp dụng biện pháp tạm

thì khoản tiền đặt cọc khi áp dụng biện pháp tạm thời séc đ-
ợc hoàn trả.
10. Rà soát
Sau khi áp dụng thuế chống bán phá giá một thời gian, cơ quan chức
năng sẽ tự tiến hành rà soát việc tiếp tục đánh thuế hoặc theo đề nghị của bất
kỳ bên liên quan nào về vấn đề:
có cần tiếp tục đánh thuế không; hoặc
nếu ngừng đánh thuế hoặc thay đổi mức thuế thì có dẫn đến thiệt hại
không.
Cơ quan chức năng sẽ quyết định ngừng đánh thuế nếu, sau khi rà soát,
xác định đợc rằng không cần tiếp tục đánh thuế nữa.
-23-
Về nguyên tắc, thuế chống bán phá giá chỉ đợc áp dụng tối đa trong 5
năm. Trớc khi hết thời hạn trên, cơ quan chức năng sẽ tiến hành tự rà soát
hoặc theo đề nghị của đại diện ngành sản xuất trong nớc. Nếu nh sau khi rà
soát (thờng trong vòng 12 tháng), cơ quan chức năng xác định đợc là việc
ngừng đánh thuế có thể dẫn đến thiệt hại thì có thể tiếp tục đánh thuế.
11. Thông báo công khai và giải thích các kết luận
Khi cơ quan điều tra thấy rằng sẽ có đầy đủ bằng chứng để tiến hành
điều tra phá giá thì họ sẽ gửi thông báo cho nớc hoặc nớc có sản phẩm bị điều
tra và các bên có quan tâm khác. Thông báo này gồm những thông tin sau:
tên (các) nớc xuất khẩu sản phẩm có liên quan;
ngày bắt đầu điều tra;
căn cứ về hành vi phá giá ở trong đơn xin điều tra;
tóm tắt các yếu tố đợc coi là cơ sở xác định thiệt hại;
địa chỉ liên hệ để liên lạc với đại diện của các bên;
thời hạn đa ra quan điểm cho các bên
Cơ quan điều tra phải gửi thông báo trong các trờng hợp sau:
kết luận sơ bộ hay kết luận cuối cùng về việc có xảy ra phá giá hay
không;

xét tác động của việc bán phá giá nêu trong đơn tới toàn bộ ngành sản xuất
liên quan của nớc thứ ba, nghĩa là không chỉ đánh giá thiệt hại do tác động
của việc bán phá giá đối với xuất khẩu của ngành đó sang nớc nhập khẩu hay
thậm chí đối với toàn bộ xuất khẩu của ngành đó.
Việc quyết định có tiến hành điều tra hay không sẽ do nớc nhập khẩu
quyết định.
14. Thành viên đang phát triển
Các thành viên phát triển của WTO sẽ lu ý đến tình hình riêng của thành
viên đang phát triển khi xem xét áp dụng thuế chống bán phá giá.
15. Uỷ ban chống bán phá giá
Uỷ ban chống bán phá giá bao gồm đại diện thành viên WTO đợc thành
lập nhằm thực hiện các nghĩa vụ quy định trong Hiệp định này và tạo điều
kiện cho các thành viên trao đổi với nhau vèe các vấn đề liên quan đến việc
thực hiện Hiệp định Chống bán phá giá. Uỷ ban này họp ít nhất 2 lần mỗi
năm, Ban Th ký WTO sẽ thực hiện chức năng th ký cho Uỷ ban này.
Các thành viên WTO phải thông báo cho Uỷ ban chống bán phá giá:
ngay lập tức khi họ áp dụng các biện pháp chống bán phá giá tạm
thời hay lâu dài;
nửa năm một lần (theo mẫu quy định) về các biện pháp chống bán
phá giá mà họ áp dụng trong vòng 6 tháng trớc đấy. Các thành viên
có thể tham khảo thông báo này tại Ban th ký WTO;
-25-

Trích đoạn Cách tính thuế và truy thu thuế Các cơ quan chức năng Xác định phá giávà thiệt hạ Thực tiễn và nguyên nhân Trung Quốc bị áp dụng nhiều nhất biện pháp chống bán phá giá trên thị trờng Quốc tế Thực trạng bán phá giá hàng nhập khẩu của nớc ngoài ở Việtnam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status