khảo sát thành phần loài tôm phân bố ở huyện giá rai tỉnh bạc liêu - Pdf 32

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN

DƯƠNG THÚY AN

KHẢO SÁT THÀNH PHẦN LOÀI TÔM
PHÂN BỐ Ở HUYỆN GIÁ RAI TỈNH BẠC LIÊU

Trung tâm Học liệu ĐHLUẬN
Cần VĂN
ThơTỐT
@ NGHIỆP
Tài liệuĐẠI
học
tập và nghiên cứu
HỌC
NGÀNH KHAI THÁC THỦY SẢN

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ths. MAI VIẾT VĂN
Ths. VÕ THÀNH TOÀN

2006


TÓM TẮT

Trung

Để bổ sung các dẫn liệu về thành phần loài tôm ở Đồng Bằng Sông Cửu Long
(ĐBSCL), đề tài “Khảo sát thành phần loài tôm phân bố huyện Giá Rai, tỉnh Bạc

so với cứu
các
nghiên cứu trước. Sản lượng thu được vào đợt I (3623,6 g) cao hơn đợt II
(1270,29 g).
Qua khảo sát cho thấy thành phần loài tôm khá phong phú. Sản lượng của mỗi
loài cao. Do đó cần phải có các biện pháp cụ thể trong việc khai thác để bảo vệ
nguồn lợi tôm tự nhiên.

i


MỤC LỤC
Trang
Tóm tắt ....................................................................................................................i
Chương 1: Giới thiệu .............................................................................................1
Chương 2: Lược khảo tài liệu ................................................................................3
2.1 Điều kiện tự nhiên của tỉnh Bạc Liêu ........................................................3
2.1.1 Vị trí địa lý tự nhiên ........................................................................3
2.1.2 Đặc điểm khí tượng thủy văn .........................................................4
2.2 Đặc điểm môi trường sống thủy sinh vật ...................................................5
2.3 Nguồn lợi thủy sản Bạc Liêu ...................................................................10
2.4 Hệ thống phân loại ...................................................................................11
2.5 Lịch sử nghiên cứu về xác định phân loại tôm ........................................12
2.6 Dẫn liệu về thành phần loài tôm ở đồng bằng sông Cửu Long ...............15
2.6.1 Thành phần loài tôm ở đồng bằng sông Cửu Long ......................15
2.6.2 Phân bố theo điều kiện sinh thái ...................................................15
Trung tâm Học
liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu ...................................................................18
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu ...........................................................18

4.4.3 Biến động nguồn lợi tôm theo theo kích cỡ ..................................63
Chương 5: Kết luận và đề xuất ............................................................................65
Kếtliệu
luận ...................................................................................................65
Trung tâm5.1.
Học
ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
5.2. Đề xuất ý kiến .........................................................................................65
Tài liệu tham khảo ...............................................................................................66
Phụ lục A: Môi trường nước ................................................................................68
Phụ lục B: Số liệu xử lý nguồn lợi tôm ...............................................................71
Phụ lục C: Các chỉ tiêu đo đạc về hình thái thành phần loài tôm ........................80

iv


DANH SÁCH BẢNG
Trang

Trung

Bảng 4.1: Biến động thành phần loài tôm qua các đợt thu mẫu ............................ 33
Bảng 4.2: Số lượng và sản lượng của mỗi loài qua các đợt thu mẫu ................... 35
Bảng 4.3: Biến động sản lượng trên đơn vị đánh bắt vào tháng 3 ........................ 62
Bảng 4.4: Biến động sản lượng trên đơn vị đánh bắt vào tháng 6 ........................ 63
Phụ lục A.1: Số liệu các yếu tố thủy lý, thủy hóa môi trường đợt I (tháng 3) ..... 68
Phụ lục A.2: Số liệu các yếu tố thủy lý, thủy hóa môi trường đợt II (tháng 6) .... 69
Phụ lục A.3: Ghi chú chi tiết vị trí các điểm thu mẫu .......................................... 70
Phụ lục B.1: Số liệu xử lý nguồn lợi tôm đợt I (tháng 3) ...................................... 71
Phụ lục B.2: Số liệu xử lý nguồn lợi tôm đợt II (tháng 6) .................................... 75

Trang

Trung

Hình 3.1: Sơ đồ thu mẫu khu vực tỉnh Bạc Liêu .............................................. 18
Hình 3.2: Lưới cào Rường ................................................................................ 20
Hình 4.1.1: Biến động nhiệt độ vào tháng 3 ..................................................... 22
Hình 4.1.2: Biến động nhiệt độ vào tháng 6 ..................................................... 22
Hình 4.2.1: Biến động pH vào tháng 3 ............................................................. 24
Hình 4.2.2: Biến động pH vào tháng 6 ............................................................. 24
Hình 4.3.1: Biến động độ mặn vào tháng 3 ...................................................... 25
Hình 4.3.2: Biến động độ mặn vào tháng 6 ...................................................... 25
Hình 4.4.1: Biến động độ trong vào tháng 3 ..................................................... 26
Hình 4.4.2: Biến động độ trong vào tháng 6 ..................................................... 27
Hình 4.5.1: Biến động oxy hoà tan tháng 3 ...................................................... 27
Hình 4.5.2: Biến động oxy hoà tan tháng 6 ...................................................... 28
Hình 4.6.1: Biến động H2S vào tháng 3 ............................................................ 29
Hình 4.6.2: Biến động H2S vào tháng 6 ............................................................ 29
Hình 4.7.1: Biến động NH4+ vào tháng 3 ......................................................... 30
Hình 4.7.2: Biến động NH4+ vào tháng 6 ......................................................... 30
3Hình Học
4.8.1: liệu
Biến động
tháng
.........................................................
4 vào
tâm
ĐH PO
Cần
Thơ

NH4+: Ammonia.
PO43-: Lân hòa tan.
CPUE: Sản lượng trên đơn vị đánh bắt.
CR: công thức răng chủy.

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

vii


CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU
Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) với thế mạnh là sản xuất nông nghiệp
được coi là vùng “rừng vàng, biển bạc, đất phì nhiêu”. Điều kiện khí hậu thuận
lợi, hệ thống sông ngòi dày đặc của ĐBSCL đã tạo cho các tỉnh thuộc khu vực
này có tiềm năng rất lớn về thủy sản (đặc biệt là con tôm), mà Bạc Liêu là một
trong số những tỉnh đó.

Trung

Bạc Liêu là một tỉnh có tiềm năng kinh tế khá đa dạng và phong phú, với hơn
56 km bờ biển, hơn 1.100 phương tiện đánh bắt thủy sản ngoài khơi, có diện
tích nuôi trồng thủy sản trên 118.000 ha lớn thứ hai trong cả nước (chỉ đứng
sau tỉnh Cà Mau). Tổng doanh thu của ngành thủy sản đã đưa nền kinh tế của
tỉnh vươn lên mạnh mẻ. Theo báo cáo của Sở Thủy sản năm 2005, tổng sản
lượng thủy sản là 172.500 tấn trong đó tôm chiếm 74.392 tấn, kim ngạch xuất
khẩu trực tiếp của tỉnh là 105.169.561 USD và hàng xuất khẩu chủ yếu là tôm
chiếm tỷ lệ 95%. Điều này cho thấy con tôm có vai trò rất quan trọng trong
ngành thủy sản. Tuy nhiên trong những năm gần đây nguồn lợi về tôm đã bị
suy giảm. Sản lượng khai thác tôm biển thấp hơn so với những năm trước.


1


Nội dung chính của đề tài
(i). Theo dõi những biến động của các yếu tố thủy lý, thủy hóa tại điểm nghiên
cứu.
(ii). Khảo sát sự phân bố thành phần loài tôm tại khu vực nghiên cứu.
(iii). Mô tả đặc điểm hình thái của các loài tôm phân bố ở khu vực nghiên cứu.
(iv). Đánh giá sự biến động nguồn lợi tôm qua các đợt thu mẫu.

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

2


CHƯƠNG 2
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện tự nhiên của tỉnh Bạc Liêu
2.1.1 Vị trí địa lý tự nhiên
Bạc Liêu nằm về phía Nam-Đông Nam của Đồng Bằng Nam Bộ, phía Bắc
giáp tỉnh Hậu Giang, phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Sóc Trăng, phía Đông
Nam giáp với biển Đông, phía Tây-Tây Nam giáp tỉnh Cà Mau, phía Tây và
Tây Bắc giáp tỉnh Kiên Giang. Diện tích tự nhiên của tỉnh là 248.268,6 ha
(Cục thống kê Bạc Liêu, 3/1999) được giới hạn từ 9o00’ đến 9o38’09’’ vĩ độ
Bắc và từ 105o51’54’’ kinh độ Đông.
Tổng chiều dài bờ biển khoảng 56 km, chiếm 72% bờ biển ĐBSCL (780 km)
và chiếm 1,7% chiều dài bờ biển cả nước. Bờ biển tỉnh Bạc Liêu ít lồi lõm có
3 cửa đổ ra biển gồm: cửa kênh 30-4, cửa sông Cái Cùng và cửa sông Gành
Hào.

lợi để đưa nước biển vào nội đồng không cần nhiều đến hệ thống bơm và nuôi
trồng thủy sản nước lợ có thể thực hiện ở những vùng rộng lớn nằm sâu trong
đất liền. Tuy vậy tính chất này của địa hình cũng có nhược điểm là khả năng
thay nước ở các kênh rạch theo thủy triều rất thấp. Các tạp chất và chất bẩn
thải ra từ đầm nuôi theo kênh thoát chưa kịp đẩy ra biển xa, đã bị thủy triều
đẩy trở lại vào nội đồng, đó là mầm bệnh tật tiềm tàng.
3


2.1.2 Đặc điểm khí tượng thủy văn
Vùng biển Bạc Liêu cùng nằm trong nội chí tuyến, bắc bán cầu. Vì vậy về cơ
bản khí hậu của vùng biển này tuân thủ chế độ khí hậu của biển Đông là khí
hậu nhiệt đới, gió mùa, cận xích đạo và hoạt động của bão Tây Thái Bình
Dương hình thành từ phía Đông Philippinnes. Một năm có 2 mùa chính: mùa
mưa từ tháng 5 đến tháng 11với lượng mưa trung bình là 1.800 mm, mùa khô
từ tháng 12 đến tháng 4, mùa này nước trong các kênh rạch cao, độ mặn cao
phù hợp cho việc cấp nước để nuôi tôm.
+ Nhiệt độ không khí trung bình 26,5oC, nhiệt độ cực đại vào các tháng
4 và 5, đạt cực tiểu vào tháng 1. Độ chênh nhiệt độ không khí giữa tháng cao
nhất và thấp nhất khoảng 2,8÷3oC. Nhờ đặc điểm này nghề nuôi tôm biển có
thể diễn ra quanh năm. Đây là lợi thế của các tỉnh Nam Bộ so với các tỉnh Bắc
Bộ và Bắc Trung Bộ.
Nhiệt độ nước biển bao giờ cũng cao hơn nhiệt độ không khí từ 2÷3oC
trong các mùa. Nhiệt độ nước biển ở Côn Đảo cao nhất trong tháng 5 (30,1oC)
và thấp nhất vào tháng 1 (25,7 oC).

Trung

+ Độ mặn: độ mặn có liên quan trực tiếp đến nghề nuôi tôm và nuôi
Artemin. Độ mặn vùng ven bờ giảm từ tháng 3 đến tháng 8 sau đó tăng dần

thống cung cấp và tiêu thoát nước phục vụ cho canh tác nông nghiệp, nuôi
trồng thủy sản, làm muối và nuôi Artemia…
- Kênh Nhà Mát chạy từ thị xã Bạc Liêu, nối kênh Cà Mau - Bạc Liêu ra biển.
- Kênh Chùa Phật nối thông biển với kênh Cà Mau - Bạc Liêu.
- Kênh Cái Cùng chạy cùng hướng với hai kênh trên. Kênh là trục dẫn nước
mặn và tiêu thoát chính của vùng.
- Các rạch Mương Đào - Hóc Ráng, Cây Bông - Rạch Cóc nối liền nhau chạy
từ kênh Cà Mau - Bạc Liêu đến sông Gành Hào.
- Kênh Hộ Phòng nối kênh Cà Mau - Bạc Liêu tại thị trấn Hộ Phòng với sông
Gành Hào tại thị trấn Gành Hào.

Trung tâm- Kênh
HọcTắc
liệu
ĐH
Thơ
họcGành
tậpHào.
và Sông
nghiên
Vân
nối Cần
kênh Cà
Mau @
- BạcTài
Liêuliệu
với sông
Gành cứu
Hào là đường xâm nhập mặn và đường tiêu thoát lớn nhất của vùng. Chính vì
vậy mà đặc điểm môi trường nước ở sông Gành Hào luôn có sự biến động và

Trung

Như đã trình bày ở trên do sự phát triển công, nông nghiệp, sự tập trung đô thị
một cách không có quy hoạch tốt, sự gia tăng dân số, nhu cầu sử dụng nước
ngày càng tăng và lượng nước thải ra sông, hồ ngày càng mang nhiều chất
bẩn, hóa chất độc hại gây ô nhiễm môi trường nước. Một trong những ảnh
hưởng tai hại nhất đối với môi trường nước là ngăn chặn sự luân lưu của nó,
nhất là ở vùng hạ nguồn và ven biển, cả bên trong lẫn bên ngoài hệ thống đê
đập ngăn mặn, khiến cho nguồn nước bị ô nhiễm. Thí dụ điển hình là sông Ba
ở Bến Tre. Trước khi có cống đập Ba Lai, nước sông có thể thông thương
tâmLaiHọc
liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
dễ dàng ra biển, nên dòng nước trong xanh và tràn đầy tôm cá. Từ khi có cống
đập Ba Lai, nước không thể luân lưu như trước nên bị ô nhiễm, tôm cá ngày
càng ít đi, có nơi không còn. Việc điều hành hệ thống đê đập ngăn mặn cũng
có thể làm cho môi trường nước bị xáo trộn và gây ảnh hưởng tai hại. Thí dụ
như việc mở cống đập Ba Lai khiến nước mặn trong sông Ba Lai ở hạ nguồn
cống bị nước ngọt làm loãng và gây ô nhiễm, không thể làm muối, đánh cá,
hoặc nuôi tôm. Hiện tượng nghêu chết hàng loạt ở bãi nghêu thuộc xã Bảo
Thuận và An Thủy, huyện Ba Tri có lẽ cũng do việc mở cửa đập Ba Lai để
bảo vệ cho đàn tôm bên trong, vì nước ngọt bị ô nhiễm tràn ra làm thay đổi
môi trường nước gần các bãi nghêu (Đỗ Hiếu và Nguyễn Minh Quang, RFM,
2006). Ở nhiều đoạn sông, kênh rạch đã bị bẩn vượt quá tiêu chuẩn cho phép,
ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và đời sống, đến các hệ sinh thái nước ngọt.
Với ý nghĩa quan trọng đó các đặc tính môi trường thủy sinh vật đã được
những nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu. Rất nhiều dẫn liệu được
công bố và là tiền đề phát triển của nhiều ngành khoa học khác.
Môi trường nước và thủy sinh vật trong tự nhiên không ngừng biến động theo
thời gian và không gian. Chính vì vậy ta cần phải tiến hành khảo sát và nghiên
cứu thường xuyên để cập nhật những thông tin mới nhất, chính xác và hữu ích

Do chuyển đổi ồ ạt một cách tự phát trong thời gian ngắn nên hệ thống thủy
lợi không theo kịp. Rất nhiều đập ngăn chặn nước mặn nay được mở để dẫn
nước vào nuôi tôm. Các vùng nuôi tôm của dân chưa có hệ thống kênh cấp,
kênh tiêu, ao chứa và xử lý mặn, hệ thống cấp nước ngọt … một cách khoa
học. Vì thế, hiện tượng tôm chết hàng loạt bắt đầu bùng phát; đầu năm 2002
có gần 18.000 ha ao nuôi tôm bị nhiễm bệnh. Nguồn nước thải bẩn từ các ao
nuôi được thải ra các kênh chung dẫn ra biển nhưng một điều quan trọng ít
người chú ý đến là địa hình Bạc Liêu dốc từ bờ biển vào trong đất liền, khả
năng thủy triều đẩy nước thải bẩn đỗ ra rất chậm, con nước mới sinh lại đẩy
chất thải bẩn trở lại đất liền. Chính vì vậy nguồn nước ngày nay đã có nhiều
thay đổi. Nguồn nước bị ô nhiễm thì nguồn lợi ở các thủy vực sẽ bị biến động
và suy giảm. Để phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế mới đã có rất nhiều công
trình nghiên cứu, tìm hiểu về sự biến động môi trường và thành phần loài thủy
sản của vùng.
Năm 2000 Ủy ban nhân dân và Sở khoa học công nghệ và môi trường tỉnh Bạc
Liêu đã phê duyệt đề tài nghiên cứu khoa học “Điều tra hiện trạng ngành nghề,

7


Trung

trình độ nhân lực khai thác hải sản và nguồn lợi hải sản vùng biển Bạc Liêu”.
Đến năm 2003 đề tài hoàn tất, kết quả nghiên cứu có ý nghĩa rất quan trọng
trong việc định hướng phát triển và chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp phục vụ
cho phát triển nghề cá bền vững. Các yếu tố thủy lý hóa môi trường nước đã
được nghiên cứu và thảo luận theo sự biến động giữa các mùa. Nhìn chung các
yếu tố thủy lý của môi trường nước có sự biến động lớn giữa các mùa nhưng
rất ổn định và tuân thủ theo chế độ khí hậu của biển Đông. Các yếu tố thủy
hóa-hàm lượng muối dinh dưỡng của môi trường nước cũng biến động rõ rệt

tác động đến sự phân bố các loài thủy sản ở nhiều khu vực có điều kiện sinh
thái khác nhau vào các thời điểm khác nhau.
Song song với đề tài trên còn có đề tài nghiên cứu khoa học của Huỳnh Quốc
Tịnh, Dương Trí Dũng, Nguyễn Văn Công nghiên cứu về “Đặc tính thủy lý
hoá trong môi trường nước ở vùng điều tiết mặn tỉnh Bạc Liêu”. Các yếu tố
thủy lý hoá được khảo sát ở các vùng ngọt hoá của huyện Vĩnh Lợi, Hồng Dân
và Giá Rai. Kết quả thảo luận dựa trên sự so sánh giữa các vùng trong khu vực
khảo sát và rút ra những kết luận sau:
1. Độ đục và H2S thường cao và biến động ngẫu nhiên ở các xã thu mẫu.
2. Độ mặn là yếu tố biến động mạnh gây phân vùng sinh thái.
Các yếu tố trên nếu biến động ngày càng lớn thì sẽ gây ảnh hưởng xấu đến hệ
sinh thái của vùng. Tiếp tục nghiên cứu sự biến động môi trường nước Hà
Phước Hùng, Võ Thành Toàn và các cộng tác viên thực hiện đề tài “Đánh giá
tác động của chất lượng nước đến sự phân bố của các loài tôm, cua, cá ở khu
vực Hộ Phòng tỉnh Bạc Liêu” (2005). Kết quả phân tích chất lượng nước ở 4
tuyến kênh Gành Hào - Hộ Phòng, Hộ Phòng - Chủ Chí, Chủ Chí - Kênh Tám

8


Ngàn và Chủ Chí - Ninh Quới thuộc khu vực Hộ phòng, tỉnh Bạc Liêu cho
thấy một số chỉ tiêu hóa học của nguồn nước có sự biến động lớn theo mùa và
theo từng thời điểm khảo sát. Các yếu tố thủy lý hóa của nguồn nước nhìn
chung tương đối đồng nhất trên các tuyến kênh. Trong cùng thời điểm thu mẫu
thì không có sự khác biệt đáng kể. Tuy nhiên, ở các thời điểm thu mẫu khác
nhau thì các yếu tố thủy lý hóa có sự biến động lớn. Sau đây là kết quả khảo
sát của đề tài “Đánh giá tác động của chất lượng nước đến sự phân bố của các
loài tôm, cua, cá ở khu vực Hộ Phòng tỉnh Bạc Liêu” trong năm 2005.
Nhiệt độ: Nhiệt độ nước ở các tuyến kênh khá ổn định và nằm trong khoảng
dao động từ 28,5-30,5oC.

PO43-: Kết quả khảo sát cho thấy hàm lượng lân hòa tan (PO43-) ở các tuyến
kênh cấp nội đồng cao hơn so với các tuyến kênh chính, đặc biệt là tuyến kênh
từ Chủ Chí đến Ninh Quới và không vượt quá 1,2 mg/l.

9


Như vậy môi trường nước có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của
các loài thủy sinh vật. Nhà nước cần phải đầu tư phát triển các công trình
nghiên cứu khoa học sâu hơn để tìm ra những giải pháp, những định hướng
đúng đắn và triệt để cho việc phát triển kinh tế của từng vùng, từng khu vực
trong cơ cấu đổi mới kinh tế hiện nay.
2.3 Nguồn lợi thủy sản Bạc Liêu
Đặc trưng nổi bậc của nguồn lợi thủy sản nước ta là phong phú về thành phần
loài. Năng suất sinh học cao và tốc độ sinh trưởng nhanh, thuận lợi cho tái tạo,
phục hồi mật thể quần đàn (Đặng Ngọc Thanh, 1974).
Biển Bạc Liêu nằm trong ngư trường Đông Nam Bộ có trên 2.000 loài cá,
trong đó có khoảng 130 loài có giá trị kinh tế và phân bố: cá tầng đáy chiếm
80% và cá tầng nổi chiếm 20%, cá sống vùng biển gần bờ chiếm 80% và vùng
biển xa bờ chiếm 20%. Nhìn chung cá sống phân tán, ít tập trung thành từng
đàn lớn và phân bố theo mùa vụ nên ảnh hưởng lớn đến năng suất đánh bắt.
Các đàn cá phân bố chủ yếu ở vùng biển có độ sâu từ 20 m nước trở ra, số đàn
cá nhỏ chiếm tới 84,2%, đàn vừa là 15% và đàn lớn chiếm khoảng 0,8% trong
tổng số các đàn cá.
bố liệu
trữ lượng
khả năng
khai
tậpliệu
trung học



singtangense và Mystus spp. Nhiều khu vực có thành phần loài phong phú;
bao gồm các nhóm cá nội đồng, nước ngọt và nước lợ-mặn như cá bóng, cá
đối, tôm bạc, tôm sú… nhưng cũng có nhiều khu vực thành phần loài rất ít chỉ
đơn thuần là cá nước ngọt.
Kết quả nghiên cứu năm 2005 của Hà Phước Hùng, Võ Thành Toàn và các
cộng tác viên cho thấy sự xuất hiện của các thành phần loài tôm, cá, cua phân
bố ở các tuyến kênh có 44 loài và có sự biến động lớn theo mùa. Kết quả cũng
cho thấy sự xuất hiện của các loài này nhiều nhất là ở tuyến kênh từ Gành Hào
đi vào đến đập Hộ Phòng và có xuất hiện hầu hết trong các tháng khảo sát.
Trong khi đó, ở các tuyến kênh chính từ phía trong đập đi vào sâu trong nội
đồng thì thành phần loài xuất hiện ít hơn rất nhiều, đặc biệt là ở hai tuyến kênh
từ đập Hộ Phòng - Chủ Chí và từ Chủ Chí - Ninh Quới. Thậm chí nhiều loài
tôm cua cá trước đây thường thấy ở trên ruộng, ao hồ nay không còn nửa hay
kích thước của một số loài có xu hướng giảm dần.
Vì vậy các cơ quan nhà nước cần phải có những chính sách hợp lý trong việc
phân vùng sinh thái để phát triển kinh tế. Để hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa
nguồn lợi thủy sản và các hệ sinh thái thì cần phải có kiến thức và dẫn liệu về
phân loại sinh thái và nguồn lợi thủy sản.

Trung tâm2.4Học
liệu phân
ĐH loại
Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Hệ thống
Trên thế giới và trong nước đang sử dụng các thứ hạng phân loại thông dụng
của Holthuis (1980) và Barnes (1987). Theo dẫn liệu từ http:// www.itis.
Usda.gov 16/03/2006 hệ thống phân loại giáp xác mười chân được xác định
như sau:

Dendrobranchiata Bate, 1888

Phân họ (Superfamily)

Penaeoidea Rafinesque, 1815

Họ (Family)

Aristeidae Wood-Mason, 189

Họ (Family)

BenthesicymidaeWood-Mason, 1891

11


Họ (Family)

Penaeidae Rafinesque, 1815

Họ (Family)

Sicyoniidae Ortmann, 1898

Họ (Family)

Solenoceridae Wood-Mason, 1891

Phân họ (Superfamily)

đây có
đó và
là Aristeidae,
Benthesicymidae, Penaeidae, Sicyonnidae và Solenoceridae); (ii) Họ tôm
Penaeidae hiện có 206 loài so với trước đây có 110 loài theo Holthuis (1980);
(iii) việc tách các giống phụ ra từ giống Penaeus như Marsupenaeus,
Litopenaeus, Fenneropenaeus…(Nguyễn Văn Thường, 2006).
2.5 Lịch sử nghiên cứu về xác định phân loại tôm
Trên thế giới, có rất nhiều công trình nghiên cứu về xác định thành phần loài
và đã đóng góp nhiều ý nghĩa quan trọng trong ngành phân loại giáp xác.
Trong nhóm giáp xác thì nhóm tôm, cua là được nghiên cứu nhiều hơn về mặt
thành phần loài. Đặc biệt là hệ thống định loại các loài tôm biển thuộc họ
Penaeidea đã được hoàn chỉnh. Sau đây là những công trình nổi bậc đánh dấu
bước phát triển trong lĩnh vực nghiên cứu về phân loại tôm.
Năm 1945, Anderson và Linder đã dẫn ra khoa phân loại các họ phụ thuộc
giáp xác 10 chân. Đáng kể là tác giả đã đưa ra khóa phân loại đến loài trong họ
Penaeidae tương đối hoàn chỉnh. Đây là công trình lớn nhất về phân loại giáp
xác ở thế kỷ 20.

12


Năm 1980, Holthuis đã hoàn chỉnh công trình về hệ thống định loại và giới
thiệu thành phần các loài tôm trên thế giới, tác giả đã thống kê được 343 loài
tôm hiện diện trên thế giới trong đó có 110 loài thuộc họ Penaeidae chiếm
80% thành phần tôm thu được trong tự nhiên (Trích dẫn, Nguyễn Văn
Thường, 1997).
Năm 1999, theo dẫn liệu của Euopean Registerof Marine Species (ERMS) thì
thành phần giống loài tôm thuộc tổng họ Penaeoidea có 5 họ bao gồm:
Aristeidae, Penaeidae, Sergestidae, Sicyoniidae, Solenoceridae; có tổng

Qua thống kê quá trình nghiên cứu thành phần loài thuộc tổng họ Penaeoidea
được khảo sát từ trước 1945 bởi các tác giả nước ngoài. Đến năm 2000 thì
được Nguyễn Văn Chung, Đặng Ngọc Thanh, Phạm Thị Dự công bố là có 4
họ, 14 giống và 65 loài (trong đó thống kê được 9 giống có 52 loài thuộc họ
Penaeidae quan trọng của vùng biển Việt Nam).
Về nguồn lợi tôm He ở các vùng biển Việt Nam đã bắt gặp được 225 loài
thuộc 68 giống của 21 họ tôm biển, trong đó họ tôm Penaeidae có số lượng
loài đông nhất là 77 loài chiếm 34,22% (Trích dẫn, Trương Thị Kiều, 2005).
Ngược lại các công trình nghiên cứu về thành phần loài tôm nuớc ngọt-lợ
tương đối ít. Dẫn liệu về thành phần loài tôm nước ngọt - lợ rất ít so với dẫn
liệu khá phong phú về tôm biển.
Năm 1904, đoàn nghiên cứu Pavie công bố dẫn liệu về thành phần loài tôm
nước ngọt ở vùng Đông Dương nhưng rất nghèo nàn. Tác giả chỉ nói đến 3
loài tôm tìm thấy ở Việt Nam, Thái Lan (Trích dẫn, Đặng Ngọc Thanh, 2002).

13


Tôm càng họ Palaemonidae, phân họ Palaemoninae ở Việt Nam chỉ mới
được nghiên cứu từ đầu thế kỷ này.
Năm 1914, công trình của Sollaud mô tả 2 loài Coutierella tonkinensis,
Leandermani ở Bắc Việt Nam.
Năm 1904, 1920, 1925 Bouvier bổ sung thêm 3 loài Caridina weberi
sumatrensis, C. nilotica typica, C. tonkinesis.
Các nghiên cứu trong thời kỳ sau Cách mạng ở trong nước và thế giới của
Holthuis (1950), Đặng Ngọc Thanh (1961, 1967, 1975), Đặng Ngọc Thanh và
Nguyễn Hữu Yết (1972) đã một mặt bổ sung thêm giống loài mới ở Bắc Việt
Nam, mặt khác lại xem xét về các vấn đề danh pháp và vị trí phân loại học của
nhiều loài tôm nước ngọt ở Bắc Việt Nam (Trích dẫn, Đặng Ngọc Thanh,
2002).


14


Như vậy việc định loại thành phần loài tôm có rất nhiều công trình nghiên cứu
và nhiều tác giả tham gia, song phần lớn các công trình đều tập trung những
loài phổ biến có giá trị lớn như họ tôm He Penaeidae hay họ tôm càng
Palaemonidae. Vì các loài thuộc họ này có giá trị thực tiễn rất lớn như tôm sú
(Penaeus monodon), tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) là những
loài tôm cỡ lớn, thịt ngon, là đối tượng nuôi và xuất khẩu quan trọng của Việt
Nam và các nước lân cận. Các loài tôm khác như tôm thẻ (Penaeus indicus),
tôm đất (Metapenaeus ensis), tôm bạc (Metapenaeus tenuipes), tôm trứng
(Macrobrachium equidens) cũng là sản phẩm có số lượng lớn, là thực phẩm
hàng ngày của người dân. Chính vì vậy mà tôm có tầm quan trọng rất thiết
thực và việc xác định đúng thành phần loài, bổ sung và nghiên cứu những
giống loài mới là điều rất cần thiết.
2.6 Dẫn liệu về thành phần loài tôm ở Đồng Bằng Sông Cửu Long
2.6.1 Thành phần loài tôm ở Đồng Bằng Sông Cửu Long

Trung

Số liệu điều tra về nguồn lợi tôm ở ĐBSCL do Nguyễn Văn Thường và cộng
tác viên thực hiện từ những năm của thập niên 90 đến nay đã thu được 18 loài
tôm nước ngọt (Caridea) thuộc 3 họ tôm: Palaemonidae (tôm Gai), Atyidae
Gạo) và Alpheidae (tôm Gõ Mõ). Trong nhóm này đáng chú ý là họ tôm
tâm(tép
Học
liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Palaemonidae rất đa dạng về thành phần loài: có 8 giống, 13 loài và phân bố
rộng ở các loại hình thủy vực, sản lượng khai thác lớn.

trong các thủy vực nước ngọt và nước lợ ven biển. Có thể chia thành 2 nhóm:
nhóm loài rộng muối và nhóm loài hẹp muối.

Trung

- Nhóm loài rộng muối: bao gồm các loài Macrobrachium rosenbergii,
Macrobrachium
equidesn,
Macrobrachium
mammillodactylus,
Macrobrachium esculentum, Macrobrachium mirabile và Macrobrachium
sintangense. Nhóm này có khả năng phân bố rộng ở thủy vực nước ngọt và
tâmnước
Học
liệusông.
ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
lợ cửa
Nhóm hẹp muối: bao gồm các loài Macrobrachium lanchesteri,
Macrobrachium idea, Exopalaemon styliferus, Palaemonetes sp1,
Palaemonetes sp2, Leptocarpus potamiscus và Macrobrachium javanicum…
• Nhóm tôm Penaeidea
+ Nhóm ngoài cửa sông
Là nhóm tôm có số lượng đông nhất, gồm những loài trong chu kỳ vòng đời
có giai đoạn ấu trùng và tôm con thích nghi vùng nước và bãi Sú Vẹt cửa sông
và gần cửa sông. Nhóm này có thể chia thành 2 nhóm phụ:
-

Nhóm phụ rộng muối

Bao gồm những loài thích nghi với khu vực có đáy bùn, cát bùn ven sông, ven

liệu
ĐH
Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
để giao
vĩ và
đẻ trứng.
( />
17


CHƯƠNG 3
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
3.1.1 Thời gian nghiên cứu
-

Đề tài thực hiện trong thời gian từ tháng 2/2006 đến tháng 7/2006.

-

Công tác thu mẫu đã được thực hiện tại huyện Giá Rai tỉnh Bạc Liêu.

- Việc phân tích và xử lý số liệu cũng như viết báo cáo đã được tiến hành tại
Cần Thơ.
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
27
23
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status