Giáo viên: Trương Thị Hồng Chiên
Trường THPT chuyên Lương Văn Tụy
MỤC LỤC
Trang 2
Trang 42
Bản đăng ký sáng kiến năm học 2014 - 2015
Phụ lục
Chương I
Trang 97
Trang 101
Trang 130
Phần 4: Tài liệu tự học: Bài tập trắc nghiệm tổng
hợp chương 6
Trang 161
Trang 180
Chương II
Trang 185
Trang 186
Tài liệu tự học có hướng dẫn chương 6 – Kim loại
kiềm, kim loại kiềm thổ, nhôm - Hóa học lớp 12 THPT - Ban cơ bản.
Kiến thức: KT; Kĩ năng: KN
Trắc nghiệm khách quan: TNKQ
Bảng tuần hoàn: BTH
Điều kiện tiêu chuẩn: đktc
Trung học phổ thông: THPT
Phương trình phản ứng: ptpư
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do – Hạnh phúc
Sáng kiến kinh nghiệm
1
Năm học 2014 - 2015
Giáo viên: Trương Thị Hồng Chiên
Trường THPT chuyên Lương Văn Tụy
BẢN ĐĂNG KÝ SÁNG KIẾN NĂM HỌC 2014 - 2015
I.
TÊN SÁNG KIẾN:
“XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG TÀI LIỆU TỰ HỌC
CÓ HƯỚNG DẪN THEO ĐỊNH HƯỚNG TÍCH CỰC
“CHƯƠNG VI: KIM LOẠI KIỀM, KIM LOẠI KIỀM THỔ, NHÔM” HÓA HỌC LỚP 12 - THPT - BAN CƠ BẢN, NHẰM NÂNG CAO NĂNG
LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH”.
Giáo viên: Trương Thị Hồng Chiên
Trường THPT chuyên Lương Văn Tụy
Giải quyết theo từng nội dung trong bài, chú ý các đoạn chuyển tiếp giữa
các phần, minh họa – giải thích, nêu vấn đề và giải quyết,… Có thể giải quyết
vấn đề theo con đường quy nạp hoặc diễn dịch tuỳ theo đặc điểm nội dung bài
học.
- Bước 3: Kết luận.
Tóm tắt những nội dung trọng tâm, hệ thống hoá và chỉ ra logic giữa các
đơn vị kiến thức trong bài, củng cố bài học và giao nhiệm vụ tiếp cho HS.
* Phương pháp này có ưu điểm là GV chủ động về mặt thời gian và kế
hoạch lên lớp, do đó cũng chủ động thiết kế logic nội dung, cập nhật bổ sung
kiến thức, tiết kiệm thời gian.
* Tuy nhiên, nhược điểm lớn nhất của phương pháp này là HS thụ
động, việc truyền thụ kiến thức dễ mang tính áp đặt, dập khuôn máy móc,
gây ra sự nhàm chán, khó tiếp thu, khó ghi nhớ; HS bị động, học trong tư
tưởng gượng ép, học vẹt, nhanh quên, không có hứng thú và say mê môn
học. Do vậy, khi sử dụng phương pháp này, cần chú ý các điểm sau:
+ Lời giảng của GV phải đủ to, rõ, không vi phạm các qui luật logic.
+ Tốc độ vừa phải, có định hướng ghi chép, theo dõi của HS.
+ Biết dừng đúng lúc với thời gian hợp lí.
+ Nội dung bài thuyết trình phải logic.
+ Tư thế, tác phong và cách diễn đạt của GV phải hấp dẫn, lôi cuốn HS.
b. Sử dụng phương pháp đàm thoại.
Phương pháp đàm thoại là phương pháp trong đó GV đặt ra một hệ thống
câu hỏi, HS sẽ trả lời hay trao đổi với GV hoặc tranh luận giữa các thành viên
trong lớp với nhau, qua đó HS sẽ củng cố, ôn tập kiến thức cũ và tiếp thu được
1.2. Quy trình chuẩn bị và thực hiện một giờ học theo phương pháp
dạy học truyền thống.
a. Quy trình chuẩn bị một giờ học.
Hoạt động chuẩn bị cho một giờ dạy học đối với GV thường được thể
hiện qua việc chuẩn bị giáo án. Đây là hoạt động xây dựng kế hoạch dạy học cho
một bài học cụ thể, thể hiện mối quan hệ tương tác giữa GV với HS, giữa HS với
HS nhằm đạt được những mục tiêu của bài học. Hoạt động chuẩn bị cho một giờ
học có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng, quyết định nhiều tới chất lượng và hiệu
quả giờ dạy học.
Từ thực tế dạy học, có thể tổng kết thành quy trình chuẩn bị một giờ
học với các bước thiết kế một giáo án và khung cấu trúc của một giáo án cụ thể
như sau:
* Các bước thiết kế một giáo án
- Bước 1: Xác định mục tiêu của bài học căn cứ vào chuẩn kiến thức (KT),
kĩ năng (KN) và yêu cầu về thái độ trong chương trình. Bước này được đặt ra bởi
việc xác định mục tiêu của bài học là một khâu rất quan trọng, đóng vai trò thứ
nhất, không thể thiếu của mỗi giáo án. Mục tiêu (yêu cầu) vừa là cái đích hướng
tới, vừa là yêu cầu cần đạt của giờ học; hay nói khác đi đó là thước đo kết quả
quá trình dạy học. Nó giúp GV xác định rõ các nhiệm vụ sẽ phải làm (dẫn dắt
HS tìm hiểu, vận dụng những KT, KN nào; phạm vi, mức độ đến đâu; qua đó
giáo dục cho HS những bài học gì).
- Bước 2: Nghiên cứu SGK và các tài liệu liên quan để: hiểu chính xác,
đầy đủ những nội dung của bài học; xác định những KT, KN, thái độ cơ bản cần
hình thành và phát triển ở HS; xác định trình tự logic của bài học. (Đúc kết được
phạm vi, mức độ KT, KN của từng bài học sao cho phù hợp với năng lực của HS
và điều kiện dạy học. Trong thực tế dạy học, nhiều khi chúng ta thường đi chưa
tới hoặc đi quá những yêu cầu cần đạt về KT, KN. Nếu nắm vững nội
dung bài học, GV sẽ phác họa những nội dung và trình tự nội dung của bài giảng
phù hợp, thậm chí có thể cải tiến cách trình bày các mạch KT, KN của SGK, xây
dựng một hệ thống câu hỏi, bài tập giúp HS nhận thức, khám phá, vận dụng các
Đây là bước người GV bắt tay vào soạn giáo án - thiết kế nội dung, nhiệm
vụ, cách thức hoạt động, thời gian và yêu cầu cần đạt cho từng hoạt động dạy
của GV và hoạt động học tập của HS.
Trong thực tế, có nhiều GV khi soạn bài thường chỉ đọc SGK, sách GV và
bắt tay ngay vào hoạt động thiết kế giáo án; thậm chí, có GV chỉ căn cứ vào
những gợi ý của sách GV để thiết kế giáo án bỏ qua các khâu xác định mục tiêu
bài học, xác định khả năng đáp ứng nhiệm vụ học tập của HS, nghiên cứu nội
dung dạy học, lựa chọn các PPDH, phương tiện dạy học, hình thức tổ chức dạy
học và cách thức đánh giá thích hợp nhằm giúp HS học tập tích cực, chủ động,
sáng tạo. Cách làm như vậy không thể giúp GV có được một giáo án tốt và có
những điều kiện để thực hiện một giờ dạy học tốt. Về nguyên tắc, cần phải thực
hiện qua các bước 1, 2, 3, 4 trên đây rồi hãy bắt tay vào soạn giáo án cụ thể.
* Cấu trúc của một giáo án được thể hiện ở các nội dung sau:
- Mục tiêu bài học:
+ Nêu rõ yêu cầu HS cần đạt về KT, KN, thái độ;
+ Các mục tiêu được biểu đạt bằng động từ cụ thể, có thể lượng hoá được.
- Chuẩn bị về phương pháp và phương tiện dạy học:
Sáng kiến kinh nghiệm
5
Năm học 2014 - 2015
Giáo viên: Trương Thị Hồng Chiên
Trường THPT chuyên Lương Văn Tụy
+ GV chuẩn bị các thiết bị dạy học (tranh ảnh, mô hình, hiện vật, hoá
dung bài học, nhằm đạt được mục tiêu bài học với sự vận dụng PPDH phù hợp.
* Luyện tập, củng cố.
GV hướng dẫn HS củng cố, khắc sâu những KT, KN, thái độ đã có
thông qua hoạt động thực hành luyện tập có tính tổng hợp, nâng cao theo những
hình thức khác nhau.
* Đánh giá.
Sáng kiến kinh nghiệm
6
Năm học 2014 - 2015
Giáo viên: Trương Thị Hồng Chiên
Trường THPT chuyên Lương Văn Tụy
- Trên cơ sở đối chiếu với mục tiêu bài học, GV dự kiến một số câu hỏi,
bài tập và tổ chức cho HS tự đánh giá về kết quả học tập của bản thân và của
bạn.
- GV đánh giá, tổng kết về kết quả giờ học.
* Hướng dẫn HS học bài, làm việc ở nhà.
- GV hướng dẫn HS luyện tập, củng cố bài cũ (thông qua làm bài tập, thực
hành, thí nghiệm,…).
- GV hướng dẫn HS chuẩn bị bài học mới.
2. Giải pháp mới cải tiến.
2.1. Lý do chọn đề tài sáng kiến:
Trong sự nghiệp đổi mới toàn diện của đất nước, đổi mới nền giáo dục và
đào tạo là một trong những trọng tâm của sự phát triển. Muốn nâng cao chất
lượng giáo dục, chúng ta phải đổi mới nội dung và đổi mới phương pháp dạy học
Giáo viên: Trương Thị Hồng Chiên
Trường THPT chuyên Lương Văn Tụy
trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân”. Trên tinh
thần ấy, rõ ràng Đảng ta đã coi tự học, tự đào tạo là vấn đề mấu chốt có vị trí cực
kì quan trọng trong chiến lược giáo dục - đào tạo của đất nước. Bởi tự học và
học suốt đời là một trong những chìa khoá bước vào thế kỷ XXI. Đặc biệt trong
quan niệm mới về “học tập suốt đời: Một động lực của xã hội” sẽ giúp con người
đáp ứng yêu cầu của một thế giới đang thay đổi nhanh chóng. Điều này thể hiện
những đòi hỏi đang ngày càng mãnh liệt hơn “Không thể thoả mãn những đòi
hỏi đó được, nếu mỗi người không học cách học”.
Như vậy, việc hướng dẫn học sinh phương pháp tự học: Chủ động
sáng tạo và tự mình thực hiện nhiệm vụ học tập, nghiên cứu, giải quyết vấn
đề, lĩnh hội kiến thức mới, ôn luyện kiến thức cũ là một nhiệm vụ quan trọng,
cấp bách trong nhà trường phổ thông hiện nay mà mỗi thầy cô giáo dạy học ở
các môn học, các cấp bậc học đều phải quan tâm, chung tay thực hiện góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo.
Trong quá trình dạy học Hóa học cần phải giải đáp được ba câu hỏi lớn:
- Dạy và học Hóa học để làm gì (mục đích và nhiệm vụ của môn Hóa học)?
- Dạy và học cái gì (nội dung môn Hóa học)?
- Dạy và học như thế nào (phương pháp, phương tiện, tổ chức việc dạy và việc
học)?
Ba câu hỏi trên liên quan đến ba nhiệm vụ cơ bản của phương pháp dạy
học hóa học: Nhiệm vụ thứ nhất đòi hỏi phải làm sáng tỏ mục đích của việc dạy
và học môn Hóa học trong trường phổ thông: không chỉ chú ý nhiệm vụ cung
cấp và tiếp thu nền học vấn Hóa học phổ thông mà còn phải chú ý tới nhiệm vụ
giáo dục thế giới quan, đạo đức cách mạng và nhiệm vụ phát triển tiềm lực trí
tuệ cho học sinh. Nhiệm vụ thứ hai đòi hỏi phải xây dựng nội dung môn Hóa học
Những lí do trên đã thôi thúc tôi quyết định thực hiện đề tài nghiên cứu:
“ Xây dựng và sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo định hướng tích
cực “chương 6: Kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ, nhôm” – Hóa học lớp 12
THPT - Ban cơ bản, nhằm nâng cao năng lực tự học của học sinh.” với
mong muốn đề tài sáng kiến của mình sẽ góp phần thiết thực vào việc đổi mới
phương pháp dạy học hóa học nâng cao năng lực tự học của học sinh hiện nay.
2.2. Khách thể và đối tượng nghiên cứu: Quá trình giảng dạy, kiểm tra đánh
giá kết quả học tập của học sinh trong “chương 6: Kim loại kiềm, kim loại kiềm
thổ, nhôm” – Hóa học lớp 12 THPT - Ban cơ bản ở trường THPT.
2.3. Cơ sở lý luận.
2.3.1. Dạy học hóa học theo hướng tích cực:
Dạy học tích cực là quá trình dạy học phát huy được cao độ tính tích cực
nhận thức của học sinh trong hoạt động học tập, nó được dựa trên cơ sở quan
niệm về tính tích cực hóa hoạt động của học sinh và lấy học sinh làm trung
tâm của quá trình học tập. Để đạt được tính tích cực trong dạy học cần phải
đổi mới về “chất” tất cả các quá trình dạy học Hóa học.
Quá trình dạy học Hóa học là một hệ toàn vẹn bao gồm các thành tố: Mục
đích, nội dung dạy học, phương pháp và phương tiện dạy học, hoạt động
dạy của giáo viên, hoạt động học của học sinh, hình thức tổ chức dạy học và
kết quả của sự dạy học. Các thành tố này có mối quan hệ chặt chẽ, quan hệ
thống nhất và chi phối lẫn nhau.
Mục đích dạy học xác định nội dung, cấu trúc tiến trình và việc lựa chọn
phương pháp và phương tiện, hình thức tổ chức dạy học khác nhau.
Theo phương hướng dạy học tích cực cần đảm bảo tính hệ thống trong
việc đổi mới, khai thác các yếu tố tích cực trong các thành tố của cả quá trình
dạy học hóa học. Việc đổi mới cần được thực hiện từ sự đổi mới mục tiêu giáo
dục, nội dung dạy học. Khai thác các yếu tố tích cực trong hoạt động dạy và hoạt
động học, sử dụng phương pháp và phương tiện dạy học, hình thức tổ chức dạy
học và đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh để
có được hình ảnh chân thực về kết quả của quá trình dạy học.
của các phương pháp dạy học hiện có. Những phương pháp như thuyết trình,
đàm thoại…vẫn rất cần thiết trong quá trình dạy học. Điều cốt yếu là phải lựa
chọn và vận dụng các phương pháp sao cho phù hợp với nội dung của bài dạy và
đặc biệt là phù hợp với đối tượng HS, trong đó cần chú ý khai thác và sử dụng
các kĩ thuật dạy học nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức và phát triển tư duy
của HS, hình thành cho các em khả năng độc lập, năng động, sáng tạo trong việc
tiếp thu và xử lí thông tin, cũng như trong việc giải quyết những công việc cụ thể
sau này.
Trước hết ta hãy bàn về những dấu hiệu đặc trưng của phương pháp dạy
học tích cực mà người thày giáo sử dụng trong các giờ học.
Thứ nhất: dạy học thông qua việc tổ chức các hoạt động học tập của HS.
Nét đặc thù của hoạt động dạy học là: HS vừa là đối tượng vừa là chủ thể
của quá trình dạy học. HS không chỉ tiếp thu những kiến thức từ người dạy, mà
phải thông qua hoạt động tự lực để chiếm lĩnh nó và làm biến đổi bản thân. Tâm
lí học sư phạm cũng khẳng định rằng: nhân cách của trẻ được hình thành và phát
triển thông qua các hoạt động có ý thức của chủ thể. Vì vậy có thể nói, hoạt động
học là cách tốt nhất để làm biến đổi chính người học. Dạy học không còn là sự
Sáng kiến kinh nghiệm
10
Năm học 2014 - 2015
Giáo viên: Trương Thị Hồng Chiên
Trường THPT chuyên Lương Văn Tụy
truyền thông tin từ thầy sang trò, thầy không còn là người truyền thông tin mà
sẽ đưa ra những nhận định về bản thân và tự điều chỉnh cách học của mình cho
phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả học tập. Trong phương pháp dạy học tích cực,
người ta chú trọng đến việc dạy cho HS cách tự học đi kèm theo là năng lực tự
đánh giá của HS. Thiếu năng lực này HS không thể tự điều chỉnh cách học của
mình và không hoàn chỉnh được phương pháp tự học. Như vậy, năng lực tự học
luôn gắn liền với năng lực tự đánh giá, tự điều chỉnh, mà tự học là dấu hiệu
Sáng kiến kinh nghiệm
11
Năm học 2014 - 2015
Giáo viên: Trương Thị Hồng Chiên
Trường THPT chuyên Lương Văn Tụy
của phương pháp tích cực. Do vậy, khả năng rèn luyện năng lực tự đánh giá
của HS cũng là một dấu hiệu của phương pháp dạy học tích cực theo một
mô hình mới.
2.3.3. Học là gì? Tự học là gì? Tự học quan trọng như thế nào? Cách tự học
tốt nhất như thế nào?
a. Học là gì? Tự học là gì? Thực trạng tự học hiện nay của HS THPT?
Ngày nay, khi khoa học kĩ thuật phát triển thì việc học tập cũng phát triển
theo. Chính vì vậy các em học sinh đã sáng tạo ra rất nhiều cách học nhằm mang
lại hiệu quả cao nhất cho bản thân. Nhưng theo tôi: trong học tập, tự học là cách
học tốt nhất giúp ta tiến bộ hơn trong khi học. Và khi nói đến vấn đề này, tôi
muốn mọi người hiểu được trước nhất là ý nghĩa của việc học rồi mới đến cách
tự học. Vậy học là gì ? Tự học là gì ?
Học là quá trình con người tiếp thu những kiến thức, kĩ năng, thông tin
Giáo viên: Trương Thị Hồng Chiên
Trường THPT chuyên Lương Văn Tụy
cho bản thân thì chúng ta chắc chắn sẽ thành công và nâng cao được tri thức của
chính mình. Tự học giúp con người có được ý thức tốt nhất trong quá trình học:
chủ động suy nghĩ, tìm tòi, khám phá, nghiên cứu và nắm được bản chất vấn đề
từ đó tự học giúp ta tiếp thu được kiến thức từ nhiều nguồn khác nhau như sách,
báo, từ truyền hình ti vi, từ bạn bè hoặc từ những người xung quanh, những kinh
nghiệm sống của nhân dân.
Giáo sư – Tiến sĩ Khoa học Thái Duy Tuyên đã viết: “Tự học là hoạt
động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy
nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp,…)
cùng các phẩm chất, động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu
biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành
sở hữu của chính bản thân người học”.
Tác giả Nguyễn Kỳ ở Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 7/ 1998 cũng bàn
về khái niệm tự học: “Tự học là người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri
thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình. Tự học là tự đặt
mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết
các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp,… Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa
việc học”.
Giáo sư Trần Phương cũng cho rằng: “ Học bao giờ và lúc nào cũng chủ
yếu là tự học, tức là biến kiến thức khoa học tích lũy từ nhiều thế hệ của nhân
loại thành kiến thức của mình, tự cải tạo tư duy của mình và rèn luyện cho mình
kĩ năng thực hành những tri thức ấy”.
Từ những quan niệm trên đây có thể nhận thấy rằng, khái niệm tự học
luôn đi cùng, gắn bó chặt chẽ với khái niệm tự thân. Tri thức, kinh nghiệm, kĩ
năng của mỗi cá nhân chỉ được hình thành bền vững và phát huy hiệu quả thông
hội, cho đất nước, đưa đất nước ngày càng đi lên, phát triển đến một tầm cao mới
b. Vị trí vai trò của tự học.
Tự học là mục tiêu cơ bản của quá trình dạy học.
Từ lâu các nhà sư phạm đã nhận thức rõ ý nghĩa của phương pháp dạy tự
học. Trong quá trình hoạt động dạy học (DH), giáo viên (GV) không chỉ dừng lại
ở việc truyền thụ những tri thức có sẵn, chỉ cần yêu cầu HS ghi nhớ mà quan
trọng hơn là phải định hướng, tổ chức cho HS tự mình khám phá ra những qui
luật, thuộc tính mới của các vấn đề khoa học. Giúp HS không chỉ nắm bắt được
tri thức mà còn biết cách tìm đến những tri thức ấy. Thực tiễn cũng như phương
pháp dạy học hiện đại còn xác định rõ: càng học lên cao thì tự học càng cần
được coi trọng, nói tới phương pháp dạy học thì cốt lõi chính là dạy tự học.
Phương pháp tự học là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học. Nhất là đối
với HS THPT cần phải ghi nhớ một lượng kiến thức rất lớn chuẩn bị cho kỳ thi
đại học, cao đẳng quyết định bước ngoặt cuộc đời của mình, mà để đạt được sự
ghi nhớ tốt nhất và có kết quả thi đại học tốt nhất (đặc biệt đối với bộ môn Hóa
học rất dễ bị “mất gốc”) thì không thể không thông qua con đường tự học. HS
muốn thành công trên bước đường học tập và nghiên cứu sau này thì phải có khả
năng phát hiện và tự giải quyết những vấn đề mà cuộc sống, khoa học đặt ra.
Bồi dưỡng năng lực tự học là phương cách tốt nhất để tạo ra động lực
mạnh mẽ cho quá trình học tập.
Một trong những phẩm chất quan trọng của mỗi cá nhân là tính tích cực,
sự chủ động sáng tạo trong mọi hoàn cảnh.Và một trong những nhiệm vụ quan
trọng của giáo dục là hình thành phẩm chất đó cho người học. Bởi từ đó nền giáo
dục mới mong đào tạo ra những lớp người năng động, sáng tạo, thích ứng với
mọi thị trường lao động, góp phần phát triển cộng đồng. Có thể xem tính tích
cực (hình thành từ năng lực tự học) như một điều kiện, kết quả của sự phát triển
nhân cách thế hệ trẻ trong xã hội hiện đại. Trong đó hoạt động tự học là những
biểu hiện sự gắng sức cao về nhiều mặt của từng cá nhân người học trong quá
trình nhận thức thông qua sự hưng phấn tích cực. Mà hưng phấn chính là tiền đề
cho mọi hứng thú trong học tập. Có hứng thú người học mới có được sự tự giác
nhưng chính những lúng túng đó lại là động lực thúc đẩy học sinh tư duy để
thoát khỏi “lúng túng”, nhờ vậy mà thành thạo lên, và ghi nhớ được lâu, vận
dụng lý thuyết vào bài tập ngày càng nhanh nhậy và chính xác hơn, hiệu quả
hơn.
Biện pháp thực hiện:
Trong quá trình học tập, việc xác định mục đích, xây dựng động cơ, lựa
chọn phương pháp, hình thức tự học hợp lý là cần thiết. Song điều quan trọng là
học sinh phải có hệ thống kỹ năng tự học, kỹ năng làm việc độc lập, trên cơ sở
phát huy tính tích cực nhận thức để chiếm lĩnh hệ thống tri thức. Vì tri thức là
sản phẩm của hoạt động, muốn nắm vững tri thức thì việc rèn luyện hệ thống kỹ
năng tự học một cách thường xuyên và nghiêm túc phải được chú trọng ngay từ
khi còn ngồi trên ghế nhà trường phổ thông.
Như vậy, để hoạt động học tập của học sinh đạt chất lượng và hiệu quả,
học sinh phải có tri thức và kỹ năng tự học. Chính kỹ năng tự học là điều kiện
vật chất bên trong để học sinh biến động cơ tự học thành kết quả cụ thể và làm
cho học sinh tự tin vào bản thân mình, bồi dưỡng và phát triển hứng thú, duy trì
tính tích cực nhận thức trong hoạt động tự học của họ.
Sáng kiến kinh nghiệm
15
Năm học 2014 - 2015
Giáo viên: Trương Thị Hồng Chiên
Trường THPT chuyên Lương Văn Tụy
Vận dụng hệ các phương pháp tự học nêu trên vào chu trình tự học của
phải mỗi ngày cắp sách tới trường, chăm chú nghe thầy cô giảng bài, hay cứ ra
đời rồi mình sẽ tự có kiến thức. Đó là suy nghĩ hoàn toàn sai lầm. Để có được
kiến thức bạn cần phải có kỹ năng học và tự học, những kỹ năng đó sẽ không ai
dạy bạn mà chính bản thân bạn phải ý thức được sự quan trọng của kiến thức mà
rèn luyện cho bản thân. Vậy những kỹ năng đó là gì, bạn có thể rèn luyện cho
mình những kỹ năng đó hay không?
Sáng kiến kinh nghiệm
16
Năm học 2014 - 2015
Giáo viên: Trương Thị Hồng Chiên
Trường THPT chuyên Lương Văn Tụy
Kế hoạch và mục tiêu
Làm bất kỳ việc gì dù lớn hay nhỏ bạn cũng cần phải có kế hoạch và mục
tiêu rõ ràng. Với việc học cũng vậy, bạn phải lên cho mình một kế hoạch học tập
thật khoa học, xác định được khối kiến thức mà bạn cần phải trau dồi, phân bổ
thời gian cho từng loại kiến thức cụ thể nếu bạn không muốn lãng phí thời gian
cho một mớ kiến thức hỗn độn trong đầu.
Có kế hoạch thì phải có mục tiêu, mục tiêu sẽ là động lực học tập của bạn.
Bởi bạn biết mình cần phải học vì cái gì, những loại kiến thức bạn học sẽ phục
vụ vào công việc gì. Khi đó bạn sẽ chủ động học và tự học để có đủ kiến thức
thực hiện mục tiêu mà bản thân đã đề ra.
Phương pháp và nhẫn nại
Bạn không thể cứ ngồi vào bàn ghi ghi, chép chép, hay cầm quyển sách
lên đọc, lên mạng tìm kiếm tài liệu nghĩa là bạn sẽ có được lượng kiến thức như
Giáo viên: Trương Thị Hồng Chiên
Trường THPT chuyên Lương Văn Tụy
vì thế bạn cũng cần rèn luyện cho mình kỹ năng này nhé. Việc này chỉ khó khi
bạn mới bắt đầu, khi đã quen bạn sẽ dễ dàng tìm được các thông tin cần thiết để
bổ sung thêm vào kho kiến thức của mình.
Tự kiểm tra kiến thức
Không phải kiến thức của bạn lúc nào cũng được người khác kiểm tra, vì
vậy để việc học đạt hiệu quả cao bạn phải biết cách tự kiểm tra kiến thức của
mình bằng cách như: Tự làm bài kiểm tra ngắn, liệt kê những nội dung chính, vẽ
biểu đồ, bản đồ tư duy, thiết kế những bảng câm rồi tự điền kiến thức vào và đối
chiếu lại,… Việc kiểm tra lại kiến thức cũng là cách bạn một lần nữa củng cố lại
những gì đã học được, những gì còn mơ hồ cần phải học thêm.
Học cách ghi nhớ
Bạn cần phải biết được thói quen học của mình như thế nào để có cách ghi
nhớ hiệu quả nhất. Mỗi người sẽ có cách ghi nhớ khác nhau, có người sẽ viết lại
nhiều lần ra giấy, liệt kê những nội dung chính, có người sẽ đọc thật to, có người
chỉ đọc thầm,… miễn sao có thể nhớ được kiến thức đó. Hãy thử tất cả những
cách trên xem cách nào giúp bạn ghi nhớ nhanh nhất và hiệu quả nhất. Nếu
không có cách nào phù hợp bạn hãy tìm cho mình cách ghi nhớ khác. Đặc biệt là
môn Hóa học là môn học có liên quan nhiều đến hiện tượng thực tế, kiến thức
logic, có sự lặp lại cao, nhớ vấn đề này thì sẽ nhớ được vấn đề khác. Thí dụ, tính
chất hóa học của chất này lại chính là phương pháp điều chế hay nhận biết chất
kia, … vì vậy, khi học ta nên ghi nhớ tính chất của chất đó gắn với hiện tượng
thực tế nào, hay phản ứng này đã học ở bài nào chương nào, … biến việc học
môn hóa từ “rất khó” thành “vô cùng dễ”.
Chọn lọc thông tin, kiến thức
Mỗi ngày bạn sẽ tiếp nhận rất nhiều thông tin, kiến thức khác nhau từ thầy
Mỗi ngày phải có ít nhất từ 3 – 5 giờ tự học độc lập ở nhà. Tự hoàn thành
hết câu hỏi, bài tập trong tài liệu tự học có hướng dẫn thầy cô giao cho. Ghi chép
cẩn thận những câu hỏi và bài tập khó, lạ, chưa hiểu để trao đổi lại với bạn bè
hoặc thầy cô. Như vậy, hoạt động tự học diễn ra cả ở trường, ở nhà, thậm chí là
cả lúc đi chơi với bạn bè.
Học và tự học là cách duy nhất để mỗi chúng ta trau dồi kiến thức cho bản
thân. Dù còn ngồi trên ghế nhà trường hay đã đi làm, bạn cũng đừng quên việc
học nhé. Hãy luôn rèn luyện cho mình kỹ năng học và tự học mọi lúc, mọi nơi để
có thật nhiều kiến thức vững vàng thi đỗ đại học, phục vụ cho cuộc sống cũng
như công việc của chính mình và trở thành người có ích cho xã hội.
2.3.4. Nội dung của quá trình tự học.
Bàn về hoạt động tự học và phương pháp tổ chức cho HS tự học như thế
nào để có hiệu quả thiết thực là một vấn đề hoàn toàn không đơn giản, đặc biệt là
các em đã quen với việc học ghi chép, làm theo mẫu, theo sự áp đặt của thầy cô ở
trên lớp. Ngoài việc tìm hiểu khái niệm, những vấn đề liên quan đến động cơ, thói
quen học tập của HS thì mỗi GV rất cần đến quá trình nghiên cứu nhằm tìm ra nội
dung cơ bản, các phương cách tối ưu rèn luyện phương pháp tự học cho HS.
Để đáp ứng yêu cầu nêu trên cần xác định rõ những yêu cầu cơ bản của
hoạt động tự học như: nội dung của hoạt động tự học gồm mấy vấn đề, để tiếp
cận nó phải tuân thủ theo qui trình nào, điều kiện để áp dụng có hiệu quả các yêu
cầu ra sao,… từ đó xây dựng những biện pháp dạy tự học tích cực tương ứng.
Với tất cả các lĩnh vực khoa học, việc dạy tự học có những điểm chung,
thống nhất về cách thức cũng như phương pháp. Đó là những vấn đề được xác
định như sau:
a/ Xây dựng động cơ học tập
Khơi gợi hứng thú học tập để trên cơ sở đó ý thức tốt về nhu cầu học tập.
Người học tự xây dựng cho mình động cơ học tập đúng đắn là việc cần làm đầu
tiên. Bởi vì, thành công không bao giờ là kết quả của một quá trình ngẫu hứng
tùy tiện thiếu tính toán, kể cả trong học tập lẫn nghiên cứu. Nhu cầu xã hội và thị
Sáng kiến kinh nghiệm
sự điều chỉnh của dư luận.
Cả hai động cơ trên không phải là một quá trình hình thành tự phát, cũng
chẳng được đem lại từ bên ngoài mà nó hình thành và phát triển một cách tự giác
thầm lặng từ bên trong. Do vậy người GV phải tùy đặc điểm môn học, tùy đặc
điểm tâm sinh lý lứa tuổi của đối tượng để tìm ra những biện pháp thích hợp
nhằm khơi dậy hứng thú học tập và năng lực tiềm tàng nơi HS. Và, điều quan
trọng hơn là tạo mọi điều kiện để các em tự kích thích động cơ học tập của mình.
Đối với phần đông những người trẻ nhất là lứa tuổi HS, việc tạm gác những
thú vui, những trò giải trí hấp dẫn nhất thời để toàn tâm toàn sức cho việc học là
hai điều có ranh giới vô cùng mỏng manh. Nó đòi hỏi sự quyết tâm cao và một ý
chí mạnh mẽ cùng nghi lực đủ để chiến thắng chính bản thân mình. Đối với người
trưởng thành, khi mục đích cuộc đời đã rõ, ý thức trách nhiệm đối với công việc
đã được xác định và sự học đã trở thành niềm vui thì việc xác định động cơ thái độ
học tập nói chung không khó khăn như thế hệ trẻ, tuy nhiên không phải là hoàn
toàn không có. Vì suy cho cùng ai cũng có những nhu cầu riêng và từ đó có những
hứng thú khác nhau. Vấn đề là phải biết kết hợp biện chứng giữa nội sinh và ngoại
sinh, tức là hứng thú nhận thức, hứng thú trách nhiệm được đánh thức, khơi dậy
Sáng kiến kinh nghiệm
20
Năm học 2014 - 2015
Giáo viên: Trương Thị Hồng Chiên
Trường THPT chuyên Lương Văn Tụy
trên cơ sở những điều kiện tốt từ bên ngoài. Trong đó người thầy đóng vai trò chủ
đạo.
làm việc với sách ta phải sử dụng năng lực tổng hợp toàn diện và có sự xuất hiện
của hoạt động của trí não, một hoạt động tối ưu trong quá trình tự học. Do vậy,
rèn luyện thói quen đọc sách là một công việc không thể tách rời trong yêu cầu
tự học. Ngoài việc tiếp nhận tri thức còn phải biết đối thoại, gợi mở, thắc mắc
hay đề xuất những vấn đề cần lưu ý sau khi đọc sách, hoặc chí ít là học cách viết,
Sáng kiến kinh nghiệm
21
Năm học 2014 - 2015
Giáo viên: Trương Thị Hồng Chiên
Trường THPT chuyên Lương Văn Tụy
lối diễn đạt từ những cuốn sách hay. Đó là cách đọc sáng tạo. Khác với sự giải trí
đơn giản hay cảm nhận thông thường.
- Xử lí thông tin: Việc xử lí thông tin trong quá trình tự học không bao giờ
diễn ra trong vô thức mà cần có sự gia công, xử lí mới có thể sử dụng được. Quá
trình này có thể được tiến hành thông qua việc phân tích, đánh giá, tóm lược,
tổng hợp, so sánh,…
- Vận dụng tri thức, thông tin: Trong việc vận dụng thông tin tri thức khoa
học để giải quyết các vấn đề liên quan như thực hành bài tập, thảo luận, xử lí các
tình huống, viết bài thu hoạch, báo cáo khoa học, tổng thuật… HS thường gặp
rất nhiều khó khăn. Có lúc tìm được một khối lượng lớn tư liệu nhưng việc tập
hợp phân loại nội dung để kiến giải một vấn đề lại không thực hiện được. Trong
trường hợp này cần khoanh vùng vấn đề trong một giới hạn đừng quá rộng. Chỉ
cần tập trung đào sâu một vấn đề nào đó nhằm phát hiện ra cái mới có giá trị
thực tiễn là đáp ứng yêu cầu. Trong khâu này việc lựa chọn và thay đổi hình thức
Giáo viên: Trương Thị Hồng Chiên
Trường THPT chuyên Lương Văn Tụy
pháp tự học cụ thể, khoa học. Nhờ đó hoạt động tự học của HS mới đi vào chiều
sâu thực chất.
2.3.5. Dạy phương pháp tự học cho học sinh.
Ngoài những nội dung và phương pháp chung được trình bày ở trên mỗi
môn học, mỗi đối tượng đều có những đặc thù riêng. Và với GV cũng vậy, cũng
với những phương pháp giống nhau nhưng cách sử dụng của mỗi người ở những
thời điểm cũng có sự khác nhau. Do vậy, việc tìm ra những cách thức dạy tự học
cụ thể cho từng lĩnh vực là công việc rất có ý nghĩa. Tâm lý chung với đối tượng
HS THPT chỉ chú trọng các môn học theo khối thi đại học của mình nên nếu HS
không thi đại học khối A, B việc học môn Hóa học một phần do không thuộc sở
trường, một phần quỹ thời gian ngày càng eo hẹp, học tất cả các môn như nhau
sẽ chiếm nhiều thời gian ảnh hưởng đến kết quả thi đại học. Những HS thi khối
A, B có môn Hóa học là môn chính thì lại có tâm lý đua nhau đi học thêm để
nhồi nhét kiến thức, miễn là yên tâm sẽ có đủ kiến thức, kỹ năng làm tốt 50 câu
trắc nghiệm trong thời gian 90 phút là được. Với tình hình thực tế như vậy, việc
xác định các phương pháp dạy cho HS tự học môn Hóa học càng phải được quan
tâm nhiều hơn.
Dạy phương pháp tự học môn Hóa học – là môn khoa học tự nhiên cho
HS đã được định hình từ lâu bằng những yêu cầu cụ thể rõ ràng như thực hành
bài tập, vẽ sơ đồ, viết phương trình phản ứng, nêu hiện tượng thí nghiệm,…Việc
kiểm tra HS có thực hiện yêu cầu học tập mà GV giao hay không cũng vì thế mà
dễ xác định và đỡ mất thời gian hơn. Tuy nhiên, để mọi đối tượng HS cùng tham
gia việc tự học môn Hóa học không hề dễ dàng. Từ đặc thù của môn Hóa học,
qua nghiên cứu các tài liệu về phương pháp dạy học và thực tế giảng dạy nhiều
năm tôi đã rút ra bốn vấn đề cốt lõi có thể áp dụng trong quá trình dạy tự học cho
HS. Đó là:
thuyết cụ thể về nguyên tố, hợp chất thì dễ hiểu hơn nhưng phải ghi nhớ rất
nhiều công thức hóa học, tên chất, tính chất, phản ứng xảy ra giữa các chất, điều
kiện của mỗi một phản ứng lại khác nhau…,việc vừa chú ý theo dõi để ghi nhận
thông tin vừa mong muốn ghi chép thật đầy đủ khiến đôi lúc trở thành một thách
đố lớn. Các em thường mang lối học thụ động, quen tách việc nghe và ghi chép
ra khỏi nhau, thậm chí nhiều HS chỉ chờ GV viết xong các phản ứng hay chữa
xong bài tập ở trên bảng mới có thể ghi chép được nội dung bài học, nếu ngược
lại thì đành bỏ trống vở khiến tâm lý bị ức chế, ảnh hưởng đến quá trình tiếp
nhận kiến thức. Thực tế đó đòi hỏi người học phải tập trung tư tưởng cao độ để
có khả năng lĩnh hội vấn đề một cách khoa học nhất. Phải rèn luyện để có khả
năng vừa nghe giảng vừa ghi chép, huy động vốn từ, sử dụng tốc độ ghi chép
nhanh bằng các hình thức viết tắt, gạch chân, tóm lược bằng sơ đồ hình vẽ những
ý chính, các luận điểm quan trọng mà GV nhấn mạnh, lặp lại nhiều lần là điều vô
cùng cần thiết. Ngoài ra, trong quá trình học tập trên lớp, nếu có vấn đề nào
không hiểu cần đánh dấu để hỏi ngay sau khi GV ngừng giảng nhằm đào sâu
kiến thức và tiết kiệm thời gian. Rất tiếc, trên thực tế đây là điểm yếu mà phần
lớn HS không quan tâm rèn luyện để có được.
Muốn tạo điều kiện cho HS nghe giảng và ghi chép tốt, GV cần lưu ý:
- Nội dung bài giảng phải mới mẻ, thiết thực, cần thiết có thể tạo ra những
tình huống giả định yêu cầu HS suy nghĩ phản biện.
- Các câu hỏi, vấn đề đặt ra trong giờ giảng phải có sự chọn lọc kĩ lưỡng,
tập trung vào trọng tâm bài học như một cách phát tín hiệu cho HS xác định nội
dung chính.
Đưa vào bài giảng những tình huống lý thú, những mẩu chuyện sinh
động, những hiện tượng lấy từ thực tế có liên quan trực tiếp đến đời sống để gây
sự chú ý cũng như tạo cảm giác hứng thú cho người học.
- Sau hoặc trong khi giảng bài có thể yêu cầu HS tự đặt ra những câu hỏi,
tình huống sát với nội dung bài học để thay đổi không khí, tăng cường sự chú ý
của cả lớp.
Sáng kiến kinh nghiệm
đề khoa học hoặc đơn giản chỉ là sự bày tỏ chính kiến trước một hiện tượng.
Thông qua đó người dạy cũng có thể nắm được mức độ nhận thức của HS để có sự
bổ sung điều chỉnh hợp lí, kịp thời. Đảm bảo chất lượng giờ giảng luôn được cải
thiện theo hướng tích cực.
d/ Dạy cách tự kiểm tra, đánh giá.
Trước hết là dạy HS cách làm bài kiểm tra, khi làm phần trắc nghiệm phải
rèn kỹ năng đọc đề, đọc yêu cầu của đề trước rồi đến nhìn qua đáp án, sau đó
mới đọc nội dung câu hỏi để đỡ tốn nhiều thời gian đọc. Chú ý vận dụng các
phương pháp giải nhanh. Làm hết lý thuyết rồi mới làm đến bài tính toán, làm
hết bài dễ, ngắn rồi mới đến bài dài, khó. Đặc biệt là phải chuẩn thời gian quy
định. Sau khi làm xong thì đối chiếu với đáp án, tự chấm và ghi số câu đúng ứng
với số điểm. Xem lại những câu sai, chưa làm được, tìm nguyên nhân và rút kinh
nghiệm, tìm hướng giải khác. Khi làm bài tự luận thì phải đọc kỹ đề bài, chú ý
đến kỹ năng trình bày, lý luận chặt chẽ, xét hết các trường hợp có thể xảy ra, nêu
rõ hiện tượng thí nghiệm, viết đầy đủ các phương trình phản ứng có thể xảy ra,
đặc biệt chú ý cân bằng phương trình phản ứng. Làm xong đối chiếu đáp án, tìm
Sáng kiến kinh nghiệm
25
Năm học 2014 - 2015