Luận văn " Nâng cao năng lực tự học cho HS chuyên Hoá học bằng tài liệu tự học có hướng dẫn theo modun" - Pdf 20



LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP " Nâng cao năng lực tự học cho HS
chuyên Hoá học bằng tài liệu tự học có
hướng dẫn theo modun"

Luận văn ThS Khoa học Giáo Dục Chuyên ngành: Lí luận và PPDH Hoá học
________________________________________________________________________

1
PHẦN I : MỞ ĐẦU

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
I.1 - Trong thế kỉ 21- kỉ nguyên của thông tin, sự phát triển của nền giáo dục
được coi là một trong những nhân tố cơ bản quyết định sự phát triển bền vững của
mọi quốc gia, dân tộc. Sự nghiệp đổi mới toàn diện của đất nước ta coi đổi mới nền

Xuất phát tự những lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài: "Nâng cao năng lực tự
học cho học sinh chuyên Hoá học bằng tài liệu tự học có hƣớng dẫn theo modun
- ( Phần Hoá học vô cơ lớp 12)".
Trong khuôn khổ của đề tài này chúng tôi chỉ giới hạn nghiên cứu, lựa chọn
và phối hợp sử dụng một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học phần
Hoá học vô cơ lớp 12- cho học sinh chuyên hoá học.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu xây dựng một số biện pháp nâng cao năng lực tự học cho hóc
sinh phần hoá học vô cơ lớp 12- chương trình Chuyên nhằm nâng cao chất lượng
dạy và học cho học sinh chuyên Hoá học.
III. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
1. Quá trình học hoá học vô cơ lớp 12 ở trường THPT đối với học sinh
Chuyên hoá học.
2. Các biện pháp nâng cao năng lực tự học hoá học phần hoá vô cơ lớp 12-
THPT cho học sinh Chuyên hoá học.
3. Phạm vi, giới hạn nghiên cứu là quá trình dạy và học hoá học THPT phần
vô cơ lớp 12- chương trình Chuyên.
IV. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu thiết kế được một tài liệu tự học có hướng dẫn theo modun đảm bảo
được yêu cầu và chất lượng sẽ phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo cho
học sinh phổ thông, đặc biết là học sinh chuyên hoá học. Đồng thời tài liệu sẽ giúp
nâng cao năng lực tự học, tự kiểm tra, tự nghiên cứu. Đây sẽ là một công cụ giúp
các em học sinh tự học, tự hoàn thiện suốt đời.
V. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1. Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề tự học có hướng dẫn của
học sinh phổ thông , đặc biệt với học sinh chuyên hoá học.
Luận văn ThS Khoa học Giáo Dục Chuyên ngành: Lí luận và PPDH Hoá học
________________________________________________________________________

3

________________________________________________________________________

4
- Đánh giá hiệu quả sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn nhằm nâng cao
hiệu quả học tập của học sinh.
d- Phương pháp thống kê toán học:
- Xử lý kết quả thực nghiệm bằng toán học thống kê.
VII. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
1. Hệ thống hoá cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng dạy học và tổ chức tự
học có hướng dẫn cho học sinh chuyên hoá học.
2. Soạn thảo tài liệu tự học có hướng dẫn theo modun phần vô cơ lớp 12
chương trình chuyên hoá học. Luận văn ThS Khoa học Giáo Dục Chuyên ngành: Lí luận và PPDH Hoá học

thức một cách tự giác, tự lực. Đó chính là tính tích cực bên trong dẫn đến sự độc lập
phát triển của mỗi cá nhân.
Luận văn ThS Khoa học Giáo Dục Chuyên ngành: Lí luận và PPDH Hoá học
________________________________________________________________________

6
Bản chất của hoạt động học là sự chiếm lĩnh tri thức khoa học của người học.
Trong hoạt động học cũng có hai trạng thái là học thụ động và học chủ động (học
tích cực). Bất cứ hình thức học nào cũng phải trải qua quá trình tự học mới có kết
quả vì học là tự cải tạo mình, làm biến đổi nhận thức của bản thân.
* Hoạt động học hoá học:
-Học hoá học không phải là chỉ ghi nhớ mà là học cách tư duy, khám phá,
tìm tòi, xây dựng kiến thức cho người học và áp dụng chúng vào thực tiễn. Học hoá
học là một loại hoạt động nhận thức mang tính đặc thù riêng. Một mặt nó tuân theo
quy luật chung của hoạt động nhận thức sáng tạo, mặt khác phải phù hợp với đặc
điểm của khoa học hoá học.
- Những đặc trưng cơ bản của hoạt động học hoá học:
Hoạt động học hoá học giống hoạt động học của các môn khoa học thực nghiệm
khác. Đối tượng của hoạt động chính là các hiện tượng hoá học luôn biến đổi và
chuyển động không ngừng. Qua quá trình học, học sinh phát hiện được những dấu
hiệu, tính chất chung nhất và biến thành tri thức của bản thân.
- Hoạt động học hoá học của học sinh là hoạt động có mục đích với những
động cơ phù hợp gắn liền với nội dung học tập như: nắm tri thức, kĩ năng, kĩ xảo để
sử dụng trong đời sống sản xuất đem lại lợi ích cụ thể và tự rèn luyện cho mình khả
năng tư duy sáng tạo. Đó là điều kiện cần thiết tạo cho học sinh hứng thú, say mê
học tập.
- Chủ thể của hoạt động học hoá học chính là học sinh. Trong quá trình học
đòi hỏi học sinh phải thực hiện và hoàn thiện một loạt các kĩ năng như: viết phương
trình phản ứng, giải thích các hiện tượng…; các kĩ xảo như: thao tác chính xác,
đúng thứ tự , đúng kĩ thuật, …

HĐ tự học của HS

MT
ND
Kiến thức, kĩ năng, thái độ của HS
Luận văn ThS Khoa học Giáo Dục Chuyên ngành: Lí luận và PPDH Hoá học
________________________________________________________________________

8
Theo quan niệm dạy trên có thể hiểu khái niệm hướng dẫn tự học là sự hỗ trợ
của giáo viên trong việc định hướng cho học sinh. Nội dung định hướng bao gồm:
định hướng mục tiêu, nội dung , phương pháp học tập. Nhiệm vụ của giáo viên là
xây dựng: kế hoạch hành động, hệ thống phiếu tự học, và tài liệu tự học có hướng
dẫn với hệ thống câu hỏi, bài toán nhận thức, tổ chức thảo luận theo tập thể mà khi
đó giáo viên là cố vấn, người điều khiển, hướng dẫn… để học sinh tự tổ chức nhận
thức nhằm giải quyết nhiệm vụ học tập.
Như vậy tổ chức hoạt động tự học của học sinh trong quá trình dạy học đã
thực sự đặt học sinh vào vị trí chủ thể của quá trình nhận thức tích cực mà vẫn
không hạ thấp vai trò của giáo viên. Khi điều khiển hoạt động tự học của học sinh,
giáo viên không hoàn toàn áp đặt về nội dung, phương pháp, nhịp điệu tiến hành mà
căn cứ vào mục đích dạy học để thiết kế các nhiệm vụ nhận thức thành các phương
án thực hiện.
* Hoạt động dạy hoá học: là hoạt động dạy cho học sinh biết làm việc, nghiên
cứu, xây dựng kiến thức, rèn luyện kĩ năng đặc thù của bộ môn hoá học. Dạy cho học
sinh biết hoạt động theo phương pháp nhận thức của khoa học hoá học.
Giáo viên với vai trò là người tổ chức, điều khiển, hướng dẫn học sinh hoạt
động nhận thức chiếm lĩnh tri thức phải hiểu chính xác khoa học các kiến thức cần
dạy, lựa chọn giảng dạy một cách logic, phù hợp với mọi đối tượng học sinh.
I.3 Xu hƣớng đổi mới PPDH trong giai đoạn hiện nay[9], [29], [5]
Chiến lược phát triển giáo dục (2001-2002) đã chỉ rõ: Một trong những giải

sinh phương pháp tự học, học sinh tự chịu trách nhiệm về kết quả học tập của mình,
tham gia tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau.
II. PHƢƠNG PHÁP TỰ HỌC CÓ HƢỚNG DẪN THEO MODUN ĐỐI VỚI
HỌC SINH CHUYÊN HÓA
II.1 Modun [9],[19]
II.1.1 Khái niệm modun
Modun là đơn vị kĩ thuật độc lập, có khả năng lắp ráp ( hoặc tháo gỡ) với
nhau tuỳ theo mục đích sử dụng. Ví dụ như việc lắp ráp nhiều con tàu vũ trụ thành
một trạm vũ trụ và tháo gỡ từng con tàu ra khỏi trạm. Vận dụng tư tưởng đó, người
ta thiết kế ra phương pháp modun dạy học nhằm phục vụ cho những hệ dạy học tự
học - cá thể hoá - có hướng dẫn. Vậy modun dạy học là gì?
Luận văn ThS Khoa học Giáo Dục Chuyên ngành: Lí luận và PPDH Hoá học
________________________________________________________________________

10
Modun dạy học là đơn vị chương trình dạy học tương đối độc lập, được cấu
trúc một cách đặc biệt nhằm phục vụ cho người học và chứa đựng cả mục tiêu dạy
học, nội dung dạy học, phương pháp dạy học và hệ thống công cụ đánh giá kết quả
lĩnh hội, gắn bó chặt chẽ với nhau thành một hệ toàn vẹn.
II.1.2 Cấu trúc modun[19]
Modun dạy học bao gồm ba phần hợp thành: hệ vào, thân modun và hệ ra.
-Hệ vào: diễn ra theo ba pha, mỗi pha có một chức năng riêng.
Pha 1: CHọn modun và tìm hiểu mục tiêu cụ thể của modun.
Pha 2: Kiểm tra có chọn lọc trình độ có thể có của HS về mục tiêu kết thúc của
modun.
Pha 3: Kiểm tra những điều kiện tiên quyết.
- Thân modun: Bao gồm một loạt những tiểu modun tương ứng với những
chương, mục tiêu chung hoặc một loạt những mục tiêu cần một khoảng thời gian
nhất định để lĩnh hội.
Cấu trúc một tiểu modun:

4. Tiếp cận này cho phép người học tiến lên theo nhịp độ thích hợp với năng
lực riêng( có thể nhanh hay chậm). Chỉ khi nào xong modun trước mới được phép
học modun sau. Và tiếp cận này thích hợp với hệ đánh giá theo tín chỉ, rất mềm dẻo
linh hoạt.
5. Tiếp cận modun còn cho phép phân hoá- chuyên biệt hoá mục tiêu đào tạo.
Tuỳ theo cách lắp ráp các modun lại với nhau và với các modun phụ đạo hoặc đề
cao, ta có thể thiết kế được nhanh chóng những chương trình môn học có những
trình độ đa dạng về cùng một đề tài. Đó là những chương trình huấn luyện modun
hoá.
II.2 Hình thức tự học[7]
II.2.1 Khái niệm tự học
Tự học là hoạt động học hoàn toàn không có giáo viên, học sinh không có sự
tiếp xúc với giáo viên, là hình thức học tập hoàn toàn không có sự tương tác thầy
trò, do đó học sinh phải tự lực thông qua tài liệu, qua hoạt động thực tế, qua thí
nghiệm để chiếm lĩnh tri thức.
II.2.2 Các hình thức tự học
Luận văn ThS Khoa học Giáo Dục Chuyên ngành: Lí luận và PPDH Hoá học
________________________________________________________________________

12
- Tự học hoàn toàn ( không có giáo viên): Thông qua tài liệu, qua tìm hiểu
thực tế, học kinh nghiệm của người khác.Với hình thức tự học này, học sinh gặp
nhiều khó khăn do có nhiều lỗ hổng kiến thức, khó thu xếp tiến độ kế hoạch tự học,
không tự đánh giá được kết quả tự học của mình…Từ đó dễ chán nản và không tiếp
tục tự học.
- Tự học cho một giai đoạn của quá trình học tập: ví dụ như làm bài tập ở
nhà, Để giúp học sinh có thể tự học ở nhà theo hình thức này đạt kết quả tốt giáo viên
cần tăng cường kiểm tra, đáng giá kết quả học bài, làm bài ở nhà của học sinh.
- Tự học thông qua phương tiện truyền thông ( học từ xa): Học sinh được
nghe giáo viên giảng giải, nhưng không được tiếp xúc với giáo viên, không được

hữu của mình.
II.3.2 Một số năng lực tự học cần bồi dƣỡng cho HS THPT [31]
Để học giỏi hoá học, học sinh phổ thông cần có kiến thức hoá học cơ bản
vững vàng, sâu sắc và hệ thống. Bên cạnh đó không thể thiếu năng lực tư duy sáng
tạo, kĩ năng thực hành tốt và phương pháp nghiên cứu khoa học. Tất cả những điểm
đó thể hiện ở một số năng lực sau:
a) Năng lực tiếp thu kiến thức: Đó là khả năng nhận thức vấn đề nhanh, có hứng thú
nhất là trong nhứng bài, vấn đề mới.
b) Năng lực suy luận logic: Là khả năng phân tích sự vật hiện tượng, vấn đề qua các
dấu hiệu đặc trưng của chúng, biết thay đổi góc nhìn, xét đủ các điều kiện và còn
biết quay lại điểm xuất phát để tìm đường đi mới.
c) Năng lực lao động sáng tạo: Là khả năng tổng hợp các yếu tố, các thao tác để
thiết kế một dãy các hoạt động nhằm đạt kết qủa theo nhiều cách khác nhau nhằm
tìm ra con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất. Biết vận dụng linh hoạt, mềm dẻo
những kiến thức cơ bản và hướng nhận thức đó vào tình huống mới, không theo
đường mòn.
d) Năng lực kiểm chứng: Biết suy xét đúng- sai từ một loạt sự kiện, tạo ra các sự tương
phản để khẳng định hoặc bác bỏ một vấn đề nào đó, biết rút ra kết luận sau kiểm
nghiệm.
e) Năng lực thực hành: Hoá học là bộ môn khoa học thực nghiệm nên học sinh giỏi
hoá học cần có khả năng về thực nghiệm, tiến hành thí nghiệm hoá học: Biết sử
dụng thành thạo các hệ thống kí hiệu, quy ước, trật tự hoá học; biết thực hiện các
Luận văn ThS Khoa học Giáo Dục Chuyên ngành: Lí luận và PPDH Hoá học
________________________________________________________________________

14
thao tác trong khi làm thí nghiệm, kiên trì trong quá trình thí nghiệm nhằm làm sáng
tỏ vấn đề lí thuyết qua thực nghiệm.
II.3.3 Hệ thống kĩ năng học tập
* Kĩ năng là tổng hợp những thao tác, cử chỉ phối hợp hài hoà, hợp lí nhằm đảm

trình trao đổi, rất nhiều em muốn giáo viên giảng và trình bày kĩ hơn trong quá trình
chữa bài tập.
5. Một thực tế đáng buồn là trong trường phổ thông, ngay cả các lớp chuyên
Hoá học, các em rất ít được làm thí nghiệm. Chính vì vậy môn Hoá học trở nên xa
vời, "lý thuyết" đối với các em.
Xuất phát từ thực tế như vậy, trong quá trình biên soạn cuốn tài liệu tự học
có hướng dẫn này, chúng tôi cố gắng đưa ra mục tiêu của bài, những phần lý thuyết
trọng tâm cơ bản nhất, các bài tập thực nghiệm, và những bài tập đỏi hỏi tư duy
sáng tạo để các em có thể tự hoàn thiện kiến thức của mình qua quá trình tự học.
II.4 Tài liệu tự học có hƣớng dẫn theo modun [19 ],
II.4.1 Thế nào là tài liệu tự học có hƣớng dẫn theo modun?
Tự học có hướng dẫn có thể được thực hiện trực tiếp giữa thầy và trò: Thực
hiện trong bài lên lớp ( phương pháp đàm thoại, phương pháp dạy học nêu vấn đề,
phương pháp tích cực hoá hoạt động của học sinh…); thực hiện bằng hình thức giao
nhiệm vụ ( ra bài tập về nhà, phiếu học tập,…) cũng có thể thực hiện gián tiếp giữa
giáo viên và học sinh thông qua " Tài liệu tự học có hướng dẫn theo modun". Tài
liệu tự học có hướng dẫn theo modun là tài liệu được biên soạn theo những đặc
trưng và cấu trúc của một modun. Tài liệu liệu có thể được phân thành nhiều loại:
theo nội dung lý thuyết hoặc nội dung bài tập.
II.4.2 Tài liệu tự học có hƣớng dẫn theo modun phần lý thuyết [19], [17]
Đây là một tài liệu vừa cung cấp nội dung kiến thức vừa hướng dẫn hoạt
động học tập của học sinh đồng thời hướng dẫn cả hoạt động kiểm tra, đánh giá
kiến thức của học sinh.
Về việc đọc tài liệu trước khi nghe giảng trên lớp: đa số các em đều có ý thức
đọc bài học mới trước khi đến lớp nhưng chủ yếu các em chỉ đọc lướt qua một lần
để " nhớ được gì thì nhớ" hoặc chỉ chú tâm vào một vài phần kiến thức có sự hấp
dẫn, thú vị. Những phần kiến thức còn lại các em sẽ bỏ qua, chờ nghe giáo viên
giảng trên lớp. Như vậy dẫn đến việc chuẩn bị bài của các em chưa đạt hiệu quả.
Luận văn ThS Khoa học Giáo Dục Chuyên ngành: Lí luận và PPDH Hoá học
________________________________________________________________________

pháp dạy học hiệu nghiệm. Bài tập cung cấp cho học sinh cả kiến thức, con đường
Luận văn ThS Khoa học Giáo Dục Chuyên ngành: Lí luận và PPDH Hoá học
________________________________________________________________________

17
giành lấy kiến thức và niềm vui sướng của sự phát hiện- tìm ra đáp số- một trạng
thái hưng phấn- hứng thú nhận thức- một yếu tố tâm lý góp phần rất quan trọng
trong việc nâng cao tính hiệu quả của hoạt động thực tiễn của con người. Điều này
đặc biệt được chú ý trong nhà trường của các nước phát triển.
Vật bài tập hoá học là gì? Nên hiểu khái niệm này như thế nào cho trọn vẹn,
đặc biệt là giáo viên nên sử dụng bài tập hoá học như thế nào để đạt hiệu quả trí đức
dục cao nhất?
* Khái niệm bài tập hoá học [13], [25]
- Theo từ điển tiếng Việt: Bài tập là yêu cầu của chương trình cho học sinh
làm để vận dụng những đuề đã học và cần giải quyết vấn đề bằng PP khoa học.
- Theo các nhà lý luận dạy học Liên Xô ( cũ), bài tập bao gồm cả câu hỏi lý
thuyết và bài toán mà trong khi hoàn thành chúng học sinh vừa nắm được vừa hoàn
thiện tri thức hay kĩ năng nào đó, bằng cách trả lời miệng, trả lời viết hay kèm theo
thực nghiệm. Ở nước ta, sách giáo khoa hoặc sách tham khảo, thuật ngữ "bài tập"
được dùng theo quan điểm này.
-Về mặt lý luận dạy học, để phát huy tối đa tác dụng của bài tập hoá học
trong quá trình dạy học, người giáo viên phải sử dụng và hiểu nó theo quan điểm hệ
thống và lý thuyết hoạt động. Một học sinh lớp 1 không thể xem bài toán thuộc
chương trình lớp 12 là "bài tập" và ngược lại, đối với học sinh lớp 12, bài tập thuộc
chương trình lớp 1 không còn là "bài tập" nữa! Bài tập chỉ có thể là "bài tập" khi nó
trở thành đối tượng hoạt động của chủ thể, khi có một người nào đó có nhu cầu
chọn nó làm đối tượng, mong muốn giải nó, tức là khi có một "người giải". Vì vậy,
bài tập và người học có mối liên hệ mật thiết tạo thành một hệ thống toàn vẹn,
thống nhất và liên hệ chặt chẽ với nhau: Bài tập- đối tượng; Người giải- chủ thể.
Bài tập là một hệ thông tin chính xác bao gồm hai tập hợp gắn bó chặt chẽ, tác

- Rèn luyện kĩ năng hóa học cho học sinh như: kĩ năng viết và cân bằng phương
trình phản ứng, kĩ năng tính toán theo công thức và phương trình hoá học, kĩ năng thực
hành như cân, đo, nung sấy, đun nóng, lọc, nhận biết hoá chất,…
- Phát triển năng lực nhận thức, rèn trí thông minh cho học sinh ( học sinh có
hiểu sâu mới hiểu được trọn vẹn). Một số bài tập có tình huống đặc biệt ngoài cách
giải thông thường còn có cách giải độc đáo nếu học sinh có tầm nhìn sắc sảo. Thông
thường nên yêu cầu học sinh giải bằng nhiều cách: có thể tìm ra cách giải ngắn nhất,
hay nhất, đó là cách rèn luuyện tư duy thông minh cho học sinh. Khi giải bài toán
bằng nhiều cách dưới các góc độ khác nhau, khả năng tư duy của học sinh tăng lên
Luận văn ThS Khoa học Giáo Dục Chuyên ngành: Lí luận và PPDH Hoá học
________________________________________________________________________

19
gấp nhiều lần so với việc học sinh giải nhiều bài toán bằng một cách và không phân
tích đến nơi đến chốn.
- Bài tập hoá học còn được sử dụng như một phương tiện nghiên cứu tài liệu
mới ( hình thành khái niệm, định luật, ) khi trang bị kiến thức mới, giúp học sinh
tích cực, tự lực lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc và bền vững. Điều này thể hiện
rõ khi học sinh làm bài tập thực nghiệm định lượng.
Bài tập hoá học phát huy tính tính cực, tự lực của học sinh và hình thành
phương pháp học tập hợp lý.
- Bài tập hoá học còn là phương tiện để kiểm tra kiến thức, kĩ năng của học
sinh một cách hiệu quả.
- Bài tập hoá học có tác dụng giáo dục đạo đức tác phong, rèn luyện tính kiên
trì, trung thực, chính xác khoa học và sáng tạo, phong cách làm việc khoa học(có tổ
chức, kế hoạch,…), nâng cao hứng thú học tập bộ môn. Điều này thể hiện rõ khi
giải bài tập thực nghiệm.
Bản thân một bài tập hoá học chưa có tác dụng gì cả: Không phải một bài tập
hoá học "hay" thì luôn có tác dụng tích cực! Vấn đề phụ thuộc chủ yếu là "người sử
dụng nó". Làm thế nào phải biết trao đúng đối tượng, phải biết cách khai thác triệt

những hợp thành của nó do luyện tập mà trở thành tự động hoá. Kĩ xảo là ở mức độ
cao của sự nắm vững kĩ năng. Nếu như kĩ năng đòi hỏi ở mức độ nhiều, ít sự tự
kiểm tra tự giác, tỉ mỉ thì kĩ xảo là hành động được tự động hoá, trong đó sự tự kiểm
tra tự giác xảy ra chớp nhoáng và các thao tác được thực hiện rất nhanh, như một
tổng thể, dễ dàng và nhanh chóng.
- Sự nắm vững kiến thức có thể được phân biệt ở 3 mức độ: biết, hiểu và vận
dụng được.
+ Biết một kiến thức nào đó nghĩa là nhận ra nó, phân biệt nó với các kiến thức
khác, kể lại nội hàm của nó một cách chính xác. Đây là mức độ tối thiểu mà học
sinh cần đạt trong giờ học.
+ Hiểu một kiến thức là gắn kiến thức ấy vào một kiến thức đã biết đưa được nó vào
trong hệ thống vốn kinh nghiệm của bản thân, nói cách khác, hiểu một kiến thức là
nêu đúng nội hàm và ngoại diên của nó, xác lập được những quan hệ giữa nó và hệ
Luận văn ThS Khoa học Giáo Dục Chuyên ngành: Lí luận và PPDH Hoá học
________________________________________________________________________

21
thống kiến thức, vận dụng được trực tiếp kiến thức ấy vào những tình huống quen
thuộc dẫn đến có khả năng vận dụng nó một cách linh hoạt và sáng tạo.
+ Vận dụng kiến thức vào giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn, tức là phải tìm được
kiến thức thích hợp trong vốn kiến thức đã có để giải quyết một nhiệm cụ mới.
Thông qua vận dụng những kiến thức đã nắm vững một cách thực sự, sâu sắc hơn
càng làm chủ quá trình nắm vững kiến thức một cách tự giác, sáng tạo, làm cho mối
quan hệ giữa lý thuyết và thực tiễn càng sâu sắc, càng gần gũi. Mặt khác, trong khi
vận dụng kiến thức, các thao tác tư duy được trau dồi, một số kĩ năng, kĩ xảo được
hình thành và củng cố, hứng thú học tập của học sinh được nâng cao.
- Để đảm bảo cho học sinh nắm vững kiến thức hóa học một cách vững chắc
cần phải hình thành cho họ kĩ năng, kĩ xảo, vận dụng kiến thức thông qua nhiều
hình thức luyện tập khác nhau. Trong đó, việc giải bài tập một cách có hệ thống từ
dễ đến khó là một hình thức rèn luyện phổ biến được tiến hành nhiều nhất. Theo

học : Tự học- cá thể hoá - có hướng dẫn là một hình thức dạy học hiện đại. Theo đó
đã đưa cơ sở lý luận để biên soạn và tổ chức nội dung dạy học mới, đó là thực hiện
theo tiếp cận modun.
3. Lý luận về tự học và tài liệu tự học có hướng dẫn theo modun với nội dung lý
thuyết và nội dung bài tập. Luận văn ThS Khoa học Giáo Dục Chuyên ngành: Lí luận và PPDH Hoá học
________________________________________________________________________

23
Chƣơng II: THIẾT KẾ NỘI DUNG - PHƢƠNG PHÁP SỬ DỤNG
TÀI LIỆU TỰ HỌC CÓ HƢỚNG DẪN THEO MODUN
(PHẦN HOÁ HỌC VÔ CƠ LỚP 12)

I. GIỚI THIỆU VỀ PHẦN HOÁ HỌC VÔ CƠ LỚP 12-CHƢƠNG TRÌNH
CHUYÊN
I.1. Cấu trúc nội dung phần hoá học vô cơ lớp 12- chƣơng trình chuyên

- Các tính chất vật lý quan trọng của kim loại.
- Tính chất hoá học chủ yếu của kim loại( tính khử) và biểu hiện của tính chất này
thông qua các phản ứng tiêu biểu với phi kim, với H
2
O, với dung dịch muối, với
dung dịch axit…
- Dãy hoạt động hoá học của kim loại và chiều diễn biến của các phản ứng ôxi hoá
khử.
b- Học sinh cần hiểu:
- Nguyên nhân dẫn đến các tính chất vật lý của kim loại và hợp kim như: ánh kim,
tính dẻo, tính dẫn điện, dẫn nhiệt, tính cứng, nhiệt độ nóng chảy, tỉ khối.
- Vì sao kim loại có tính khử.
- Cơ sở khoa học của việc xây dựng dãy hoạt động hoá học của các kim loại.
- Nguyên nhân và chiều hướng diễn biến của các phản ứng ôxi hoá khử.
- Vì sao các kim loại bị ăn mòn và bảo vệ chúng như thế nào.
- Tại sao các kim loại khác nhau phải có phương pháp điều chế khác nhau.
c. Học sinh vận dụng:
- Từ đặc điểm cấu tạo và liên kết trong tinh thể kim loại và hợp kim để so sánh,
giải thích sự biến đổi các tính chất vật lý, hoá học của kim loại , hợp kim.
- Sử dụng thế điện cực để xét đoán chiều phản ứng, tính hằng số cân bằng của
phản ứng, hiểu được cấu tạo, nguyên tắc hoạt động của pin, acquy.
- Nắm được bản chất, điều kiện, cơ chế của các dạng ăn mòn kim loại và các biện
pháp bảo vệ chống ăn mòn kim loại.
- Nắm được nguyên tắc chung điều chế kim loại và các phương pháp điều chế
thích hợp cho các nhóm kim loại có tính khử khác nhau.
2. Về kĩ năng:

Trích đoạn THIẾT KẾ NỘI DUNG TÀI LIỆU TỰ HỌC CÓ HƢỚNG DẪN THEO MODUN Test 1: Kiểm tra cơ bản. Phần tài liệu tự học lý thuyết TIỂU MODUN 2: TÍNH CHẤT VẬT LÝ CỦA KIM LOẠ TIỂU MODUN 4: DÃY HOẠT ĐỘNG HOÁ HỌC CỦA CÁC KIM LOẠI CÁCH SỬ DỤNG
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status