skkn phương pháp dạy và học chương 2 bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học và định luật tuần hoàn hóa học lớp 10 THPT ban cơ bản theo định hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh - Pdf 32

Giáo viên: Trương Thị Hồng Chiên

Trường THPT chuyên Lương Văn Tụy

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc



BẢN ĐĂNG KÝ SÁNG KIẾN NĂM 2014
TÊN SÁNG KIẾN: "PHƯƠNG PHÁP DẠY VÀ HỌC CHƯƠNG 2 BẢNG TUẦN HOÀN CÁC NGUYÊN TỐ HÓA HỌC VÀ ĐỊNH LUẬT
TUẦN HOÀN - HÓA HỌC LỚP 10 - THPT - BAN CƠ BẢN
THEO ĐỊNH HƯỚNG TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG CỦA HỌC SINH"

(Dạy học theo quan điểm kiến tạo - Tương tác và cộng tác nhóm nhỏ)

Tác giả sáng kiến: Tr¬ng

ThÞ Hång Chiªn

Đơn vị công tác:

Tổ Hóa Học
Trường THPT chuyên Lương Văn Tụy

 Ninh Bình, tháng 5 năm 2014 

Bản đăng kí Sáng Kiến

1


Tiết 15 - Bài 8 - Sự biến đổi tuần hoàn cấu hình
electron nguyên tử của các nguyên tố hóa học.

Trang 27

Trang 35

Tiết 16, 17 - Bài 9 - Sự biến đổi tuần hoàn tính chất
của các nguyên tố hóa học. Định luật tuần hoàn.

Trang 46

Chương III

Trang49

Thực nghiệm sư phạm.
Tài liệu tham khảo.

Trang 50

Phụ lục I

Các đề kiểm tra đánh giá kết quả thực nghiệm.

Trang 56

Phụ lục II

Một số dạng bài tập chương 2 – BTH các nguyên tố

Năm học 2013 - 2014


Giáo viên: Trương Thị Hồng Chiên

Trường THPT chuyên Lương Văn Tụy

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do – Hạnh phúc
BẢN ĐĂNG KÝ SÁNG KIẾN NĂM HỌC 2013 - 2014

I. TÊN SÁNG KIẾN:
"PHƯƠNG PHÁP DẠY VÀ HỌC CHƯƠNG 2 BẢNG TUẦN HOÀN CÁC NGUYÊN TỐ HÓA HỌC
VÀ ĐỊNH LUẬT TUẦN HOÀN - HÓA HỌC LỚP 10 - THPT - BAN CƠ BẢN
THEO ĐỊNH HƯỚNG TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG CỦA HỌC SINH"
(cụ thể dạy và học các bài: “Bài 7- Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học”; "Bài
8- Sự biến đổi tuần hoàn cấu hình electron nguyên tử của các nguyên tố hóa học";
"Bài 9 - Sự biến đổi tuần hoàn tính chất của các nguyên tố hóa học. Định luật tuần
hoàn" theo quan điểm kiến tạo - tương tác và cộng tác nhóm nhỏ).
II. TÁC GIẢ SÁNG KIẾN: TRƯƠNG THỊ HỒNG CHIÊN
Chức danh: Giáo viên.
Trình độ chuyên môn: Cử Nhân Hóa Học.
Địa chỉ: Trường THPT chuyên Lương Văn Tụy, Thành Phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.
Email:
ĐTDĐ: 0946 108 599.
III. NỘI DUNG SÁNG KIẾN.
1. Giải pháp cũ thường làm.
1.1. Phân tích sử dụng một số phương pháp dạy học truyền thống mà người thầy đóng
vai trò trung tâm :
1.1.1. Sử dụng phương pháp thuyết trình.

+ Tư thế, tác phong và cách diễn đạt của GV phải hấp dẫn, lôi cuốn HS.
1.1.2. Sử dụng phương pháp đàm thoại.
Phương pháp đàm thoại là phương pháp trong đó GV đặt ra một hệ thống câu hỏi, HS
sẽ trả lời hay trao đổi với GV hoặc tranh luận giữa các thành viên trong lớp với nhau, qua
đó HS sẽ củng cố, ôn tập kiến thức cũ và tiếp thu được kiến thức mới. Trong hệ thống câu
hỏi, ngoài các câu hỏi chính còn có những câu hỏi phụ để gợi ý khi HS gặp khó khăn.
1.2. Quy trình chuẩn bị và thực hiên một giờ học theo phương pháp dạy học truyền
thống.
1.2.1. Quy trình chuẩn bị một giờ học.
Hoạt động chuẩn bị cho một giờ dạy học đối với GV thường được thể hiện qua việc
chuẩn bị giáo án. Đây là hoạt động xây dựng kế hoạch dạy học cho một bài học cụ thể,
thể hiện mối quan hệ tương tác giữa GV với HS, giữa HS với HS nhằm đạt được những
mục tiêu của bài học. Hoạt động chuẩn bị cho một giờ học có vai trò và ý nghĩa rất quan
trọng, quyết định nhiều tới chất lượng và hiệu quả giờ dạy học.
1.2.2. Thực hiện giờ dạy học.
Một giờ dạy học nên được thực hiện theo các bước cơ bản sau:
* Kiểm tra sự chuẩn bị của HS.
Lưu ý: Việc kiểm tra sự chuẩn bị của HS có thể thực hiện đầu giờ học hoặc có thể đan
xen trong quá trình dạy bài mới.
* Tổ chức dạy và học bài mới.
* Luyện tập, củng cố.
* Đánh giá.
* Hướng dẫn HS học bài, làm việc ở nhà.
Lưu ý: Tùy theo đặc trưng môn học, nội dung dạy học, đặc điểm và trình độ HS, điều kiện
cơ sở vật chất… GV có thể vận dụng các bước thực hiện một giờ dạy học như trên một
cách linh hoạt và sáng tạo, tránh đơn điệu, cứng nhắc.
2. Giải pháp mới cải tiến.
2.1. Lý do chọn đề tài sáng kiến:
Trong sự nghiệp đổi mới toàn diện của đất nước, đổi mới nền giáo dục và đào tạo là
một trong những trọng tâm của sự phát triển. Muốn nâng cao chất lượng giáo dục, chúng


Giáo viên: Trương Thị Hồng Chiên

Trường THPT chuyên Lương Văn Tụy

quốc tế, đặc biệt là có năng lực hành động, tính sáng tạo, năng động, tính tự lực và
trách nhiệm, năng lực cộng tác làm việc, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp và
khả năng học tập suốt đời.
Hiện nay, ở nước ta đang tiến hành đổi mới giáo dục, mục tiêu của các cấp học, bậc
học có sự đổi mới tập trung vào việc hình thành năng lực nhận thức, năng lực hành động,
năng lực giải quyết vấn đề, năng lực thích ứng cho học sinh.
Mục tiêu của việc dạy và học Hóa học tập trung nhiều hơn tới việc hình thành năng
lực hành động cho học sinh. Năng lực hành động là khả năng thực hiện có hiệu quả và có
trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc lĩnh vực nghề nghiệp,
xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, có kĩ năng, kĩ xảo và có kinh nghiệm cũng như sự
sẵn sàng hành động.
Ngoài những kiến thức, kĩ năng cơ bản mà học sinh cần đạt được ta cần chú ý nhiều
hơn tới việc hình thành các kĩ năng vận dụng kiến thức, tiến hành nghiên cứu khoa học
như:
- Biết quan sát thí nghiệm, phân tích, dự đoán, kết luận, kiểm tra kết quả và mô tả.
- Phân loại, ghi chép thông tin, đề ra các giả thuyết khoa học, giải quyết vấn đề, hoàn
thành nhiệm vụ tìm tòi nghiên cứu khoa học.
- Biết thực hiện một số thí nghiệm hóa học từ đơn giản tới phức tạp theo hướng độc lập và
hoạt động theo nhóm.
- Vận dụng kiến thức để giải quyết một số vấn đề đơn giản của cuộc sống có liên quan tới
hóa học.
Trong các hoạt động, chú trọng tới việc động viên học sinh từ phát hiện và giải quyết
một cách chủ động, sáng tạo các vấn đề thực tế có liên quan tới hóa học.
Đổi mới nội dung dạy học:
Đổi mới hoạt động dạy học của giáo viên:

hơn những kiến thức thu được để giải quyết một số vấn đề có liên quan tới hóa học trong
đời sống sản xuất.
Đổi mới hoạt động học tập của học sinh:
Trong quá trình học tập học sinh cần tiến hành các hoạt động như:
+ Nghiên cứu nội dung tư liệu học tập, tự phát hiện vấn đề hoặc nắm bắt vấn đề do giáo
viện đưa ra (các nhiệm vụ học tập do giáo viên thiết kế đề ra).
- Phân tích tư liệu, đưa ra các dự đoán lí thuyết.
- Phán đoán, suy luận, đề ra các giả thuyết khoa học.
- Đề xuất các phương hướng giải quyết theo các giả thuyết.
- Suy luận, tiến hành thí nghiệm. Quan sát, mô tả, giải thích hiện tượng và đưa ra các kết
luận.
- Báo cáo kết quả hoạt động của cá nhận, của nhóm.
Hoặc tiến hành:
- Suy nghĩ trả lời các câu hỏi của giáo viên hoặc các vấn đề do học sinh khác nêu ra.
- Giải bài toán hóa học từ phân tích đề bài, chọn phương pháp giải, thực hiện các bước
giải và rút ra kết luận.
- Thảo luận theo nhóm, tóm tắt các ý kiến trong nhóm, kết luận.
+ Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã thu nhận được để giải thích một số hiện tượng hóa học
xảy ra trong thực tế đời sống, sản xuất. Các hiện tượng thực tế này có thể do giáo viên
nêu ra hoặc tổ chức cho học sinh tự thảo luận nêu ra.
+ Tự đánh giá và đánh giá sự nắm vững kiến thức, kĩ năng của bản thân và của bạn học.
Vì vậy, khi tổ chức các hoạt động học tập của học sinh ta cần chú ý:
- Trong giờ học, học sinh cần phải được hoạt động nhiều hơn (cả hoạt động trí tuệ và thí
nghiệm, thực hành).
- Tạo điều kiện để học sinh chủ động, tích cực trong hoạt động nhận thức để chiếm lĩnh tri
thức, kĩ năng.
- Động viên học sinh có ý thức và có kĩ năng vận dụng kiến thức đã học vào hoạt động
thực tiễn.
Sử dụng phương tiện dạy học:
Trong dạy học hóa học, ngoài sử dụng các thí nghiệm hóa học giáo viên cần sử dụng

thông tin mà phải là người tổ chức, hướng dẫn, điều khiển các hoạt động học tập của HS.
Thứ hai: chú trọng rèn luyện phương pháp tự học hơn là việc truyền thụ kiến thức.
Câu nói: “Người thầy giáo tồi truyền đạt chân lí, người thầy giáo giỏi dạy cách tìm
ra chân lí” là hoàn toàn chính xác. Rèn luyện cho HS phương pháp tự học không chỉ là
biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là mục tiêu của dạy học. Con người
được đào tạo trước hết phải là con người năng động, có tính tích cực, có khả năng tự học,
tự nghiên cứu để tự hoàn thiện mình.
Thứ ba: Tăng cường tính tự lực của cá nhân HS đồng thời chú trọng phối hợp tương tác
thày – trò và tương tác nhóm.
Trong phương pháp này, người ta đề cao vai trò giao tiếp giữa HS và HS. Để phát huy vai
trò của HS người ta thường tổ chức việc học tập hợp tác theo kiểu nhóm, tổ từ 4 đến 6
người. Học tập nhóm, tổ tạo cho HS có nhiều cơ hội bộc lộ suy nghĩ, hiểu biết và thái độ
của mình, cũng như biết cách bảo vệ ý kiến của mình.
Thứ tư: Kết hợp đánh giá của GV và tự đánh giá của HS.
Trong phương pháp dạy học tích cực, người ta chú trọng đến việc dạy cho HS cách tự
học đi kèm theo là năng lực tự đánh giá của HS. Thiếu năng lực này HS không thể tự điều
chỉnh cách học của mình và không hoàn chỉnh được phương pháp tự học. Như vậy, năng
lực tự học luôn gắn liền với năng lực tự đánh giá, tự điều chỉnh, mà tự học là dấu hiệu
của phương pháp tích cực. Do vậy, khả năng rèn luyện năng lực tự đánh giá của HS cũng
là một dấu hiệu của phương pháp dạy học tích cực.
2.5. Phân tích sử dụng một số phương pháp dạy học đổi mới theo hướng tích cực hóa
hoạt động của học sinh.
2.5.1. Dạy học theo nhóm.
Theo cách dạy này, lớp học được chia thành nhiều nhóm nhỏ, mỗi nhóm từ 5 đến 7
HS. Tuỳ vào mục đích sư phạm và vấn đề học tập mà GV phân nhóm cho thích hợp.
Nhóm được duy trì ổn định hoặc thay đổi theo từng tiết học, các nhóm được giao cùng
một nhiệm vụ hoặc giao những nhiệm vụ khác nhau. Trong mỗi nhóm có nhóm trưởng,
nhóm trưởng chịu trách nhiệm phân chia công việc cho các nhóm viên thực hiện một phần
công việc của nhóm. Trong thực hiện công việc, các thành viên trong nhóm làm việc tích
cực và tạo không khí thi đua với các nhóm khác. GV cần có biện pháp để tạo ra không khí

nhóm chia sẻ kinh nghiệm và những hiểu biết cho nhau, cũng như những vướng mắc,
những băn khoăn suy nghĩ của bản thân. Nhờ sự trao đổi, thảo luận giữa các thành viên
trong nhóm và giữa các nhóm giúp cho HS dễ hiểu và dễ nhớ bài hơn.
* Nhược điểm: Tuy nhiên, việc tổ chức cho HS học tập theo nhóm ngay tại lớp bị hạn
chế bởi không gian chật hẹp của lớp học, bởi thời gian hạn định của tiết học nên GV phải
biết tổ chức hợp lí mới có kết quả.
Không nên lạm dụng các hoạt động nhóm và cần đề phòng xu hướng hình thức. Cần
lưu ý, trong hoạt động nhóm, tư duy tích cực của HS phải được phát huy và ý nghĩa quan
trọng của nó là rèn luyện năng lực hợp tác giữa các thành viên trong tổ chức lao động.
2.5.2. Dạy học theo lí thuyết kiến tạo.
- Cơ sở và ưu điểm của lí thuyết kiến tạo:
+ Học trong hoạt động.Học là một hoạt động đặc thù của con người, trong đó người học
vừa là chủ thể, vừa là đối tượng tác động. Do đó, thầy giáo phải tổ chức tình huống để
đưa HS vào hoạt động, qua đó HS kiến tạo được kiến thức, phát triển trí tuệ và nhân
cách.
+ Học là sự vượt qua khó khăn về nhận thức. Những quan niệm sai lầm thường tạo nên
những trở lực cho HS trong quá trình nhận thức. Vì thế, người ta nói rằng dạy học là xây
dựng cái mới trên nền cái cũ.
+ Học trong sự tương tác. Thông qua sự tương tác giúp cho HS hiểu rõ và nắm vững hơn
các kiến thức khoa học. Do đó, việc học của HS sẽ thuận lợi và hiệu quả hơn. Thông qua
thảo luận, tranh luận kiến thức đến với HS sẽ tự nhiên hơn, không áp đặt và gượng ép.
+ Học thông qua hoạt động giải quyết vấn đề. Thường trước những vấn đề được HS chấp
nhận, thì các em có hứng thú và nhu cầu tìm cách giải quyết. Chính sự tò mò đã tạo cho
các em quyết tâm tìm tòi câu trả lời. Đây là yếu tố tạo nên sự tích cực của hoạt động nhận
thức ở HS.
- Tiến trình dạy học theo lí thuyết kiến tạo.
Dạy học theo lí thuyết kiến tạo gồm ba pha:
+ Pha chuyển giao nhiệm vụ:
+ Pha hành động giải quyết vấn đề:
+ Pha tranh luận hợp thức hoá kiến thức và vận dụng kiến thức mới:

đổi mới theo quan điểm kiến tạo - tương tác và cộng tác nhóm nhỏ. Cụ thể áp dụng dạy và
học các bài: “Bài 7- Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học”; "Bài 8- Sự biến đổi tuần
hoàn cấu hình e nguyên tử của các nguyên tố hóa học"; "Bài 9 - Sự biến đổi tuần hoàn
tính chất của các nguyên tố hóa học. Định luật tuần hoàn" theo quan điểm kiến tạo tương tác và cộng tác nhóm nhỏ như sau:
* Quy trình chuẩn bị một giờ học:
- Xác định mục tiêu bài học.
- Xác định phương pháp dạy học: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CHỦ YẾU
+ Dạy học theo quan điểm kiến tạo – tương tác.
+ Dạy học cộng tác trong nhóm nhỏ.
- Chuẩn bị:
+ Giáo viên:
- Điều tra những kiến thức cũ đã có ở HS (có thể phát phiếu điều tra hoặc dựa trên những
kiến thức đã biết ở lớp trước, ở bài học trước).
- Trên cơ sở đó, GV cần xác định:
+ Kiến thức cần thông báo, bổ sung cho HS.
+ Kiến thức sẽ tổ chức cho HS xây dựng, tìm tòi.
- Xây dựng tình huống học tập cho HS thực hiện việc kiến tạo kiến thức.
- Xây dựng câu hỏi, bài tập đánh giá.
- Chia HS thành 7 nhóm ( 5-7 HS/ nhóm; chia nhóm ngẫu nhiên hoặc theo sơ đồ chỗ ngồi
gần nhau). Phân công nhóm trưởng và nhiệm vụ của mỗi nhóm.
- Chia nội dung và thời gian hoạt động trên lớp cho các nhóm theo nội dung và yêu cầu
của bài học. (Mỗi nhóm hoạt động từ 5 phút đến 15 phút).
- Chuẩn bị tiêu chí đánh giá cho từng nhóm và từng HS (GV có thể phát trước phiếu cho
mỗi nhóm hoặc mỗi HS) để HS có thể đánh giá và tự đánh giá lẫn nhau.
Thang điểm 10: Tiêu chí đánh giá HS
Tiêu chí
Bản đăng kí Sáng Kiến

Điểm
10

- GV tổ chức cho HS giải quyết vấn đề:
+ Các nhóm lần lượt báo cáo: (tổng thời gian báo cáo từ 25 - 30 phút).
Nhóm trưởng sử dụng phiếu học tập của nhóm mình để gợi ý cho các HS khác (có thể
là cùng nhóm hoặc không) tham gia xây dựng kiến thức.
Nhóm trưởng kết luận.
Thư kí ghi ý chính lên bảng.
+ Thảo luận, tổng kết. (từ 5 - 10 phút).
Thảo luận chung.
- HS nêu câu hỏi. Sử dụng phiếu học tập củng cố bài.
- Các nhóm giải đáp.
- GV bổ sung hoặc giải thích hỗ trợ các nhóm (chú ý nói kĩ những kiến thức trọng tâm
của bài hoặc các khái niệm mới, khó).
- GV nhận xét chung cho mỗi nhóm, thu các bảng đánh giá của các nhóm (kết quả sẽ
được công bố vào tiết sau).
- GV dặn dò bài tập về nhà, giao nhiệm vụ cho HS chuẩn bị bài tiếp theo và phiếu học
tập.
- Đánh giá kết quả học tập. (7 - 10 phút).
Lưu ý: Tùy theo đặc trưng môn học, nội dung dạy học, đặc điểm và trình độ HS, điều
kiện cơ sở vật chất… GV có thể vận dụng các bước thực hiện một giờ dạy học như trên
một cách linh hoạt và sáng tạo, tránh đơn điệu, cứng nhắc.
Sự thành công của một giờ dạy theo định hướng đổi mới PPDH phụ thuộc vào rất
nhiều yếu tố trong đó quan trọng nhất là sự chủ động, linh hoạt, sáng tạo của cả người dạy
và cả người học. Những phần trình bày trên đây chỉ là những kinh nghiệm được đúc kết
từ thực tiễn của bản thân trong nhiều năm qua ở trường phổ thông. Dù ở điều kiện và
hoàn cảnh nào, sự chuẩn bị chu đáo theo quy trình trên đều đem lại những giờ học có hiệu
quả, bổ ích và hứng thú đối với cả người dạy, người học.
3. Kết luận, tính mới, tính sáng tạo của đề tài sáng kiến:
Bản đăng kí Sáng Kiến

11

nhóm nhỏ) đã thực sự làm thay đổi thái độ học tập của HS, các em được tự
nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo, chủ động trong việc xây dựng kiến thức mới cho
một bài mới, một chương mới, đặc biệt là chương BTH tìm hiểu về các nguyên tố
hóa học; từ đó tạo hứng thú học tập, lòng say mê nghiên cứu khoa học, hiểu sâu
sắc vấn đề và ghi nhớ kiến thức có hệ thống, logic, vận dụng kiến thức đã học
trong các dạng bài tập một cách thành thạo.
Phương pháp làm việc cộng tác nhóm còn tạo ra sự ganh đua giữa các nhóm, giữa
các thành viên trong nhóm, gắn các em với trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi
của việc học tập.
+ Tích cực hóa hoạt động của HS trong học tập còn tạo cho các em có niềm tin
vào năng lực của bản thân, tin vào tương lai sẽ thi đỗ vào các trường đại học, cao
đẳng, ... sẽ có được một việc làm ổn định, có cơ hội cống hiến, góp phần xây dựng và
phát triển nền kinh tế nước nhà.
IV. HIỆU QUẢ KINH TẾ VÀ XÃ HỘI DỰ KIẾN ĐẠT ĐƯỢC.
1. Hiệu quả kinh tế.
Sử dụng phương pháp dạy học theo quan điểm kiến tạo - tương tác và cộng tác nhóm
nhỏ khi dạy chương 2 - Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học và định luật tuần
hoàn - Hóa học lớp 10 - THPT - Ban cơ bản đã giúp các em HS hiểu bài và thuộc
bài ngay sau khi các em tự nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo, chủ động trong việc xây
dựng kiến thức mới. Các em HS đã biết vận dụng kiến thức lĩnh hội được để giải
Bản đăng kí Sáng Kiến

12

Năm học 2013 - 2014


Giáo viên: Trương Thị Hồng Chiên

Trường THPT chuyên Lương Văn Tụy

4. Việc đổi mới PPDH bằng cách phối hợp một số PPDH theo định hướng tích cực cụ thể
như trong bài thực nghiệm đã thực sự tích cực hóa hoạt động của HS, giúp HS nắm
vững KT một cách tự giác, có khả năng làm việc độc lập cũng như làm việc trong
tập thể, đồng thời luôn tạo được hứng thú trong học tập cho HS.
Trong quá trình học tập theo phương pháp mới đa số HS tham gia một cách tích cực và
chủ động. Tuy nhiên vẫn còn một số HS thiếu chủ động, chỉ làm khi GV yêu cầu
hoặc chờ ý kiến của các bạn, do vậy rất cần sự hướng dẫn và động viên của GV.
Các GV đều thừa nhận sự cần thiết cũng như hiệu quả của việc đổi mới PPDH theo
định hướng tích cực hóa hoạt động của HS, đặc biệt là đối với HS trung bình, yếu.
Song để thực hiện được, ngoài điều kiện cơ sở vật chất và thiết bị dạy học, đòi hỏi
người GV phải nhiệt tình, phải có tâm huyết và quyết tâm đổi mới, phải đầu tư
nhiều thời gian cho việc đổi mới PPDH.
VI. ĐỀ XUẤT.
Để việc đổi mới PPDH theo định hướng tích cực hóa hoạt động của HS thực sự là yêu
cầu không thể thiếu trong dạy học hóa học, từ kết quả nghiên cứu của đề tài sáng
kiến, tôi có một số đề xuất sau:
- Đề xuất việc sử dụng phương pháp dạy và học theo định hướng dạy học tích cực ở
trường THPT, đặc biệt đối với HS khối 10.
- Cần có chế độ hợp lí cho các GV tích cực trong việc đổi mới PPDH. Đồng thời GV phải
được tham gia các khóa học bồi dưỡng chuyên môn gắn liền mục tiêu đổi mới
PPDH.
- GV cần phải đầu tư nhiều công sức, thời gian khi thiết kế một bài dạy hóa học theo định
hướng tích cực hóa hoạt động của HS từ những nội dung trong SGK.
- HS phải được làm quen, rèn luyện các hoạt động học tập tích cực ngay từ khi bắt đầu đi
học.
- Cần tăng cường đầu tư thiết bị, hóa chất, dụng cụ thí nghiệm, các phương tiện trực quan
khác, cũng như các máy móc hỗ trợ thì mới phát huy hết khả năng dạy học của
người GV, khả năng sáng tạo và tiếp thu kiến thức của HS trong việc đổi mới PPDH
theo định hướng tích cực hóa hoạt động của HS.
Qua quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài sáng kiến, tôi nhận thấy rằng: không có

Tôi rất mong nhận được những nhận xét, đánh giá, sự góp ý của các bạn đồng nghiệp
gần xa và các em học sinh nhằm bổ sung và hoàn thiện hơn đề tài sáng kiến cũng
như công việc dạy học và nghiên cứu khoa học.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Ninh Bình, tháng 5, năm 2014
Xác nhận của cơ quan, đơn vị

Tác giả sáng kiến

Trương Thị Hồng Chiên

PHỤ LỤC
Bản đăng kí Sáng Kiến

15

Năm học 2013 - 2014


Giáo viên: Trương Thị Hồng Chiên

Trường THPT chuyên Lương Văn Tụy

CHƯƠNG I: NGHIÊN CỨU NỘI DUNG CHƯƠNG 2 “BẢNG TUẦN HOÀN CÁC NGUYÊN TỐ HÓA HỌCVÀ
ĐỊNH LUẬT TUẦN HOÀN” - HÓA HỌC LỚP 10 THPT - BAN CƠ BẢN .
1. MỤC TIÊU CỦA CHƯƠNG:
HS biết và hiểu :
– HS hiểu nguyên tắc sắp xếp các nguyên tố vào BTH. Hiểu mối quan hệ giữa cấu hình
electron nguyên tử của nguyên tố hoá học với vị trí của nó trong BTH.
– Hiểu sự biến đổi tuần hoàn tính chất các nguyên tố, các đơn chất và hợp chất tạo nên


9

Sự biến đổi tuần hoàn tính chất Sự biến đổi tính kim loại, phi kim.
của các nguyên tố hoá học.
Sự biến đổi về hoá trị với O và H.
Định luật tuần hoàn
Sự biến đổi tính axit - bazơ của oxit và hiđroxit.
Định luật tuần hoàn.

10

Ý nghĩa của bảng tuần hoàn các Quan hệ giữa vị trí và cấu tạo.
nguyên tố hoá học
Quan hệ giữa vị trí và tính chất.
So sánh tính chất của một nguyên tố với các
nguyên tố lân cận.

11

Luyện tập chương 2

Củng cố, hệ thống hoá kiến thức.
Rèn kĩ năng giải bài tập.

2.2. Phương pháp dạy học.
Đặc điểm của chương 2 là BTH được nghiên cứu dưới ánh sáng của thuyết cấu tạo
nguyên tử. BTH được xây dựng để thể hiện các quy luật biến thiên tính chất của các
Bản đăng kí Sáng Kiến


CHƯƠNG II
DẠY VÀ HỌC CHƯƠNG 2 - BẢNG TUẦN HOÀN CÁC NGHUYÊN TỐ HÓA
HỌC VÀ ĐỊNH LUẬT TUẦN HOÀN - HÓA HỌC LỚP 10 - THPT – BAN CƠ
BẢN THEO ĐỊNH HƯỚNG TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG CỦA HỌC SINH: .
TIẾT 13, 14: BÀI 7 – BẢNG TUẦN HOÀN CÁC NGUYÊN TỐ HÓA HỌC.
( Tiết 13 dạy hết phần "2. Chu kì”; Tiết 14 dạy tiếp phần "3. Nhóm nguyên tố”; Bài tập
củng cố; Kiểm tra, đánh giá kết quả).
A. MỤC TIÊU BÀI HỌC
HS biết: Nguyên tắc xây dựng bảng tuần hoàn.
HS hiểu:
- Cấu tạo bảng tuần hoàn.
- Mối quan hệ chặt chẽ giữa cấu hình e nguyên tử với vị trí của nguyên tố
trong bảng tuần hoàn.
Giáo viên -Hình vẽ ô nguyên tố (SGK trang 33) được phóng to để HS dễ theo dõi.
- Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học cỡ lớn (dạng dài).
HS: Ôn lại cách viết cấu hình e nguyên tử của các nguyên tố.
B. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC: Ở lớp 9 HS đã được học một số kiến thức về BTH
trong bài “Sơ lược về BTH các nguyên tố hóa học” nên bài này tôi lựa chọn dạy theo
phương pháp sau:
Bản đăng kí Sáng Kiến

17

Năm học 2013 - 2014


Giáo viên: Trương Thị Hồng Chiên

Trường THPT chuyên Lương Văn Tụy


+ Thư kí (2 HS): Tổng hợp các báo cáo của thành viên trong nhóm, viết báo cáo chung
của nhóm.
+ Thành viên 1,2,3: Tham khảo các tài liệu, viết báo cáo phần việc của mình.
+ Các thành viên còn lại: Chuẩn bị câu trả lời cho phiếu học tập của nhóm.
- Phân bố thời gian: Dạy trong 2 tiết theo phân phối chương trình:
+ Báo cáo: 8 phút cho nhóm 2,3; 9 phút cho nhóm 4; 15 phút cho nhóm 5; 5 phút cho
nhóm 1, 6; nhóm 7 có thể chỉ giới thiệu cho các bạn xem bảng tin học tập. ( tổng báo cáo
trong tiết 13 là 30 phút, tiết 14 là 20 phút)
+ Thảo luận: HS nêu câu hỏi (5 phút).
+ Giáo viên chốt lại các ý chính; nhận xét, đánh giá, nêu một số vấn đề mới: (5 phút)
+ Đánh giá kết quả học tập. (5 phút cho tiết 13; 10 phút cho tiết 14)
- GV thu lại bài để duyệt trong 2 ngày, trả lại HS để chuẩn bị báo cáo.
- GV có vai trò cố vấn, trọng tài; chốt lại các ý chính.
- GV gợi ý tài liệu tham khảo:
Bản đăng kí Sáng Kiến

18

Năm học 2013 - 2014


Giáo viên: Trương Thị Hồng Chiên

Trường THPT chuyên Lương Văn Tụy

1. Nguyễn Duy Ái, Đỗ Quý Sơn, Thế Trường 2006, Truyện kể các nhà bác học – NXB
Giáo dục.
2. Vũ Bội Tuyển 1999, những nhà hóa học nổi tiếng thế giới, NXB Thanh niên.
3. PROCOFIEP M.A 1990, Từ điển bách khoa các nhà hóa học trẻ tuổi, NXB Mir
Maxcowva, NXB Giáo dục, Hà Nội.

• Nhận xét mối quan hệ giữa số thứ tự chu kì và số lớp e?
• Bắt đầu và kết thúc chu kì là những nguyên tố nào? (ngoại lệ?).
• BTH có bao nhiêu chu kỳ? Mỗi chu kì có mấy hàng? Bao nhiêu nguyên tố?
+ PHIẾU HỌC TẬP SỐ 4:
• Cột là nhóm. Nhận xét cấu hình e nguyên tử của các nguyên tố trong một nhóm. Từ đó
nhận xét cho tính chất hóa học.
• Nhận xét mối quan hệ giữa số thứ tự nhóm với số e hóa trị? (ngoại lệ?).
• BTH có bao nhiêu cột, nhóm? Kí hiệu như thế nào?
+ PHIẾU HỌC TẬP SỐ 5:
• Nhận xét mức năng lượng cao nhất của nguyên tử các nguyên tố trong mỗi nhóm.
• Từ đó cho biết thế nào là khối nguyên tố s, p, d, f?
• Nhóm A gồm khối nguyên tố nào? Nhóm B gồm khối nguyên tố nào?
+ PHIẾU HỌC TẬP SỐ 6:
Bản đăng kí Sáng Kiến

19

Năm học 2013 - 2014


Giáo viên: Trương Thị Hồng Chiên

Trường THPT chuyên Lương Văn Tụy

• Tìm mối quan hệ giữa các cặp nguyên tố ở:
- Hai chu kì liên tiếp và ở cùng nhóm A.
- Hai nguyên tố đứng kế tiếp trong một chu kì.
- Hai nguyên tố ở 2 nhóm A liên tiếp.
• Mỗi trường hợp cho 2 thí dụ minh họa.
+ PHIẾU HỌC TẬP SỐ 7: Các dạng bài tập chương BTH ở phụ lục II

+ 1817: Đã tìm được 54 nguyên tố (quy luật bộ ba).
+ 1862: Đã tìm được 62 nguyên tố (quy luật đường xoắn ốc).
+ 1864: Quy luật của những quãng tám.
- Thời kì Dimitri Ivanovich Mendeleev phát minh ra “Hệ thống tuần hoàn các nguyên tố
hóa học”.:
+ 1860: Đã có 63 nguyên tố được tìm ra. Nhà bác học người Nga Mendeleev đề xuất ý
tưởng xây dựng BTH các nguyên tố hóa học.
Bản đăng kí Sáng Kiến

20

Năm học 2013 - 2014


Giáo viên: Trương Thị Hồng Chiên

Trường THPT chuyên Lương Văn Tụy

+ 6/3/1869: Ông công bố “BTH các nguyên tố hóa học đầu tiên”. Sắp xếp theo thứ tự
tăng dần của nguyên tử lượng.:
~ Sau 7 nguyên tố có một nguyên tố giống nhau.
~ Xếp các hàng 7 nguyên tố, hàng nọ trên hàng kia.
~ Các nguyên tố giống nhau xếp cùng một cột dọc.
- Thời kì sau Mendeleep:
+ 1895 – 1898: Tìm ra Argon và Neon, trơ về mặt hóa học được đề nghị đặt vào nhóm
zero do các nguyên tố đều có hóa trị không.
+ Thế kỉ XX: Với nhiều nghiên cứu của nhiều nhà bác học, BTH được sắp xếp lại theo
chiều tăng của số hiệu nguyên tử.
Giới thiệu nhóm 2 báo cáo về phần “I. Nguyên tắc sắp xếp các nguyên tố trong BTH”.
* Nhóm 2: I. Nguyên tắc sắp xếp các nguyên tố trong BTH. (8 phút)

thức:
Bản đăng kí Sáng Kiến

21

Năm học 2013 - 2014


Giáo viên: Trương Thị Hồng Chiên

Trường THPT chuyên Lương Văn Tụy

• Nhận xét số e lớp ngoài cùng của nguyên tử các nguyên tố trong cùng một hàng, giữa
các hàng (20 nguyên tố đầu).  Tăng từ 1 đến 8, lặp lại sau mỗi hàng  chu kì.
• Các nguyên tố như thế nào xếp trong cùng một hàng? ĐTHN như thế nào?
• Nhận xét mối quan hệ giữa số thứ tự chu kì và số lớp e?
• Bắt đầu và kết thúc chu kì là những nguyên tố nào? (ngoại lệ?).
• BTH có bao nhiêu chu kỳ? Mỗi chu kì có mấy hàng? Bao nhiêu nguyên tố?
- Nhóm trưởng kết luận.
- Thư kí ghi ý chính lên bảng:
2. Chu kì.
- Chu kì là dãy các nguyên tố mà nguyên tử của chúng có cùng số lớp e, được xếp theo
chiều điện tích hạt nhân tăng dần.
Số thứ tự của chu kì = số lớp e
- Chu kì thường bắt đầu là một kim loại kiềm và kết thúc bằng một khí hiếm ( trừ chu kì 1
và 7).
- Bảng TH gồm 7 chu kì: Trong đó gồm
3 chu kì
+ Chu kì 1 : 2 nguyên tố ( Z = 1 - 2). (chu kì đặc biệt)
nhỏ


22

Năm học 2013 - 2014


Giáo viên: Trương Thị Hồng Chiên

Trường THPT chuyên Lương Văn Tụy

- Có16 nhóm được chia thành hai loại nhóm: nhóm A và nhóm B.
+ 8 nhóm A: I A đến VIII A. (8 cột).
(Nhóm A gồm các nguyên tố s, p, có mặt ở cả chu kỳ nhỏ và chu kỳ lớn.
Số e lớp ngoài cùng của nguyên tố nhóm A = STT của nhóm).
+ 8 nhóm B: III B đến VIII B, đến I B, II B. (10 cột, nhóm VIII B có 3 cột).
(Nhóm B gồm những nguyên tố d, f chỉ có mặt ở chu kỳ lớn, đều là các nguyên tố kim
loại).
- Chú ý: Chia nguyên tố theo khối:
+ Khối nguyên tố s: I A, II A.
+ Khối nguyên tố p: III A đến VIII A (trừ He).
+ Khối nguyên tố d: I B đến VIII B.
+ Khối nguyên tố f: 2 hàng cuối bảng.
- (Nêu thêm khái niệm khối nguyên tố s, p, d, f).
3.2. Thảo luận, tổng kết.
* Thảo luận chung:
- HS nêu câu hỏi. Sử dụng phiếu học tập số 6.
- Các nhóm giải đáp.
- GV bổ sung hoặc giải thích hỗ trợ các nhóm (chú ý nói kĩ về e hóa trị).
- GV nhận xét chung cho mỗi nhóm, thu các bảng đánh giá của các nhóm (kết quả sẽ
được công bố vào tiết sau).

hoá học.
+ Mối liên quan giữa cấu hình e nguyên tử của các nguyên tố với vị trí của
chúng trong BTH.
Kĩ năng: Nhìn vào vị trí của nguyên tố trong một nhóm A suy ra được số e hoá trị của
nó, từ đó dự đoán tính chất hóa học của nguyên tố.
Giáo viên - Chuẩn bị Bảng 5: Cấu hình electron lớp ngoài cùng của nguyên tử các
nguyên tố nhóm A (SGK trang 38) được phóng to để HS dễ theo dõi.
- Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học cỡ lớn (dạng dài).
HS: Ôn lại cách viết cấu hình e nguyên tử của các nguyên tố (bài 4 và bài 5); ôn lại bài 7:
BTH các nguyên tố hóa học.
B. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC: Ở chương I (Hóa học lớp 10 - Ban cơ bản) HS đã được
học về cấu tạo vỏ nguyên tử và cấu hình electron của nguyên tử nên bài này tôi lựa
chọn dạy theo phương pháp sau:
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CHỦ YẾU
- Dạy học theo quan điểm kiến tạo – tương tác.
- Dạy học cộng tác trong nhóm nhỏ.
C. CHUẨN BỊ
1. Giáo viên:
- Điều tra những kiến thức đã có ở HS về BTH; đặc điểm cấu hình electron của nguyên
tử các nguyên tố nhóm A và nhóm B (có thể phát phiếu điều tra hoặc dựa trên những kiến
thức về BTH ở bài 7; về cấu tạo vỏ nguyên tử ở bài 4 và về cấu hình e nguyên tử ở bài 5).
- Trên cơ sở đó, GV cần xác định:
+ Kiến thức cần thông báo, bổ sung cho HS.
+ Kiến thức sẽ tổ chức cho HS xây dựng, tìm tòi.
- Xây dựng tình huống học tập cho HS thực hiện việc kiến tạo kiến thức.
- Xây dựng câu hỏi, bài tập đánh giá.
- Chia HS thành 7 nhóm ( 5-7 HS/ nhóm, riêng nhóm 1,6,7 có thể ít thành viên hơn;
chia nhóm ngẫu nhiên hoặc theo sơ đồ chỗ ngồi gần nhau):
+ Nhóm 1: Sơ lược về sự biến đổi tuần hoàn cấu hình electron lớp ngoài cùng của
nguyên tử các nguyên tố nhóm A. Trao đổi, thảo luận với các HS khác theo các phiếu

của nhóm.
+ Thành viên 1,2,3: Tham khảo các tài liệu, viết báo cáo phần việc của mình.
+ Các thành viên còn lại: Chuẩn bị câu trả lời cho phiếu học tập của nhóm.
- Phân bố thời gian: Dạy trong 1 tiết theo phân phối chương trình:
+ Báo cáo: 5 phút cho nhóm 1; 6; 8 phút cho nhóm 2; 4 phút cho nhóm 3; 4; 5; nhóm 7
có thể chỉ giới thiệu cho các bạn xem bảng tin học tập. ( tổng báo cáo trong tiết 15 là 30
phút).
+ Thảo luận: HS nêu câu hỏi (5 phút).
+ Giáo viên chốt lại các ý chính; nhận xét, đánh giá, nêu một số vấn đề mới: (5 phút)
+ Đánh giá kết quả học tập. (5 phút)
- GV thu lại bài để duyệt trong 2 ngày, trả lại HS để chuẩn bị báo cáo.
- GV có vai trò cố vấn, trọng tài; chốt lại các ý chính.
- Chuẩn bị tiêu chí đánh giá cho từng nhóm và từng HS (GV có thể phát trước phiếu
cho mỗi nhóm hoặc mỗi HS) để HS có thể đánh giá và tự đánh giá lẫn nhau.
Thang điểm 10: Tiêu chí đánh giá HS bài 8: “Sự biến đổi tuần hoàn cấu hình
electron nguyên tử của các nguyên tố hóa học”
Tiêu chí
Điểm
Chuẩn bị tốt
2
Báo cáo hay, đủ nội dung, đúng giờ
3
Thái độ học tập tích cực
3
Tham gia thảo luận, có câu hỏi hay
1
Ghi bài tốt
1
- Chuẩn bị phiếu học tập gợi ý cho mỗi nhóm:
+ PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status