SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO LÀO CAI
TRƯỜNG THPT CHUYÊN TỈNH LÀO CAI
----------------
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2012 - 2013
Đề tài:
HƯỚNG DẪN HỌC SINH PHÂN TÍCH
CHÙM CA DAO THAN THÂN MỞ ĐẦU BẰNG TỪ
"THÂN EM…" THEO ĐẶC TRƯNG THI PHÁP
THỂ LOẠI
Họ và tên giáo viên: BÙI THỊ PHƯƠNG THÚY
Chức vụ: Giáo viên
Tổ chuyên môn: Ngữ Văn
Lào Cai, ngày 20 tháng 4 năm 2013
1
MỤC LỤC
Nội dung ……………………………………………………..Trang
Phần 1: Đặt vấn đề ……………………………………………3
Phần 2: Giải quyết vấn đề ……………………………………3
I. Cơ sở lí luận: Vấn đề thi pháp và thi pháp
thể loại VHDG …………………… 4
II. Thực trạng ……………………………………… 4
III. Biện pháp tiến hành : Hướng hiệu quả đối với việc
phân tích các bài ca dao theo đặc trưng thi pháp
thể loại ca dao, dân ca ………………………… 5
IV. Hiệu quả của SKKN …………………………….. 10
3
Phần II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN : Vấn đề Thi pháp và Thi pháp thể loại Văn học dân
gian
1. Thi pháp
Thi pháp là toàn bộ hình thức nghệ thuật được nhà văn sáng tạo nhằm
thể hiện nội dung tác phẩm bao gồm hệ thống những nguyên tắc, cách thức
xây dựng hình tượng, tổ chức tác phẩm, lựa chọn và sử dụng, tổ chức các
phương tiện ngôn ngữ để làm nên tác phẩm văn học.
2. Thi pháp thể loại Văn học dân gian
Mỗi thể loại, mỗi thời đại sáng tác có đặc trưng thi pháp riêng.
Mỗi tác phẩm Văn học dân gian tồn tại dưới hình thức một thể loại.Mỗi thể
loại có những đặc trưng thi pháp tạo nên tính khu biệt giữa các thể loại. Có
những yếu tố thuộc đặc điểm thi pháp là phù hợp khi tìm hiểu tác phẩm
thuộc thể loại này nhưng lại bất lực khi áp dụng để tìm hiểu một tác phẩm
thuộc thể loại khác. Ta chỉ có thể giải mà hoàn toàn một tác phẩm văn học
dân gian khi đặt nó trên cái nền chung của thi pháp thể loại.
Từ những lí luận cơ sở trên, tôi sẽ trình bày hướng phân tích chùm ca
dao than thân mở đầu bằng từ Thân em trong SGK Ngữ văn 10 theo đặc
điểm thi pháp thể loại ca dao.
II. THỰC TRẠNG:
Đã có nhiều cách tiếp cận với các tác phẩm Văn học dân gian được
đề cập đến từ trước tới nay, cũng có khá nhiều công trình của các học giả
có nghiên cứu hoặc đề cập đến phương diện này, trong đó, nổi bật lên là
các vấn đề:Tìm hiểu các tác phẩm dân gian từ các đặc điểm thi pháp thể
1. Một đặc điểm quan trọng của ca dao là: dù cảm xúc được thể hiện
trong bài ca dao mang màu sắc cá nhân rõ nét, nhưng đó chắc chắn không
phải là tiếng nói của một cá nhân day nhất, riêng biệt, khu biệt…mà bao
giờ tiếng nói ấy cuãng là tâm sự, là xúc cảm của một cộng đồng, một tập
thể hay một số người. Hai bài ca dao trên cũng vậy, nhân vật trữ tình trong
hai bài ca dao là người phụ nữ, là cô gái đang bộc bạch nỗi niềm. Đó không
phải là lời than của một cá nhân nào cụ thể mà là tiếng nói của biết bao
thân phận phụ nữ nhỏ bé phải chịu những bất công, ngang trái, những
nghịch lí trong xã hội cũ.
"Nhân vật trữ tình của ca dao dù là chàng trai, cô gái (…) hay người phụ
nưa làm dâu, là vợ, làm mẹ (…) mỗi khi cất tiếng ca hướng về cuộc đời
mình chỉ thấy buồn, thấy khổ, thấy tủi. Và khi đó, tiếng ca cất lên bằng
tiếng hát than thân, phản kháng tràn ngập thứ tâm lí cảm xúc buồn bã, đau
thương, oán trách" (Thi pháp Văn học dân gian- Lê Trường Phát, H. GD.
2000- Tr 230-231)
Đó cũng chính là đặc điểm của nhân vật trữ tình trong hai bài ca dao trên.
Ngoài nhân vật trữ tình là người phụ nữ, hai bài ca dao còn nhắc đến những
nhân vật khác, những đối tượng vắng mặt có thể nhận thấy được qua đại từ
"ai".
Xác định nhân vật trữ tình là bước đi cơ sở để tìm hiểu và phân tích một bài
hay một chùm ca dao. Ở đây, nhân vật trữ tình cùng một kiểu, một tuyp, là
tiếng lòng của cùng một đối tượng: Người phụ nữ trong xã hội cũ. Họ là
nạn nhân của chế độ phong kiến bất công, thân phận bị lệ thuộc, bấp bênh
dù mang những phẩm chất và giá trị đáng quý.
2. Hai bài ca dao đều kết cấu theo lối kể chuyện (trần thuật). Kể
chuyện trong ca dao tuy có "truyện" nhưng rõ hơn cả là tâm trạng, là "tình"
6
Nói lên ý thức về bản thân và sự trớ trêu của số phận, có lẽ không thủ pháp
nào có khả năng diễn tả hay và thấm thía hơn nghệ thuật so sánh ở những
câu ca dao này:
- Thân em như tấm lụa đào
- Thân em như củ ấu gai
Ta thấy trong những câu ca dao trên, phép so sánh trực tiếp với từ so sánh
"như" được sử dụng nhằm khẳng định nét tương đồng của các sự vật.
Trong đó vế sau ( đối tượng so sánh) làm nổi bật vế trước (vế được so
sánh)
Ở đây, vế được so sánh: thân em
Đối tượng so sánh: tấm lụa đào, củ ấu gai…
Đối tượng so sánh cho thấy sự "tự ý thức: của về được so sánh (thân em nhân vật tữ tình) . Nhân vật trữ tình rất có ý thức về mình, nhận thức được
vẻ đẹp, sự quý giá, trong sáng và cả sự yếu đuối của mình: tấm lụa đào vừa
đẹp vừa sang, vừa quý giá nhưng cũng mỏng manh mềm yếu. Củ ấu gai thì
vỏ ngoài thô nhám mộc mạc, nhưng ẩn chứa bên trong là sự thuần khiết
ngọt lành… Người phụ nữ ở đây đã ý thức về bản thân mình như thế, chắc
hẳn đều không phải những cô gái tầm thường, hời hợt… mà phải là sự tự ý
thức của những người phụ nữa sâu sắc, chín chắn, giàu trải nghiệm…,
những con người xứng đáng có được hạnh phúc.
Nhưng thực chất số phận của họ lại không được như vậy, tính chất bi
kịch cũng vì thế mà đậm nét hơn rất nhiều. Ở một người bình thường,
không hạnh phúc đã là lâm vào nghịch cảnh, không thể có niềm vui. Ở một
người có đầy đủ những tư chất tốt đẹp, lại luôn tự ý thức được giá trị của
mình mà lại vấp phải những éo le hay không được biết đến những giá trị
8
cao quý ấy thì còn đau khổ đến đâu! Ý nghĩa của biện pháp so sánh chính
là để làm nổi bật những trạng thái cảm xúc khổ đau buồn tủi như thế của
được cái đẹp tiềm ẩn bên trong để mà biết nâng niu, yêu quý? Hay chỉ coi
đó là những vật tầm thường không thèm đếm xỉa? Nên lời mời cất lên ai
oán, xa xót…
* Hệ thống câu hỏi được sử dụng khi tiến hành phân tích chùm ca dao than
thân mở đầu bằng từ "Thân em…" theo đặc điểm thi pháp thể loại:
1. Nhân vật trữ tình trong hai bài ca dao trên là ai? Điểm giống nhau về mặt
văn bản ở đây là gì? Từ nhân vật trữ tình có thể suy rộng ra đối tượng được
nói tới ở đây là ai?
2. Có người cho rằng hai bài ca dao có kết cấu theo lối đối đáp. Em có
đồng ý với ý kiến đó không? Vì sao?
3. Nếu sử dụng một thể thơ khác , không phải thơ lục bát, chùm ca dao trên
sẽ mất đi sắc thái gì?
4. Thủ pháp nào được sử dụng trong chùm ca dao? Chỉ rõ hiệu quả nghệ
thuật?
5. Sưu tầm những câu ca dao có chung kết cấu mở đầu bằng từ "thân
em…"
IV. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Việc hướng dẫn học sinh phân tích không theo cách truyền
thống là từng bài riêng lẻ (bài 1; bài 2) mà theo cấu trúc cụm bài ( chúng
tôi sử dụng thuật ngữ là "chùm ca dao") đem lại hiệu quả nhận thức rõ rệt.
Học sinh không chỉ cảm nhận được một cách chính xác và sâu sắc các hình
ảnh và cảm xúc chứa đựng trong các bài ca dao mà còn được trang bị
phương pháp phân tích, để có thể tự cảm nhận, tự tìm hiểu những bài ca
dao có cấu trúc tương tự, cũng có thể áp dụng để tìm hiểu các chùm tác
phẩm, nhóm tác phẩm văn học dân gian khác.
10
Cụ thể, người viết đã ứng dụng phương pháp trên vào việc giảng
ca dao
khác cùng chủ đề
38
35 (92%)
33 (86%)
Lớp 10 Anh
Phân tích kết quả trên, chúng tôi nhận thấy phương pháp mà chúng tôi
đang nghiên cứu là phương pháp phù hợp và có thể đạt được hiệu quả cao
khi áp dụng vào thực tiến dạy học.
PHẦN III. KẾT LUẬN
11
Trong phần phân tích trên, chúng ta đã sử
dụng thao tác phân tích tác phẩm văn học dân gian theo đặc trưng thi pháp
thể loại . Với việc áp dụng đặc trưng thi pháp ca dao để phân tích chùm ca
dao trên, tôi tin đã có thể khai thác những nét đặc sắc cơ bản về cả phương
diện nội dung và nghệ thuật. Nói cách khác, đi từ đặc trưng thi pháp của thể
loại ca dao, ta đã có thể thấy được hoàn cảnh, trạng thái cảm xúc… của
nhân vật trữ tình: sự tự ý thức về giá trị của bản thân, số phận đầy bất trắc,
bấp bênh trong chế độ nam quyền dưới thời phong kiến. Từ đó khẳng định
7. SGK Ngữ văn 10 Nâng cao - Nxb GD- 2012
8. Văn học dân gian Việt Nam- Hoàng Tiến Tựu- GD- 1999
9. Ca dao trữ tình Việt Nam - Vũ Dung - GD- 1994
10.Đặc điểm thi pháp các thể loại văn học dân gian Việt Nam- GD1999
11.Những thế giới nghệ thuật ca dao- Phạm Thu Yến - GD- 1999
12.Văn học dân gian Việt Nam - Lê Chí Quế - GD- 1999
14