BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Nguyễn Thị Diệu Linh
ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN, MẬT ĐỘ
ĐẾN TỶ LỆ SỐNG VÀ TĂNG TRƯỞNG
CỦA ỐC NHỒI Pila polita (deshayes)
NUÔI TRONG GIAI Ở AO NƯỚ NGỌT
THÀNH PHỐ VINH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
VINH - 2011
i
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban Giám hiệu Trường Đại học
Vinh, Ban chủ nhiệm Khoa Nông Lâm Ngư, Khoa đào tạo sau đại học, Tổ bộ môn
NTTS đã ủng hộ, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành tốt khóa học này.
Lời cảm ơn sâu sắc nhất tôi xin gửi đến thầy giáo hướng dẫn PGS. TS. Trần
Ngọc Lân người trực tiếp chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận
văn.
Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình bác Nguyễn Văn Hóa; cán
bộ nông nghiệp UBND xã Hưng lộc đã tạo điều kiện về cơ sở vật chất giúp tôi hoàn
thành luận văn này.
Lời cảm ơn chân thành xin gửi tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp, những
người đã giúp đỡ và động viên tôi trong học tập cũng như trong cuộc sống.
2.2.1. Thí nghiệm1: Ảnh hưởng của một số loại thức ăn đến sinh trưởng và tỉ lệ sống của ốc nhồi....18
2.2.2. Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng và tỉ lệ sống của ốc nhồi..................21
2.3. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi..........................................................................22
2.3.1. Số liệu môi trường.................................................................................................22
2.3.2. Số liệu tăng trưởng................................................................................................22
2.3.3. Tốc độ tăng trưởng bình quân ngày ADG...................................................................22
2.3.4. Tốc độ tăng trưởng tương đối..................................................................................22
iii
2.3.5. Hệ số thức ăn FCR ( Feed conversion rate).................................................................23
2.3.6. Tỷ lệ sống (S) (%).................................................................................................23
2.3.7. Chi phí thức ăn cho 1kg ốc tăng trọng ở mỗi nghiệm thức...............................................23
2.3.8. Hiệu quả kinh tế...................................................................................................23
2.4. Phương pháp xử lý số liệu.........................................................................................23
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN..................................................24
3.1. Một số các yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm..................................................24
3.1.1. Nhiệt độ..............................................................................................................24
3.1.2. Biến động của pH nước trong ao thí nghiệm...............................................................25
3.1.3. Biến động của DO trong ao thí nghiệm:.....................................................................25
3.2. Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng của ốc nhồi..............................................26
3.2.1. Ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng về kích thước của ốc nhồi...................................26
3.2.2. Ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng về khối lượng của ốc nhồi..................................37
3.2.3. Ảnh hưởng của thức ăn đến tỉ lệ sống của ốc nhồi.........................................................42
3.2.4. Hệ số thức ăn và chi phí thức ăn...............................................................................42
3.2.5. Hạch toán kinh tế:.................................................................................................44
3.3. Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng và tỉ lệ sống của ốc nhồi........................................45
3.3.1. Tăng trưởng về kích thước và khối lượng của ốc nhồi ở các mật độ thí nghiệm:...................45
3.3.2. Tỉ lệ sống............................................................................................................56
G3
Giai 3
G4
Giai 4
G5
Giai 5
G6
Giai 6
G7
Giai 7
G8
Giai 8
G9
Giai 9
FCR
SGR
Specific growth rate
SD
Phương sai
R
Chiều rộng
TB
Trung bình
TA1
Thức ăn 1
TA2
Thức ăn 2
TA3
Thức ăn 3
TN
vi
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1. 1. Hình thái của Ốc nhồi Pila polita..........................................................................4
Hình 1. 2. Tổ bằng đất do ốc đào trước khi đẻ.......................................................................8
Hình 1. 3. Chùm trứng ốc nhồi đẻ dấu trong hốc đá................................................................9
Hình 1. 4. Chùm trứng ốc nhồi đẻ dấu trong hốc đất...............................................................9
Hình 1. 5. Trứng ốc nhồi đẻ lên rễ bè.................................................................................10
Hình 1. 6. Ốc nhồi đang đẻ trứng trên bờ đất vào ban ngày....................................................10
Hình 1. 7. Ốc con ra khỏi bọc trứng...................................................................................11
Hình 1. 8. Ốc con mới nở bám vào giá thể..........................................................................11
Hình 2. 1. Ốc giống khi bố trí thí nghiệm............................................................................19
Hình 2. 3. Thức ăn 2(TA 2).............................................................................................20
Hình 2. 4. Thức ăn 3 (TA 3)............................................................................................20
Hình 2.5. Sơ đồ bố trí thí nghiệm nghiên cứu các công thức thức ăn..........................................21
Hình 2.6. Sơ đồ bố trí thí nghiệm nghiên cứu mật độ ương nuôi...............................................21
Hình 3. 1. Diễn biến nhiệt độ nước trong ao thí nghiệm..........................................................24
Hình 3. 3. Diễn biến pH nước trong ao thí nghiệm................................................................25
Hình 3.5. Chiều dài trung bình của ốc qua các lần kiểm tra....................................................28
Hình 3.6. Chiều rộng trung bình của ốc nhồi qua các lần kiểm tra............................................28
Hình 3.7. Tốc độ tăng trưởng bình quân ngày về chiều cao qua các lần thu mẫu..........................31
Hình 3.8.Tốc độ tăng trưởng bình quân ngày về chiều rộng qua các lần thu mẫu.........................31
Hình 3.9. Tốc độ tăng trưởng bình quân ngày về chiều rộng qua các lần thu mẫu........................32
Hình 3.13. Khối lượng trung bình của ốc qua các lần kiểm tra................................................39
................................................................................................................................. 42
Hình 3.16 Tỉ lệ sống của ốc nhồi khi sử dụng các loại thức ăn khác nhau...................................42
Hình 3.17 Chiều cao trung bình của ốc qua các lần kiểm tra...................................................46
Hình 3.18. Chiều dài trung bình của ốc qua các lần kiểm tra...................................................47
Hình 3.19. Chiều rộng trung bình của ốc nhồi qua các lần kiểm tra..........................................47
lipid 1g, cholesterol 240mg, carbohydrate 0,8g, Ca 400mg, Fe 3,9mg, Zn l,5mg
(giàu khoáng chất, đặc biệt là Ca, Fe, Zn) với nhiều loại vitamin như: vitamin K
0,005mg, vitamin B2 0,09mg, vitamin B12 0,0006mg, folate 0,001mg, E 0,6mg. Vì
vậy, giải pháp để có thể giải quyết cuộc khủng hoảng lương thực, thực phẩm trên
trái đất là tảo xanh và ốc táo, hình thành một hệ thống sinh thái khép kín với các
yếu tố sinh học trao đổi giữa hai thành phần, tức là chất bài tiết của ốc táo là phân
bón cho tảo, và phát triển tảo trở thành thức ăn cho ốc; không gian cần thiết cho hệ
thống này là 3m2, cho thu hoạch 50g ốc táo cho mỗi bữa ăn cho một người.
Loài ốc nhồi Pila polita (Deshayes) là loài thân mềm chân bụng họ
Ampullariidae, là loài bản địa của Việt Nam. Chúng sinh sống ở các vực nước ngọt,
ruộng, ao hồ, sông, suối, và đầm lầy nước tĩnh (Đặng Ngọc Thanh và cs, 1980)
Ốc nhồi Pila polita không chỉ được chế biến thành nhiều món ăn dân dã như
bún ốc, ốc xào, canh ốc, ốc luộc hay những món ăn đặc sản, như ốc nhồi thịt, ốc hấp
lá gừng. Ốc nhồi còn được dùng làm thuốc thông lợi đại tiểu tiện, giải uất nhiệt, tiêu
1
thũng... là vị thuốc có lợi cho cơ thể con người. Thành phần dinh dưỡng của ốc nhồi
chứa 11,9% protid; 0,7% lipid, các vitamin (B1 0,01mg%; B2 0,06mg%; pp 1mg
%); các muối (Ca 1.357mg%; P 191mg%), các chất khoáng; ốc nhồi cung cấp 86
calo/l00g thịt. Cần lưu ý rằng cho đến nay ốc nhồi Pila polita ở Việt Nam không có
ký sinh trùng tự nhiên thuộc danh sách các ký sinh trùng y học.
Một số nước vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới đã nuôi một số loài họ ốc táo
Ampullariidae, như nuôi loài Pomacea bridgesi, Pila globosa ở ấn Độ, Bangladesh;
nuôi loài Pomacea bridgesi ở Nhật Bản.
Ở Việt Nam gần đây một số nơi đã bắt đầu nuôi loài ốc nhồi Pila polita
(Deshayes), nhưng kiến thức về sinh học, sinh thái và kỹ thuật nuôi ốc nhồi còn rất
hạn chế; vì vậy để góp phần phát triển nuôi ốc nhồi, một đối tượng thủy sản nước
ngọt mới ở Việt Nam, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: "Ảnh hưởng của mật
ống thoát. Phần miệng nằm ở phía trước, nếp da bao quanh miệng kéo dài thành hai
mấu lồi, phía ngoài hai mấu lồi này là hai tua đầu, khi vươn dài ra có thể dài tới
5cm. Ở gốc tua cảm giác có hai mắt đính trên hai cuống ngắn. Phía dưới phần đầu là
phần chân. Ở chân có rãnh dọc chia chân làm hai mảnh. Khi di động chân bè rất
rộng và đẩy nắp miệng về phía sau. Tiếp theo phần đầu là phần áo. Cửa áo nằm
ngay phía trên miệng và chạy dài từ trái sang phải. Bề mặt của áo cũng như toàn
thân ốc lúc nào cũng có một lớp chất nhày. Bên trong là xoang áo. Bên phải áo có lỗ
sinh dục cái hoặc cơ quan giao phối nằm trong một túi(ở con đực) và hậu môn. Bên
trái áo có cơ quan cảm giác hóa học osphradi là một mấu ngắn màu vàng nhạt.
4
Khối nội quan: Phần lớn khối nội quan nằm ở vòng xoắn cuối. Qua lớp màng
mỏng có thể phân biệt được một số các bộ phận nội quan: Đó là khối gan - tụy màu
vàng xen lẫn màu xanh đen. Dạ dày màu đỏ nằm trong khối gan - tụy. Đơn thận màu
đen phủ một đoạn ruột. Ở con cái có tuyến anbumin màu vàng. Bao tim ở gờ bên trái.
Ống dẫn sinh dục đực hoặc cái ở bên phải. Nội tạng gồm các cơ quan chức năng sau:
- Hệ tiêu hóa: Trong thùy miệng có hành miệng, gồm có hai răng kitin ở hai
bên, giữa là lưỡi gai. Tiếp đó là thực quản nối hành miệng với dạ dày. Thực quản
hẹp, dài. Dạ dày màu đỏ thịt nằm trong khối gan - tụy. Sau dạ dày là ruột uốn khúc
nằm ngoằn ngoèo trong khối gan - tụy, rồi đổ ra trực tràng chạy về phía trước cơ
thể. Cuối cùng là hậu môn nằm bên phải cửa áo.
Ở vùng miệng có một đôi tuyến nước bọt màu vàng, đổ vào thực quản. Khối
gan tụy chia làm hai phần: phần tiêu hóa màu vàng pha đỏ, phần bài tiết màu đen.
- Hệ hô hấp: Họ ốc Pilidae có đặc điểm là vừa có phổi, vừa có mang. Bên trái
của xoang áo là phổi thông với ngoài qua ống xiphông thoát. Trong xoang mang có
một dãy lá mang chạy song song với đoạn ruột thẳng.
- Hệ tuần hoàn: Tim nằm trong bao tim ở bên trái cơ thể. Tim gồm một tâm
nhĩ màu trắng nằm ở trước tâm thất. Các động mạch phổi ở mang qua một tĩnh
Theo Nguyễn Đình Trung (1998), động vật thâm mềm (mollusca), có vỏ đá
vôi, không phân bố ở vùng nước có pH
tinh, qua cơ quan giao phối(gai giao cấu) chuyển sang cơ thể con cái và được giữ lại
trong buồng thụ tinh. Thời gian kết cặp có thể kéo dài hàng giờ đồng hồ. So với ốc
bươu vàng thì chúng dễ tách rời nhau ra trong khi giao phối khi có một tác động
như chạm nhẹ vào mặt nước hay chỉ là một ánh đèn rọi vào. Ốc thường làm tổ trước
khi đẻ và đẻ dấu trứng dưới các bờ đất có lá cây che kín. Trong tự nhiên, chúng
thường đào các hố đất trên bờ có đường kính khoảng 7-9cm, và sâu từ 5-8cm tùy
thuộc vào chất đất tạo bờ.
Hình 1. 2. Tổ bằng đất do ốc đào trước khi đẻ
Trứng ốc nhồi được đẻ dấu trong các hố đất hoặc có mái đá che cách mặt
nuớc từ 10-20cm. Tập tính đẻ dấu trứng của ốc nhồi Pila polita nhằm mục đích bảo
8
vệ trứng. Trứng được dấu trong các hố đất, đá vừa có tác dụng phòng tránh địch hại
tấn công trứng cũng như ăn trứng, mặt khác cũng che bớt ánh sáng chiếu trực tiếp
lên chùm trứng, nhằm giữ độ ẩm cho trứng, từ đó giúp cho phôi phát triển tốt.
Hình 1. 3. Chùm trứng ốc nhồi đẻ dấu trong hốc đá.
Hình 1. 4. Chùm trứng ốc nhồi đẻ dấu trong hốc đất.
Trong điều kiện môi trường sinh thái không thuận lợi cho ốc làm tổ, người ta
thấy ốc đẻ cả lên rễ bèo, những chùm trứng được đẻ trên rễ bèo thường bị hỏng do
bị ánh sáng mặt trời trực tiếp chiếu vào hoặc bị nước mưa và động vật gây hại.
9
Hình 1. 5. Trứng ốc nhồi đẻ lên rễ bè
trong bọc trứng có hình dạng của ốc con. Nội quan dần hình thành và tế bào sắc tố
ngày càng hoàn thiện. Sau thời gian 13-15 ngày tùy thuộc vào điều kiện nhiệt độ thì
ốc con phát triển gần như hoàn chỉnh về cấu tạo bên ngoài và bên trong, lúc này ốc
sẽ tự thoát ra ngoài. Kèm theo sự phát triển của phôi là sự thay đổi về màu sắc của
chùm trứng. Lúc mới đẻ, trứng có màu trắng tinh. Sau 2 ngày thì trứng bắt đầu
chuyển sang màu trắng đục, màu vàng xám bắt đầu xuất hiện khoảng ngày thứ 5 sau
khi đẻ và ngày thứ 11 trở đi thấy trứng chuyển sang màu xám đen, đây là lúc mà
trứng chuẩn bị nở. Quan sát bên ngoài rất dễ nhận thấy sự thay đổi màu sắc của
chùm trứng từ lúc mới đẻ đến khi trứng nở. Ở điều kiện nhiệt độ không khí từ 24-36
0
C, sau 13-15 ngày thì ốc thoát ra khỏi bọc trứng và sống bám vào giá thể trong môi
trường nước. Quan sát trứng chuẩn bị nở thấy lớp vỏ canxi bên ngoài bị nứt và bong
ra, lúc này cầm chùm trứng ta thấy mềm mềm và các quả trứng rất dễ tách rời nhau.
Bọc trứng có chứa ốc con bên trong dần dần sẹp lại và ốc con thoát ra ngoài. Theo
Nguyễn Duy Khoát(1993) thì nhiệt độ có ảnh hưởng rất lớn đến sự nở của trứng ốc
bươu vàng, nhiệt độ 150C thời gian nở của trứng ốc là 30 ngày, nhiệt độ 300C thời
gian nở của trứng ốc là 9 ngày, nhiệt độ tăng tới 320C, phần lớn trứng ốc bị hỏng,
nở không đáng kể.
Hình 1. 7. Ốc con ra khỏi bọc trứng.
Hình 1. 8. Ốc con mới nở bám vào giá thể
11
Căn cứ vào màu sắc của buồng trứng người ta có thể biết được thời gian
trứng ốc nở để chuẩn bị các giá thể như bèo, và các dụng cụ đựng ốc con, cũng như
sinh học, sinh thái của các loài thuộc họ ốc táo Ampullariidae và loài Pomacea
canaliculata (Lamarck) sẽ là những gợi suy cho nghiên cứu sinh học, sinh thái và
nuôi các loài ốc táo, như loài ốc nhồi Pila polita (Deshayes) ở Việt Nam.
Trong họ ốc táo Ampullariidae, giông Pila có 15 loài; ở Việt Nam giông
Pila có 2 loài bản địa là Pila polita (Deshayes, 1830), Pila conica (Gray, 1828)
(Đặng Ngọc Thanh và cs, 1980); và 1 loài mới xâm nhập là ốc bươu vàng Pomacea
canaliculata (Lamarck, 1819), đây là loài dịch hại nghiêm trong cho cây trồng đặc
biệt là cây lúa ở Việt Nam.
* Một số công trình nghiên cứu về mật độ và sinh trưởng
Haniffa M. A. (1982), nghiên cứu xác định hiệu quả của các mức cho ăn và
kích cỡ cơ thể đối với sự sử dụng thức ăn của Pila globosa cho thấy, cung cấp thức
ăn tạo nên sự gia tăng nguồn năng lượng tổng thể của tất cả các nhóm kích cỡ cơ
thể Pila globosa. Tỷ lệ thức ăn tăng từ 3,4 đến 28,7; 2,0 đến 9,1 và 0,2 đến 7,2
mg/g/ngày ở ốc non, ốc trung bình và ốc già tương ứng. Sự gia tăng tương ứng với
12
khối lượng cơ thể trong khoảng 1,3 đến 2,7; 0,5 đến 1,5 và 0,4 đến 0,5 mg/g/ngày.
Khi so sánh hai nhóm kích cỡ với nhau cho thấy, các giá trị tối đa ghi nhận được ở
nhóm ốc non P. globosa, tức là tăng kích thước gây ra sự sụt giảm nguồn năng
lượng. Dẫn liệu thu được để bảo trì, tối ưu và tỷ lệ thức ăn tối đa của nhóm P.
globosa ốc non là 12,0; 22,0 và 28,8 mg/g/ngày. Giá trị tương ứng của nhóm ốc
trung bình và nhóm ốc già là 7,4; 14,0 và 19,0 mg/g/ngày và 4,1; 5,6 và 7,2
mg/g/ngày. Khối lượng cơ thể và tỷ lệ chuyên đổi thức ăn có liên quan với nhau.
Jess S. và R.J. Marks (1995), nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của mật
độ lên sự tăng trưởng của ốc H. aspersa Muller var. maxima trong điều kiện kiểm
soát môi trường cho thấy, tác dụng ức chế sự tăng trưởng và sự trưởng thành của ốc
do mật độ tăng lên, từ 100 - 800 con/m 2 diện tích sàn. Theo dõi số lần vệ sinh làm
sạch bể nuôi cho thấy, ở tất cả các mật độ, sự tăng trưởng của ốc tăng lên khi tần
trong môi trường sống mô phỏng tự nhiên với thức ăn là các cây thủy sinh và cây
trồng mùng tơi (Basela rubra) ở Pakistan. Tỷ lệ tăng trưởng và giá trị chỉ số béo phì
của ốc nuôi với các cây thức ăn tự nhiên thủy sinh đã cao hơn, so với những ốc
được nuôi với thức ăn là cây mùng tơi. Đối với thức ăn là cây tự nhiên, tỷ lệ tử vong
tối thiểu và tối đa ở khoảng cách tuổi 224 - 238 ngày và 0-14 ngày kể từ ngày được
tính toán là 0% và 16%; trong khi đó, những ốc được nuôi với thức ăn là cây trồng
B. rubra tại 252-266 ngày và khoảng 0-14 ngày tuổi, tỷ lệ tử vong tối thiểu và tối đa
là 0% và 18% tương ứng. Bảng sống đã được xây dựng trên 266 ngày của ốc nuôi
trên cả hai loại cây thức ăn. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm này cho thấy khả năng
của nuôi ốc trên quy mô lớn, trong môi trường sống mô phỏng tự nhiên với các yếu
tố lý-hóa, như nhiệt độ nước, pH, độ đục và oxy hòa tan của nước.
Alves T. et al. (2006) nghiên cứu sự sinh trưởng của Pomacea lineata,
Pomacea bridgesi ở các mật độ đàn giống nuôi khác nhau cho thấy, nuôi ốc giông 1
tháng tuồi trong 18 bể chứa, 3 lần lặp lại cho 3 mật độ, cho 2 loài; với mật độ là 0,5
(TI), 1 (T2), 1,5 (T3) cá thể/L. Phân tích các thông số sinh trưởng, như tốc độ tăng
trưởng, tăng khối lượng, sinh khối cuối cùng, chuyển đổi thức ăn và tỷ lệ sống, cho
thấy không có sự thay đổi đáng kể ở các mật độ khác nhau cho cả hai loài. Khối
lượng cuối cùng trung bình trong ba mật độ thực nghiệm không khác biệt đáng kể ở
loài P.bridgesti, trong khi đó ở loài P.lineata đã cao hơn đáng kể ở TI (22,3 ± 1.8g)
so với ở T2 và T3. Mặt khác, việc tăng khối lượng tuyệt đối ở cả hai loài P.lineata,
14
P.bridgesti cao hơn đáng kể ở T1 (21,9 ± 37,2 ± 1.8g và 6.34g) so với ở T2 và T3,
tương ứng. Ngược lại, sinh khối tăng của P.lineata, P.bridgesti cao hơn đáng kể ở
T3 (276,3 ± 33.16g và 431,4 ± 37.20g) so với ở TI và T2, tương ứng. Dựa trên các
kết quả nghiên cứu này, các tác giả đề nghị, cần quan tâm nghiên cứu loài tiềm năng
nuôi trồng thủy sản P.bridgesi, bởi vì sự phát triển của nó tốt hơn ngay cả trong
điều kiện mật độ cao (1,5 con/L).
1.1.2.Nghiên cứu về sinh học, sinh thái và nuôi ốc táo họ Ampullariidea ở Việt
Nam
Cho đến nay ở Việt Nam nghiên cứu về sinh học, sinh thái và nuôi ốc táo họ
Ampullariidae như ốc nhồi Pila mới chỉ dừng lại ở nghiên cứu về phân loại học họ
ốc nhồi (Gastropoda: Pilidae), theo Đặng Ngọc Thanh và cs (1980) họ ốc nhồi
Pilidae có 2 loài polita (Deshayes, 1830) và Pila conica (Gray, 1828).
Nguyễn Thanh Hà và cs (2008) nghiên cứu hiện trạng nuôi trồng thủy sản và
đặc điểm thủy sinh một số thủy vực ở huyện Gia Lâm, Hà Nội cho thấy, ốc nhồi
Pilapolita gặp được ở mức độ trung bình (25-50% số mẫu).
Thanh Tùng (2006), cho biết một số thông tin về sản xuất ốc đồng giống và
nuôi ốc thịt.
Những năm gần đây do xuất phát từ thực tế là ốc nhồi trong tự nhiên khan
hiếm, sức tiêu thụ trên thị trường lớn, cung không đủ cầu, giá ốc trên thị trường cao
60 nghìn - 70 nghìn đồng/kg nên một số hộ dân nuôi trồng thuỷ sản ở Thanh Hoá,
Hải phòng đã nuôi ốc nhồi tự phát, lấy giống ngoài tự nhiên, nuôi ghép cùng với
một số loài cá nước ngọt trong ao, mật độ thả thưa 5-10 con/m 2. Thức ăn là lá sắn,
sơ mít, cám gạo Thời gian nuôi 4-5 tháng. Giá bán tại bờ là 50 nghìn đồng/kg. Họ
cho biết so với nuôi đơn cá thì ao nuôi ghép ốc thu được hiệu quả kinh tế cao hơn
nhiều (vì không phải đầu tư thêm thức ăn, lại có thêm nguồn ốc thu nhập).
Năm 2010 có một số nghiên cứu về ốc nhồi như một số sinh viên làm đề tài
tốt nghiệp khoa nuôi trồng thuỷ sản trường Đại học nông nghiệp Hà Nội, khoa nuôi
trồng thuỷ sản trường Đại học Vinh đang nghiên cứu đề tài"Nghiên cứu kỹ thuật
sản xuất giống và nuôi thương phẩm ốc nhồi (Pila polita), hiện đã thu được nhiều
số liệu nhưng chưa công bố.
16
1.2.3. Những vấn đề chưa được nghiên cứu về sinh học, sinh thái và nuôi ốc
nhồi