Động từ trong tục ngữ tiếng việt luận văn thạc sỹ ngữ văn - Pdf 32

1

Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh

trịnh thị hơng

động từ trong tục ngữ tiếng việt
CHUYÊN NGàNH: NGÔN NGữ HọC
Mã số: 60.22.01

LUậN VĂN THạC Sĩ NGữ VĂN
Ngời hớng dẫn khoa học:
ts. Trần văn minh

Vinh - 2011


2
LờI cảm ơn
c nghe tc ng l bit, dựng tc ng l núi. Núi l rỳt t vn
ling tc ng ra mt cõu dựng, tc l lm cho nú sng, lm thc ti hoỏ
nú. Tc ng khi cha dựng, cũn ang nm trong kho tri thc ca con ngi l
mi dng tnh dng tim nng. Khi tc ng c núi ra, vit ra l dng
ng, l kh nng c th. Chớnh khi s dng, tớnh a ngha, tớnh n d ca nú
c bc l rừ, mi c chng minh ti ch. S dng tc ng, lm bc l tớnh
tim n ca nú l mt hnh ng núi nng y sỏng to-sỏng to qua s dng v
s dng phỏt huy sỏng to. Cựng mt cõu tc ng cú th cú nhng cỏch dựng
khỏc nhau, trong nhng vn cnh khỏc nhau. Nhn rừ nhng u vit ca tc
ng, t gúc ngụn ng chỳng tụi ó kho sỏt miờu t din mo, vai trũ ng
phỏp v ng ngha ca t loi ng t c dựng trong vn tc ng ngi Vit.

dung. Mặt khác, kho tàng tục ngữ phong phú của người Việt là nơi có thể tìm
hiểu nhiều mặt về lối tư duy, về cách sống, về triết lý sống, về đặc điểm văn hóa
và ngôn ngữ của dân tộc Việt.
Song mặt khác chóng ta cũng thấy rằng tục ngữ là một hiện tượng “hỗn
đồng” (từ của Chu Xuân Diên). Tục ngữ không chỉ là sản phẩm của tư duy hình
tượng mà còn là sản phẩm của tư duy trừu tượng. Hai mặt này vừa đối lập vừa
thống nhất trong bản thân mỗi câu tục ngữ. Vì thế để hiểu được một cách toàn
diện đúng như nó có bên cạnh việc khai thác dưới các góc độ foklore, sử học,
dân tộc học, tâm lý học, phong tục học, ngôn ngữ học, văn học, văn hóa học, xã
hội học…thì việc tìm hiểu hoạt động của động từ trong vốn tục ngữ dân tộc là
bổ ích đối với kiến thức lý thuyết về từ loại này trong hoạt động cụ thể của nó,
đồng thời giúp ích cho việc hiểu hơn về tục ngữ Việt về các mặt cấu tạo và ngữ
nghĩa.


4
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
2.1. Các từ loại trong tiếng Việt nói chung, từ loại động từ nói riêng là
một địa hạt quan trọng của ngữ pháp tiếng Việt. Vấn đề này đã được nhiều công
trình nghiên cứu, giáo trình đại học đề cập.
Trong “Ngữ pháp tiếng Việt”, Nguyễn Chí Hòa cũng đã chỉ ra một cách
cụ thể cấu tạo của từ tiếng Việt theo quan điểm ngữ pháp, Tác giả còn cho rằng
động từ là từ loại chỉ hoạt động và trạng thái của người và sự vật; Ý nghĩa trạng
thái được khái quát hóa trong mối liên hệ với thời gian, không gian [16, tr.31].
Trong “Ngữ pháp tiếng Việt”, Diệp Quang Ban cho rằng: động từ thuộc
vào số các từ loại thực từ, động từ tiếng Việt không biến hình, nên khả năng kết
hợp của chúng rất phức tạp. Động từ là một lớp từ lớn và đa dạng về ý nghĩa ,
cho nên có thể phân chia theo những phương diện khác nhau [1, tr.491].
Theo giáo trình “Ngữ pháp tiếng Việt (Bùi Minh Tãan chủ biên), ở tiếng
Việt, tính từ và động từ gần gũi với nhau về nhiều phương diện: về ý nghĩa; về

nhân cách hóa và tổ chức ngôn ngữ (làm cho câu tục ngữ mang tính nhịp nhàng,
cân đối, có vần điệu). Có thể nói đây là cách tiếp cận hay nhưng không mới
trong giới nghiên cứu.
Năm 1975, Chu Xuân Diên trong công trình nghiên cứu “Tục ngữ Việt
Nam”, ở phần thứ nhất (“Tiểu luận về tục ngữ Việt Nam”) đã đi sâu vào các
khía cạnh khác nhau của tục ngữ trên hai bình diện nội dung và hình thức. Đặc
biệt ông rất quan tâm đến tính lô gíc của phán đoán và dựa vào phán đoán để
xem xét nội dung cũng như hình thức cấu tạo của tục ngữ.
Năm 1995, Trần Đức Các trong công trình “Tục ngữ với một số thể loại
văn học” đã điểm lại tình hình nghiên cứu tục ngữ cũng như đề cập một số ý
kiến có tính giới thuyết xung quanh việc xác định khái niệm về tục ngữ để làm
tiền đề cho việc đi vào phân tích, mô tả tục ngữ với các thể loại khác.
Ngoài ra, còn có những tác giả nghiên cứu tục ngữ ở góc độ thi pháp như
Đỗ Bình Trị trong bài viết “Những đặc điểm thi pháp của tục ngữ” (1999), Phan


6
Thị Đào với chuyên luận “Tìm hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam” (2001), Hoàng
Trinh với công trình nghiên cứu “Đối thoại văn học”…
Nhìn chung, khi nghiên cứu nghệ thuật của tục ngữ hầu hết các tác giả
đều chú ý đến bản chất văn học và xu hướng thơ của tục ngữ, xem đó là hai đặc
điểm góp phần quy định giá trị thẩm mỹ của tục ngữ với tư cách một thể loại
văn học dân gian độc lập. Ngoài ra các tác giả còn chú ý phương diện cấu trúc
lô-gích của tục ngữ. Đây là cách tiếp cận khá mới mẻ ở góc độ thi pháp học.
2.2.2. Tình hình nghiên cứu tục ngữ từ góc độ ngôn ngữ học
Trong Tục ngữ Việt Nam - Cấu trúc và thi pháp (1997), Nguyễn Thái
Hòa đã khái quát gần như đầy đủ các khuôn hình cấu trúc cơ bản của tục ngữ,
chỉ ra hướng vận động ngữ pháp của từng khuôn hình, trên cơ sở đó mô tả một
số đặc điểm trong thi pháp tục ngữ với tư cách là một “tổng thể thi ca nhỏ nhất”
(chữ dùng của R. Jakobson). Có thể nói đây là một chuyên khảo về tục ngữ

“Tục ngữ Việt Nam dưới góc nhìn ngữ nghĩa- ngữ dụng” (Đỗ Thị Kim Liên 2006), trong đó đề cập ngữ nghĩa của một số nhóm động từ trong tục ngữ, là
một tài liệu tham khảo quan trọng cho chúng tôi khi thực hiện đề tài này.
Nhìn chung, các nhà khoa học đã chỉ ra được rất nhiều đặc điểm nổi bật
của thể loại tục ngữ, vạch ra định hướng nghiên cứu mới cho những người đi
sau. Tuy nhiên cho đến nay chưa có công trình hoặc đề tài nào nghiên cứu về
hoạt động của từ loại động từ trong tục ngữ Việt Nam.
3. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ
TÀI
3.1. Mục đích
Qua việc khảo sát miêu tả diện mạo, ngữ nghĩa và vai trò ngữ pháp của từ
loại động từ được dùng trong vốn tục ngữ người Việt, đề tài góp phần khẳng
định tầm quan trọng của từ loại này trong hoạt động ngôn ngữ của người Việt.
3.2. Nhiệm vụ
- Giới thuyết một số vấn đề chung liên quan đến đề tài (từ loại động từ,
kho tàng tục ngữ của người Việt)


8
- Khảo sát – miêu tả diện mạo (cấu tạo, nguồn gốc, vị trí) của từ loại động
từ trong tục ngữ người Việt.
- Khảo sát – miêu tả vai trò ngữ pháp và ngữ nghĩa của từ loại động từ
trong tục ngữ người Việt.
3.3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng khảo sát của đề tài là những phát ngôn tục ngữ của người Việt có
chứa động từ trong cuốn “Kho tàng tục ngữ người Việt” (2 tập) của Nguyễn
Xuân Kính (chủ biên), Nguyễn Thuý Loan, Phan Lan Hương, Nguyễn Luân
(2002), Nxb VH-TT, Hà Nội.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện các nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp
sau:

1.1.1.1. Đặc điểm về ý nghĩa khái quát
Từ một số định nghĩa dẫn dưới đây về từ loại động từ, có thể rút ra ý
nghĩa khái quát của từ loại này:
"Động từ là từ biểu thị ý nghĩa khái quát về quá trình, ý nghĩa quá trình
thể hiện trực tiếp đặc trưng vận động của thực thể, đó là ý nghĩa hành động. ý
nghĩa trạng thái được khái quát hoá trong môí liên hệ với vận động của thực thể
trong không gian và thời gian" [2, tr.90].
"Động từ là từ biểu thị quá trình, cũng tức là biểu thị hoạt động hay trạng
thái nhất định của sự vật trong quá trình" [39, tr.23].
Như vậy, ý nghĩa khái quát của động từ là hoạt động, hành động hay trạng
thái nhất định của sự vật trong quá trình. Ví dụ: Tay làm hàm nhai.
1.1.1.2 Đặc điểm về khả năng kết hợp
a) Động từ có khả năng đứng làm thành tố trung tâm của cụm từ mang tên
nó (cụm động từ).
b) Thường đứng sau phó từ chỉ thời gian (đã, sẽ, đang); phó từ cầu khiến
(hãy, đừng, chớ); phó từ phủ định (không, chưa, chẳng); phó từ tiếp diễn (đều,
vẫn, cứ, còn). Ví dụ:
* Chim hoa gà cú chớ nuôi.
* Cha lươn chẳng đào mà cho lươn ở, mẹ lươn chẳng làm tổ cho lươn
nằm.
* Con khôn thì mua chè Nghè, mẹ bảo chẳng nghe cứ mua chè Bồng
Lạng.
* Chim khôn chưa bắt đã bay, người khôn ít nói, ít hay trả lời


11
c) Không đứng trước đại từ chỉ định (này, kia, ấy, nọ) hoặc đứng sau từ
chỉ vị trí (trên, dưới, trong, ngoài...).
1.1.1.3. Đặc điểm về khả năng làm thành phần câu
Động từ có khả năng đảm nhiệm nhiều chức vụ cú pháp khác nhau.

14
1/ Nhóm động từ nội động (không tác động).
Đây là những động từ biểu thị ý nghĩa tự thân (không bao giờ tác động
đến đối tượng khác, không đòi hỏi thành tố phụ, là bổ ngữ trực tiếp, nếu có thì
thường là bổ ngữ gián tiếp mang ý nghĩa thời gian, địa điểm, nguyên nhân, mục
đích, có khả năng kết hợp với phó từ chỉ thời gian, chỉ sự tiếp diễn). Ví dụ: ngủ,
ngã, nằm, náu, bò, khóc.
2/ Nhóm động từ ngoại động (tác động)
Là những động từ chỉ hoạt động mà kết quả của chúng làm cho đối tượng
khách quan phải thay đổi vị trí, tính chất. Chúng đòi hỏi thành tố phụ phía sau là
danh từ, có khả năng kết hợp với các phó từ chỉ thời gian, sự tiếp diễn, phủ
định... Ví dụ: ăn, làm, cắt, dán, ném...
3/ Nhóm động từ phát nhận
Là những động từ biểu thị những hành động có tính chất ban phát hoặc
tiếp nhận (đưa, gửi, biếu, nhận, lĩnh, thu, lấy,. ..). Nhóm động từ này thường đòi
hỏi hai thành tố phụ, một biểu thị đối tượng tiếp nhận và một biểu thị đồ vật, sự
vật do hoạt động của động từ chi phối.
4/ Nhóm động từ gây khiến
Biểu thị sự hoạt động cho phép, thúc đẩy hay cản trở việc thực hiện hoạt
động khác (giúp, bảo, khuyên, cho phép, yêu cầu...). Các động từ này đòi hỏi
hai thành tố phụ: danh từ chỉ đối tượng tiếp nhận sự gây khiến, động từ chỉ kết
quả hoạt động gây khiến. Ví dụ: Mẹ cho phép Lan về quê.
5/ Nhóm động từ xuất hiện, tồn tại, tiêu huỷ
Biểu thị sự xuất hiện, tồn tại, biến mất của sự vật (mọc, xuất hiện, nổi lên,
có, còn...). Về khả năng kết hợp, thường đòi hỏi thành tố phụ là danh từ vốn là
chủ thể (không phải chủ ngữ) của động từ tồn tại. Ví dụ: vỡ (bờ), còn (tiền),
mọc lên (cây thị)...


15

Biểu thị ý nghĩa bị động, có khả năng kết hợp với thành tố phụ ở phía sau
là một kết cấu chủ - vị. Có khi có thể tĩnh lược chủ ngữ chỉ còn động từ bị động
và động từ có chủ ngữ tĩnh lược. Ví dụ: Chuột bị mèo bắt -> Chuột bị bắt.
Theo chúng tôi, cách phân loại (vừa dựa vào khả năng kết hợp với các
thành tố ở phía sau động từ vừa dựa vào kiểu ý nghĩa) của Trung tâm KHXH
&NVQG [52, tr.101] là cụ thể, chi tiết và có sức thuyết phục hơn cả. Các tác giả
sách này chia ra 10 nhóm động từ (gọi theo ý nghĩa):
1/ Động từ ngoại động: chỉ những hoạt động có bắc cầu sang sự vật ở
ngoài nó. Đó là những hoạt động như ăn, uống, viết, đọc, xây dựng, cải tiến...
Ví dụ: * Uống nước lã cầm hơi.
2/ Động từ nội động: chỉ những hoạt động không bắc cầu sang sự vật ở
ngoài nó. Đó là những hoạt động như: ngủ, tắm, cười, chạy, bay, làm lụng, nghỉ
ngơi... Ví dụ: * Nói toạc móng heo.
3/ Động từ cảm nghĩ: chỉ những hoạt động nghĩ ngợi, nhận biết, thụ cảm.
Đó là những hoạt dộng tâm lý diễn ra do chịu tác động của sự vật nhất định,
như: nghe, biết, tin, yêu, nhớ, nghi ngờ... Ví dụ: * Nhớ bát xôi dẻo, nhớ nẻo
đường đi.
4/ Động từ phương hướng: chỉ những hoạt động có bao hàm phương
hướng. Có những hoạt động không tự thân bao hàm phương hướng (đi, chạy,
học, sản xuất...) nhưng có những hoạt động có bao hàm phương hướng (ra, vào,
lên, xuống...). Ví dụ: * Thầy đi đầy tớ cũng đi . * Lên đồn, xuống phủ.
5/ Động từ tồn tại: chỉ trạng thái tồn tại của sự vật (có, còn, hết, mất). Ví
dụ: * Quan ngắn cũng hết, quan dài cũng hết .
6/ Động từ biến hoá: chỉ trạng thái biến hoá của sự vật. Sự vật có thể biến
hoá từ thể này sang thể khác, tính chất này sang tính chất khác. để chỉ các trạng
thái biến hoá đó (như: hoá, thành, nên, trở thành..). Ví dụ: Sát thân thành nhân.
7/ Động từ ý chí: chỉ trạng thái ý chí (như: muốn, quyết, dám, toan, định...
Ví dụ: * Muốn ăn trái, phải đốt gốc.



vị có sẵn; nhưng khác với thành ngữ ở chỗ nghĩa của tục ngữ bao giờ cũng là
một phán đoán. Về mặt nội dung, nghĩa của tục ngữ gần với cụm tự do, bởi vì
nó không biểu thị một khái niệm như thành ngữ mà biểu thị một tổng hợp khái
niệm” [11, tr. 87]


20
Như vậy, tác giả không chú ý đến một nét trung gian của tục ngữ mà
trước đây (1976) tác giả đã khẳng định “tục ngữ thể hiện các bước quá độ khác
nhau giữa từ và kết cấu tự do” [11, tr.25], vì vậy bỏ qua sự chuyển hoá giữa
thành ngữ và tục ngữ.
1.2.1.5. Tục ngữ là những đơn vị ngữ cú hay là các ngữ vị
Trong luận văn tiến sĩ “Ngữ vị trong ngôn ngữ và lời nói” (1977) tác giả
Trương Đông San không phân biệt thành ngữ, tục ngữ và quán ngữ mà gọi
chung là ngữ vị. Theo quan niệm của tác giả, ngữ vị là đơn vị của ngôn ngữ trên
cấp độ từ vị, bao gồm hai từ vị trở lên được tái hiện trong lời nói dưới dạng có
sẵn, cố định về hình thức và về nội dung.
Trong quan niệm này, đường ranh giới giữa tục ngữ và câu (có chức năng
thông báo) vẫn chưa được xác định rõ rệt trong khi theo thói quen, tục ngữ vẫn
được xem là những câu có ý nghĩa trọn vẹn, tồn tại độc lập mang kết cấu cố
định, tức là khác thành ngữ về cấp độ.
1.2.1.6. Tục ngữ là những câu - thông điệp nghệ thuật
Ở bài: “Tục ngữ trong cách nhìn của ngôn ngữ học”, tác giả Hoàng Văn
Hành từ góc độ ngữ nghĩa đã xem xét tục ngữ như một phức thể đa diện và
quan niệm tục ngữ là câu – thông điệp nghệ thuật. Ông viết: “Khi nói tục ngữ là
câu thông điệp nghệ thuật là cùng một lúc chúng ta nhấn mạnh lại đặc trưng bản
chất, không thể tách rời nhau của nó: Một là, tục ngữ là câu, nhưng là câu đặc
biệt khác với mọi câu nói tông thường ở tư cách là thông điệp nghệ thuật. Hai
là, tục ngữ là những thông điệp nghệ thuật nhưng là loại thông điệp nghệ thuật
khác với mọi thông điệp nghệ thuật ở chỗ hình tức của nó chỉ là một câu” [14,

khá nhiều đơn vị này mà các sách khác lại coi là thành ngữ hay ca dao. Điều
này gây không ít lúng túng cho những người muốn có một sự phân định nghiêm
ngặt về ranh giới giữa các đơn vị trên. Một số tác giả đã tìm cách khoả lấp khó
khăn này bằng cách đặt những đơn vị liền kề nhau mà không có sự phân biệt
hay giải thích rõ ràng. Giáo sư Nguyễn Lân trong “Từ điển tục ngữ, thành ngữ
Việt Nam”[25] giải thích gộp chung thành ngữ, tục ngữ theo thứ tự chữ cái ABC
chứ không tách riêng hoặc chú thích đâu là thành ngữ, đâu là tục ngữ. Một số
tác giả khác lại gộp chung các đơn vị dưới tên gọi tục ngữ ca dao, tục ngữ


22
phong dao ... Vì vậy, vấn đề đặt ra là phải xác lập ra được một hệ tiêu chí phân
lập: tục ngữ với thành ngữ, tục ngữ với ca dao.
Việc phân biệt này có ý nghĩa rất lớn đối với việc xác định đặc trưng của
các đơn vị nói trên và tục ngữ nói riêng. Công việc này cho phép đi sâu vào bản
chất tục ngữ để có thể phân tích, tìm hiểu một cách đúng đắn các đơn vị bên
trong nó.
1.2.2.1. Phân biệt tục ngữ với thành ngữ
Tục ngữ và thành ngữ có nhiều đặc điểm giống nhau cả về hình thái cấu
trúc lẫn khả năng biểu hiện trong giao tiếp: chúng là những đơn vị có sẵn, có
tính cố định, bền vững về thành phần từ vựng và cấu trúc, giàu sắc thái biểu
cảm khi đi vào hoạt động giao tiếp. Chính vì vậy việc xác định ranh giới rõ ràng
giữa hai đơn vị này là không mấy dễ dàng
Trước hềt cần xác lập tiêu chí để phân biệt. Ở đây chúng tôi dựa vào các
tiêu chí sau:
- Tiêu chí hình thức : biểu hiện rõ nhất ở số lượng âm tiết. “Tục ngữ có
số lượng chủ yếu là 6 âm tiết, nhiều nhất là 23 âm tiết. Thành ngữ có cả 3 âm
tiết nhưng chủ yếu là 4 âm tiết” [28, tr.29].
- Tiêu chí cấu trúc : sự khác biệt giữa tục ngữ và thành ngữ là sự khác biệt
về cấp độ. Thành ngữ thường có cấu tạo là một cụm từ cố định. Có thể là ngữ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status