Trờng đại học Vinh
Khoa lịch sử
=== ===
Trần thị kim phơng
Khóa luận tốt nghiệp đại học
về mô hình đặc khu kinh tế trong quá trình
cải cách - mở cửa ở trung quốc
chuyên ngành lịch sử thế giới
Khóa: 2001 - 2005
Lớp: 42A2
Giáo viên hớng dẫn: ts. phạm ngọc tân
Vinh 2005
= =
1
Lời cảm ơn
Qua thời gian su tầm, tìm hiểu, nghiên cứu và với sự giúp đỡ tận
tình của thầy Phạm Ngọc Tân, tôi đã hoàn thành khoá luận tốt nghiệp
của mình.
Với thời gian và kiến thức có hạn nên quá trình hoàn thành khoá
luận của tôi còn nhiều thiếu sót. Kính mong nhận đợc sự góp ý của các
thầy, cô giáo để khoá luận của tôi đợc hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể các thầy, cô giáo trong Khoa
10
Trung Quốc.
1.2. Vài nét khái quát về tiến trình của công cuộc cải cách - 17
mở cửa ở Trung Quốc.
1.3. Một số chính sách cải cách thể chế kinh tế.
Chơng 2 : Mô hình đặc khu kinh tế ở Trung Quốc.
2.1. Đôi điều khái quát về đặc khu kinh tế ở Trung Quốc.
2.2. Các đặc khu kinh tế ở Trung Quốc
2.3. Một số chính sách và biện pháp của đặc khu kinh tế ở
23
30
30
37
44
Trung Quốc.
Chơng 3: Một số nhận xét bớc đầu về mô hình đặc khu kinh 50
tế ở Trung Quốc.
3.1. Thành tựu.
3.2. ý nghĩa của các đặc khu kinh tế đối với sự phát triển
50
56
của trung Quốc nói chung và công cuộc cải cách - mở cửa
nói riêng.
3.3. Nguyên nhân thành công và những khó khăn
quân trong 20 năm trở lại đây là 9,8% và dự đoán có thể sau 1/2 thế kỷ
nữa Trung Quốc sẽ vợt qua Mỹ, trở thành cờng quốc số một về kinh tế.
Nếu nói sự phát triển của Nhật Bản sau Minh Trị duy tân là một sự "thần
kỳ", thì thuật ngữ đó hoàn toàn có thể đợc sử dụng khi nói về sự phát triển
của Trung Quốc trong 20 năm trở lại đây.
Sự phát triển vợt bậc của Trung Quốc - một nớc xã hội chủ nghĩa
(trong hoàn cảnh chủ nghĩa xã hội hiện thực sụp đổ ở Liên Xô và Đông
Âu) đã thu hút sự chú ý của toàn thế giới, đặc biệt là các nhà kinh tế,
chính trị, sử học...
Việc nghiên cứu những thành công của công cuộc cải cách - mở cửa ở
Trung Quốc sẽ góp phần vào việc nhìn nhận một cách khách quan, khoa
học về con đờng quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là về lí luận nền
kinh tế của thời kỳ quá độ.
Nói đến thành công của công cuộc cải cách kinh tế ở Trung Quốc
không thể không nói đến lĩnh vực kinh tế đối ngoại. Với phơng châm tận
dụng văn minh nhân loại phục vụ dân tộc mình, Trung Quốc đã tiến hành
xây dựng những khu vực "cửa sổ" để vơn ra thế giới. Có thể nói rằng,
4
những thành công mà các "cửa sổ" này đem lại đã góp phần khẳng định sự
đúng đắn của đờng lối cải cách - mở cửa, đồng thời cũng là một trong
những nhân tố thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Trung
Quốc trong thời gian qua.
Những thành công của Trung Quốc trong việc thực hiện cải cách nền
kinh tế, đặc biệt là những chính sách cải cách kinh tế đối ngoại, mà cụ thể
hơn là việc thực hiện xây dựng các đặc khu kinh tế là bài học kinh nghiệm
quý báu cho các nớc xã hội chủ nghĩa đang tiến hành cải cách, đổi mới đất
nớc, là đối tợng nghiên cứu của nhiều học giả trên thế giới. Đặc biệt đối với
Việt Nam, một nớc có nhiều tơng đồng về chính trị, văn hoá cũng đang thực
4. Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu.
4.1. Nguồn tài liệu.
Nghiên cứu về mô hình đặc khu kinh tế ở Trung Quốc, tôi chủ yếu
dựa vào các sách viết về Trung Quốc đã đợc xuất bản trong thời gian gần
đây và một số bài viết trên các tạp chí chuyên ngành.
4.2. Phơng pháp nghiên cứu.
Đề tài này chủ yếu tập trung vào lĩnh vực kinh tế của Trung Quốc
trong hơn 20 năm trở lại đây, vì thế tôi chủ yếu sử dụng phơng pháp lịch
sử và phơng pháp thống kê. Bên cạnh đó, tôi còn sử dụng các phơng pháp
tổng hợp, phơng pháp logic, phơng pháp so sánh để phân tích vấn đề và rút ra
kết luận.
5. Bố cục của khoá luận.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
của khoá luận gồm 3 chơng:
Chơng 1: Khái quát về công cuộc cải cách ở Trung Quốc.
Chơng 2: Mô hình đặc khu kinh tế ở Trung Quốc
Chơng 3:
Một số nhận xét bớc đầu về mô hình đặc khu kinh tế ở
Trung Quốc.
Thực hiện đề tài này do hạn chế về t liệu, thời gian và nhất là do năng
lực cá nhân, nên chắc chắn còn nhiều thiếu sót và khiếm khuyết, tôi mong
muốn nhận đợc sự hớng dẫn, góp ý của thầy cô và bạn bè đồng nghiệp để
đề tài đợc hoàn thiện hơn.
8
Phần 2: nội dung
[13;19]. Chính điều đó đã bớc đầu thể hiện đợc tính u việt của chế độ mới
ở Trung Quốc.
Tuy nhiên trong giai đoạn này, Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng đã
mắc phải một số khuyết điểm. Công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa hoàn
thành một cách vội vàng, khiên cỡng, không tôn trọng nguyên tắc tự
nguyện; xây dựng chủ nghĩa xã hội rập khuôn, mô phỏng cứng nhắc mô
hình của Liên Xô; sự sùng bái cá nhân, tập trung quyền lực, thiếu dân chủ
đã tới mức trầm trọng và bộc lộ rõ rệt.
Năm 1957, Trung Quốc bớc vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội
một cách đại quy mô. Trong vòng mời năm kể từ năm 1956, nền kinh tế
Trung Quốc có những tăng trởng đáng kể. Riêng tài sản cố định của nền
công nghiệp trong cả nớc tăng gấp 3 lần. Có thể nói, những cơ sở vật chất
và kỹ thuật mà Trung Quốc đã có trớc khi thực hiện cải cách phần nhiều
đợc xây dựng trong thời kỳ này. Nhng cũng trong thời kỳ này, Mao Trạch
Đông đa ra đờng lối chung xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc là
"dốc lòng hăng hái, tranh thủ vơn lên hàng đầu, xây dựng chủ nghĩa xã
hội nhiều, nhanh, tốt, rẻ"[13;19]. Để thực hiện đờng lối đó, Đảng Cộng
sản Trung Quốc đã phát động cao trào "Đại nhảy vọt" và "Công xã nhân
dân". Chủ tịch Mao Trạch Đông đã chủ trơng tăng vọt các chỉ tiêu của kế
hoạch 5 năm lần thứ hai lên nhiều lần. Về mặt công nghiệp, Chủ tịch Mao
Trạch Đông đặt vấn đề "chúng ta phải bằng bất cứ giá nào trong vòng 3
năm, 5 năm hoặc 7 năm biến tổ quốc chúng ta thành một cờng quốc công
nghiệp"[13;20]. Để làm đợc điều đó, ở Trung Quốc đã dấy lên phong trào
"toàn dân làm công nghiệp, toàn dân làm gang thép". ở nông thôn, trong
các công xã nhân dân, thực hiện chế độ phân phối bình quân và bao cấp
"cộng sản chủ nghĩa". Mỗi công xã nhân dân là một đơn vị sản xuất đóng
kín tự cấp, tự túc, thiếu hẳn mối liên hệ kinh tế theo chiều ngang. Các cơ
quan tuyên truyền cũng ra sức cổ vũ nhân dân "khổ chiến 3 năm, hạnh
phúc muôn đời". Tuy nhiên, sự nóng vội, duy ý chí, bất chấp quy luật
sự ra đời của công cuộc cải cách ở Trung Quốc có sự tác động sâu sắc của
tình hình thế giới.
Vào nửa cuối thập kỷ 70, sự phát triển của tình hình thế giới và trớc
hết là của cộng đồng các nớc xã hội chủ nghĩa mới dẫn đến sự nhận thức
13
rộng rãi và phổ biến trong nhiều Đảng Cộng sản ở các nớc xã hội chủ
nghĩa về tính tất yếu và toàn diện của công cuộc cải cách. Sự nhận thức
nh vậy cha thể xảy ra vào thập kỷ 40 và đầu thập kỷ 50. Lúc đó, cả thế
giới ở trong thời đại chiến tranh và cách mạng, các nớc t bản chủ nghĩa
lâm vào tình trạng khó khăn và khủng hoảng, còn các nớc xã hội chủ
nghĩa thì phát triển với một khí thế mạnh mẽ. Thể chế xã hội chủ nghĩa
với đặc điểm là tập trung quyền lực và có tổ chức chặt chẽ từ trên xuống dới rất phù hợp với thời kỳ này và đã tỏ rõ đợc u thế và sức mạnh của chế
độ xã hội chủ nghĩa so với chế độ t bản chủ nghĩa. Vào thời kỳ này những
u điểm của chế độ xã hội chủ nghĩa đã lôi cuốn và thu hút sự chú ý của
mọi ngời. Do đó, ngời ta ít quan tâm đến những nhợc điểm về mặt thể chế
của chủ nghĩa xã hội.
Cuối thập kỷ 50 và bớc vào thập kỷ 60 (TK XX), những nhợc điểm về
mặt thể chế kinh tế của chủ nghĩa xã hội đã bộc lộ trên một số khía cạnh.
Do đó, ở nhiều nớc xã hội chủ nghĩa đã tiến hành một số cải cách trên lĩnh
vực kinh tế. Trong công cuộc cải cách này, sự trao đổi hàng hoá và tác
dụng của tiền tệ đợc tăng cờng, hình thức quản lý theo kế hoạch đợc cải
tiến, quyền tự chủ của xí nghiệp đợc mở rộng... Riêng ở Liên Xô thì chú
trọng cải tiến kế hoạch, điều chỉnh các chỉ tiêu của kế hoạch pháp lệnh,
tăng cờng thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động và kích thích vật
chất đối với việc tăng cờng năng suất lao động. ở Nam T, thực hiện mở
cửa cả với các nớc t bản, thả nổi giá hàng trên thị trờng, bãi bỏ kế hoạch
pháp lệnh, cho xí nghiệp quyền tự chủ, cởi bỏ phần lớn quyền lực hành
chính... Còn cải cách ở Hunggari, năm 1968 cũng bãi bỏ kế hoạch pháp
ngày càng căng thẳng tới mức đã xảy ra những cuộc đụng độ lớn ở biên
giới (1969). Còn đối với Mỹ và các nớc t bản công nghiệp khác, Trung
Quốc chuyển sang bắt tay thân thiện. Việc Ních - Xơn đến thăm Trung
Quốc vào đầu thập kỷ 70 đã mở ra một thời kỳ mới trong quan hệ Trung Mỹ. Mục tiêu chính của chính sách mở cửa nhằm phục vụ cho công cuộc
cải cách ở Trung Quốc là nhập khẩu tiền vốn và kỹ thuật của các nớc t bản
15
phát triển, trớc hết là của Mỹ và Nhật. Trung Quốc phải làm sao sử dụng
đợc những nguồn tiền vốn và kỹ thuật đó vào sự tăng trởng kinh tế của đất
nớc một cách có hiệu quả.
Có thể nói, sau cuộc "Đại cách mạng văn hoá", xã hội Trung Quốc
đặt ra yêu cầu cấp thiết là chỉ có thể thực hiện công cuộc cải cách một
cách toàn diện và triệt để cả về kinh tế lẫn chính trị thì mới làm cho chủ
nghĩa xã hội tồn tại và phát triển. Tình hình ở đại lục Trung Quốc và tình
hình thế giới trong các thập kỷ 60 và 70 (TK XX), đã làm cho Đảng Cộng
sản và nhân dân Trung Quốc nhận rõ tính tất yếu và bức thiết của công
cuộc cải cách. Đồng thời sự phát triển, cải cách và tăng trởng của nhiều nớc trên thế giới cũng đã gợi ý và cổ vũ Đảng Cộng sản Trung Quốc bắt
tay vào tiến hành cải cách trên đất nớc mình.
1.2. Vài nét khái quát về công cuộc cải cách - mở cửa ở
Trung Quốc.
1.2.1. Hội nghị Trung ơng 3 khoá XI của Đảng Cộng sản Trung
Quốc.
Công cuộc cải cách ở Trung Quốc đợc mở đầu bằng giải phóng t tởng,
chuyển trọng điểm công tác xây dựng kinh tế và dốc lòng thực hiện bốn
hiện đại hoá. Điều đó đợc nêu ra nh là chủ đề của Hội nghị công tác Trung
ơng và Hội nghị Trung ơng 3 khoá XI của Đảng Cộng sản Trung Quốc,
họp vào tháng 12 năm 1978. (Chính vì vậy Hội nghị này đợc coi là sự kiện
mở đầu cho công cuộc cải cách mở cửa ở trung Quốc).
pháp t tởng "thực sự cầu thị", tất cả xuất phát từ thực tế, lí luận lên hệ với
thực tiễn. Hội nghị đã phê phán "chủ nghĩa hai phàm là", đánh giá cao
quan điểm lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn để kiểm nghiệm chân lý, cho rằng
phải nhận thức và nắm vững t tởng Mao Trạch Đông một cách hoàn chỉnh,
gắn với những điều kiện lịch sử cụ thể phát triển qua từng giai đoạn.
Về tổ chức, Hội nghị đã chủ trơng kiện toàn chế độ tập trung dân
chủ, củng cố kỷ cơng trong Đảng, phản đối tuyên truyền sùng bái cá nhân,
17
tăng cờng lãnh đạo tập thể, chủ trơng mọi cán bộ và đảng viên đều bình
đẳng trớc kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nớc.
Về đờng lối kinh tế, Hội nghị đã quyết định phải áp dụng một loạt
các biện pháp mạnh nhằm khắc phục tình trạng mất cân đối nghiêm trọng
của nền kinh tế quốc dân; thực sự cải cách cơ chế quản lý kinh tế quyền
lực quá tập trung; thực hiện chính sách mở cửa kinh tế đối ngoại; tăng cờng công tác phát triển khoa học giáo dục phục vụ hiện đại hoá đất nớc.
Hội nghị đồng ý về nguyên tắc việc bố trí kế hoạch kinh tế quốc dân hai
năm 1979 và 1980; đồng ý phổ biến "Quyết định của Trung ơng Đảng
Cộng sản Trung Quốc về mấy vấn đề đẩy mạnh phát triển nông
nghiệp"(dự thảo) và "Điều lệ công tác công xã nhân dân nông thôn"(dự
thảo) xuống các tỉnh, thành, khu tự trị để thảo luận và làm thử.
Về pháp chế, Hội nghị cũng đã phân tích tình trạng pháp luật thiếu
kiện toàn và bị coi thờng trớc đó, cho rằng muốn bảo đảm quyền dân chủ
của nhân dân thì phải tăng cờng pháp chế xã hội chủ nghĩa để nền dân chủ
đợc thể chế hoá và đợc ổn định lâu dài. Mục tiêu đề ra là chấp hành pháp
luật phải nghiêm, vi phạm pháp luật phải truy cứu xử lý, mọi ngời đều
bình đẳng trớc pháp luật, không cho phép bất cứ ai có đặc quyền vợt lên
trên pháp luật.
Hội nghị Trung ơng 3 khoá XI là một sự kiện lịch sử quan trọng đối
với Đảng Cộng sản Trung Quốc và là một mốc quan trọng trong quá trình
đều tăng GNP lên gấp đôi. Bớc ba là nửa đầu thế kỷ XXI, tăng gấp 4 lần
GNP năm 2000, cơ bản hoàn thành công cuộc hiện đại hoá đất nớc, đa
GNP bình quân đầu ngời lên khoảng 4000 USD.
Công cuộc cải cách thể chế kinh tế tuy thu đợc nhiều thành tựu đáng
kể, song cũng đã bộc lộ nhiều yếu kém, tiêu cực. Đảng Cộng sản Trung
Quốc đã sớm nhận ra điều đó, nên trong ba năm (1989- 1991) đã tiến hành
"chữa trị, chỉnh đốn".
Từ 1992, công cuộc cải cách thể chế kinh tế ở Trung Quốc chuyển
sang giai đoạn mới, theo hớng kinh tế thị trờng xã hội chủ nghĩa, mở đầu
19
bằng Đại hội XIV Đảng Cộng sản Trung Quốc. Chuyển sang giai đoạn
này, lí luận về xây dựng "chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc" đã
đợc hệ thống hoá, mục tiêu cải cách kinh tế đã đợc xác định là nhằm xây
dựng thể chế "kinh tế thị trờng xã hội chủ nghĩa". Từ sau Đại hội XIV đến
nay, công cuộc cải cách thể chế kinh tế ở Trung Quốc không ngừng đợc
đẩy mạnh và đã thu đợc những thành tựu đáng kể.
Sau hơn 1/4 thế kỷ tiến hành cải cách, kinh tế Trung Quốc đã có
những bớc nhảy vọt "thần kỳ": tốc độ tăng trởng kinh tế luôn đạt ở mức
cao, GNP bình quân trong những năm (1978- 1998) là 9,8%. Theo tài liệu
do Ngân hàng thế giới công bố, năm 1997, GNP của Trung Quốc đứng thứ
bảy trên thế giới [11;556]. Trung Quốc hiện là nớc buôn bán lớn thứ t thế
giới và thu hút vốn đầu t nớc ngoài. Từ 1979 đến nay, tổng sản phẩm quốc
nội (GDP) đã tăng từ 362,4 tỷ USD lên 1,19 nghìn tỷ USD và sẽ tăng gấp
đôi trong mời năm tới. Năm 2003, GDP tăng 9,1% [12;353]. Mức sống
của ngời dân cũng đợc nâng cao rõ rệt. Trớc cải cách có khoảng 40% nông
dân Trung Quốc thuộc diện nghèo đói, nhng từ 1978 đến 1997, thu nhập
bình quân đầu ngời hàng năm của c dân nông thôn Trung Quốc đã tăng từ
133,6 NDT lên 2090,1 NDT, khấu trừ nhân tố tăng giá thu nhập thực tế
Cộng sản Trung Quốc công bố hai bài phát biểu của Chủ tịch Đặng Tiểu
Bình là "Bài nói trong Hội nghị công tác Trung ơng mở rộng" tháng 2 năm
1962 và bài "Cải cách thể chế lãnh đạo của Đảng và Nhà nớc" tháng 8
năm 1980. Tháng 11 năm 1986, Ban chấp hành Trung ơng Đảng Cộng
sản Trung Quốc đã thành lập nhóm lãnh đạo cải cách thể chế chính trị để
vạch kế hoạch hành động.
Sau Đại hội XIII, cải cách thể chế chính trị ở Trung Quốc tiếp tục đợc
tiến hành nhng vẫn còn chậm và kết quả thu đợc còn hạn chế. Cụ thể là
mới xác định rõ thêm một bớc chức năng giữa Đảng và chính quyền ở cấp
trung ơng và địa phơng; thực hiện sự tách Đảng và chính quyền ở xí
nghiệp. Về cải cách chế độ nhân sự, ngoài việc thực hiện chủ trơng xây
dựng một đội ngũ cán bộ "cách mạng hoá, trẻ hoá, trí thức hoá", thì nhiều
21
chế độ và qui định tiếp tục đợc tiến hành nghiên cứu. Việc mở rộng dân
chủ đợc tuyên truyền khá mạnh nhng thực tế làm còn chậm, cho rằng đó là
vấn đề phức tạp và cần phải thận trọng.
Hội nghị Trung ơng 6 khoá XIV Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã ra
nghị quyết tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng "văn minh, tinh thần XHCN",
cụ thể Nghị quyết đã xác định rõ hơn về t tởng chỉ đạo, mục tiêu, nhiệm
vụ, phơng châm cơ bản và những giải pháp lớn.
Sau Đại hội lần thứ XV (tháng 9 năm 1997) của Đảng Cộng sản
Trung Quốc, công cuộc cải cách thể chế chính trị tiếp tục đợc triển khai.
Đại hội XV đã khẳng định lí luận Đặng Tiểu Bình, đặt ngang tầm với chủ
nghĩa Mác- Lênin và t tởng Mao Trạch Đông: Cơng lĩnh của Đảng khẳng
định "Đảng Cộng sản Trung Quốc lấy chủ nghĩa Mác- Lênin, t tởng Mao
Trạch Đông, lí luận Đặng Tiểu Bình làm kim chỉ nam hành động của
mình" [12;279]
Hơn 28 năm qua, công cuộc cải cách thể chế kinh tế và thể chế chính
việc "khoán sản phẩm đến hộ" đã mang lại hiệu quả rất tốt. Do vậy tháng
9 năm 1980, Trung ơng Đảng ra văn kiện chính thức định danh cho chế độ
"khoán sản phẩm đến hộ".
Với chính sách "khoán", ruộng đất đợc chia đến từng hộ nông dân,
đến vụ thu hoạch ngoài số thuế lơng thực phải đóng cho Nhà nớc, nông
dân có toàn quyền quyết định đối với những nông sản còn lại của mình.
Bằng cách giảm dần khối lợng và danh mục thu mua, Nhà nớc giảm bớt sự
kiểm soát trực tiếp đối với sản xuất nông nghiệp và tạo điều kiện cho quan
hệ hàng hoá, tiền tệ tự do phát triển hơn. "Khoán sản phẩm đến hộ" đợc
ngời nông dân nhiệt liệt ủng hộ và thực tế là từ sau khi áp dụng chính sách
"khoán", nông nghiệp đã ổn định và bớc đầu phát triển. Sau 15 năm cải
cách, giá trị sản lợng nông nghiệp từ 101,8 tỷ NDT tăng lên 574,4 tỷ NDT,
bình quân mỗi năm tăng 5,2 lần [12;355].
Sự thành công của chính sách "khoán'' ở nông thôn đã tạo cơ sở cho
việc cải cách thể chế kinh tế ở thành thị, mà trớc tiên là trong các xí
nghiệp công hữu. Trung Quốc đã tiến hành mở rộng quyền tự chủ của các
xí nghiệp, tách quyền sở hữu ra khỏi quyền kinh doanh, biến các xí nghiệp
23
thành các đơn vị kinh doanh tơng đối độc lập tự chủ, thực hiện bảy quyền
của xí nghiệp: quyền lập kế hoạch sản xuất; quyền mua bán sản phẩm;
quyền định giá; quyền sử dụng vốn; quyền tính lơng, thởng; quyền liên
hiệp kinh tế chiều ngang và quyền tuyển dụng lao động. Sự quản lý của
Nhà nớc đối với các xí nghiệp đã từ chỗ điều khiển trực tiếp sang điều
khiển gián tiếp, nặng về vận dụng chính sách kinh tế và pháp luật để
khống chế và điều tiết sự vận hành kinh tế.
Cái hay của quyền tự chủ là làm cho ngời sản xuất có đợc ý thức về
mình trong trách nhiệm và lợi ích. Ngời sản xuất có quyền tự chủ kinh
doanh cũng sẽ chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của mình. Có đợc cái ý thức về bản thân mình, ngời sản xuất sẽ tìm trăm phơng ngàn kế
công nghiệp, tài chính, thành phần kinh tế quốc doanh chiếm u thế; trong
dịch vụ và thơng nghiệp thành phần kinh tế t nhân và tập thể giữ vai trò lớn.
Nhìn chung, tỷ trọng sản xuất và lu thông của khu vực kinh tế phi quốc
doanh trong nền kinh tế quốc dân đang tăng lên. Nhà nớc cũng khuyến
khích quan hệ hợp tác kinh tế giữa những xí nghiệp thuộc những thành phần
kinh tế khác nhau, mặt khác các khu vực kinh tế đợc phép cạnh tranh lành
mạnh với nhau, chẳng hạn các cửa hàng quốc doanh, tập thể, t nhân cạnh
tranh về chất lợng phục vụ, giá cả, nguồn hàng...
Sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế là tiền đề cần thiết để làm cho
kinh tế sống động, "là làm sống động chủ nghĩa xã hội, không hại gì đến
bản chất của chủ nghĩa xã hội" [8;283]. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã
rất đúng đắn trong việc cho phép nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại,
bởi vì nó không có hại mà chỉ có lợi cho chủ nghĩa xã hội, thậm chí lợi
nhiều hơn hại. Kinh tế cá thể có thể giải quyết công ăn, việc làm cho một
số lớn ngời. Ngoài ra rất nhiều việc nhỏ về lu thông trong chủ nghĩa xã hội
cũng cần đến kinh tế t doanh cá thể. Các xí nghiệp chung vốn với nớc
ngoài hoặc 100% vốn nớc ngoài, chủ nghĩa xã hội cũng thu đợc lợi từ thuế
và sử dụng lao động, còn có thể học từ đó kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý
tiên tiến...
Với chính sách này, nền kinh tế Trung Quốc đợc tiếp thêm sinh lực,
trở thành nền kinh tế năng động và có mức tăng trởng cao. Chính điều đó
25