BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ ĐĂNG ANH
(Qua kh¶o s¸t mét sè trêng TCCN ë NghÖ An)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
2
VINH - 2010
B GIO DC V O TO
TRNG I HC VINH
Lấ NG ANH
(Qua khảo sát một số trờng TCCN ở Nghệ An)
LUN VN THC S KHOA HC GIO DC
Chuyên ngành: Lý luận và PPDH bộ môn giáo dục Chính trị
Mã số: 60.14.10
Ngi hng dn khoa hc:
TS. NGUYN THI SN
PBCDV :
Phép biện chứng duy vật
TCCN
Trung cấp chuyên nghiệp
:
MỤC LỤC
Trang
A. MỞ ĐẦU..........................................................................................1
B. NỘI DUNG.......................................................................................8
Chương 1: Phép biện chứng duy vật và vai trò của nó đối với với
việc hình thành phương pháp nhận thức khoa học cho học
sinh trung cấp chuyên nghiệp....................................................8
1.1. Phép biện chứng và Phép biện chứng duy vật..............................8
1.2. Những nội dung cơ bản của PBCDV trong chương trình môn học
Chính trị ở trường trung cấp chuyên nghiệp...............................19
1.3. Vai trò của Phép biện chứng duy vật đối với quá trình xây
dựng phương pháp nhận thức khoa học cho học sinh trung cấp
chuyên nghiệp............................................................................22
1.4. Thực trạng vận dụng những nội dung cơ bản của phép biện
chứng duy vật vào việc xây dựng phương pháp nhận thức khoa
học cho học sinh.........................................................................44
Chương 2: Thực nghiệm và một số giải pháp nhằm vận dụng những
nội dung cơ bản của PBCDV vào việc xây dựng phương pháp
Được sự quan tâm của toàn Đảng, toàn dân, trong những năm gần đây
ngành Giáo dục và Đào tạo đã có nhiều khởi sắc, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại
nhiều yếu kém và hạn chế. Vấn đề cấp bách nhất hiện nay là đổi mới mạnh mẽ,
toàn diện nội dung và phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ
một chiều, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện dạy
học hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự
nghiên cứu cho học sinh, sinh viên, đặc biệt là rèn luyện nếp tư duy sáng tạo và
xây dựng phương pháp nhận thức khoa học cho người học.
Từ trước đến nay, vấn đề nhận thức luôn là một trong những bộ phận
cơ bản của khoa học triết học. Lý luận nhận thức của Chủ nghĩa Mác - Lênin
khẳng định và chỉ rõ về khả năng nhận thức của con người, về sự xuất hiện và
phát triển của nhận thức cũng như về con đường, phương pháp nhận thức
đúng đắn… Hiện tại, vấn đề nhận thức khoa học vẫn đang tiếp tục được
9
nghiên cứu, bổ sung và phát triển nhằm giúp con người ngày càng hoàn thiện
hơn những tri thức của mình về bức tranh thế giới hiện thực để tiến gần hơn
đến chân lý.
Môn Chính trị ở trường trung cấp chuyên nghiệp là một khoa học. Môn
học này cung cấp một hệ thống hoàn chỉnh những tri thức khoa học chính trị
được tích hợp từ các môn khoa học chính trị cụ thể như: Triết học Mác - Lênin,
Kinh tế chính trị học Mác - Lênin, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Tư tưởng Hồ
Chí Minh và Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong đó,
những nội dung thuộc lĩnh vực triết học (cụ thể là nững nội dung của PBCDV)
được chương trình cơ cấu ở phần đầu tiên nhằm mục đích cung cấp thế giới
quan và phương pháp nhận thức khoa học cho HS từ đó làm nền tảng để tiếp
thu những tri thức khác thuộc các khoa học chính trị, những tri thức chuyên
ngành và cao hơn là chỉ đạo mọi hoạt động thực tiễn của HS. PBCDV là khoa
học trong đó bao gồm hệ thống tri thức chung nhất, khái quát nhất của con
Nội 1987. Công trình đề cấp nhiều đến những vấn đề cốt lõi của triết học duy
vật biện chứng, vấn đề nhận thức luận và các phương pháp biện chứng để
nhận thức thế giới; lý luận và phương pháp nhận thức biện chứng; phương
pháp biện chứng và các phương pháp nhận thức chuyên môn, khoa học
chung; tính quy luật liên hệ lẫn nhau giữa các hình thức tư duy theo phương
pháp biện chứng.
- Trần Viết Quang "Giảng dạy triết học với việc bồi, rèn luyện năng
lực tư duy biện chứng cho sinh viên sư phạm ở nước ta hiện nay", Luận án
tiến sĩ; GS.TSKH. Nguyễn Cảnh Toàn, (1997) Phương pháp luận duy vật
biện chứng với việc học, dạy và nghiên cứu toán học", Nxb Đại học quốc gia
Hà Nội; TS. Nguyễn Đình Trãi - Luận án tiến sĩ: "Nâng cao năng lực tư duy
lý luận cho cán bộ giảng viên lý luận Mác - Lênin ở các trường Chính trị
tỉnh"; Vũ Văn Viên: "Rèn luyện, nâng cao năng lực tư duy khoa học cho sinh
11
viên, học sinh", Tạp chí Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, số 2/1992;
Nguyễn Thanh Hưng "Góp phần rèn luyện và phát triển tư duy biện chứng
thông qua dạy học hình học ở trường trung học phổ thông", Luận văn thạc sĩ
Khoa học Giáo dục, Trường Đại học Vinh, 2003; Hoàng Thúc Lân: “Giảng
dạy triết học Mác - Lênin với viện nâng cao năng lực tư duy biện chứng cho
sinh viên các trường đại học", Luận văn thạc sĩ triết học, Học Viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội 2004,... Các công trình đã tập trung phân tích
sự cần thiết rèn luyện tư duy khoc học cho học sinh trung học phổ thông và
sinh viên cao đẳng, đại học. Các công trình này cũng nhấn mạnh vai trò của
triết học Mác - Lênin và các khoa học cụ thể trong việc rèn luyện, bồi dưỡng
tư duy cho học sinh, sinh viên.
Như vậy, do tầm quan trọng của vấn đề, từ rất lâu trong lịch sử các nhà
khoa học cả trong nước và trên thế giới đã quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu.
Nhìn chung các tác giả đã đi sâu phân tích, làm rõ quá trình hình thành, phát
trường trung cấp chuyên nghiệp trên địa bàn thành phố Vinh - Nghệ An.
- Đề tài tiến hành thực nghiệm sư phạm tại Trường trung cấp Kinh tế
Kỹ thuật Công nghệ Việt - Anh, thành phố Vinh, Nghệ An.
- Đề xuất các giải pháp nhằm vận dụng có hiệu quả những nội dung cơ
bản của PBCDV vào việc xây dựng phương pháp nhận thức khoa học cho HS
trường trung cấp chuyên nghiệp hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Khai thác và vận dụng những nội dung cơ bản của phép biện chứng duy
vật vào việc xây dựng phương pháp nhận thức khoa học cho học sinh thông qua
việc giảng dạy bộ môn Chính trị ở trường trung cấp chuyên nghiệp hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài không nghiên cứu những nội dung của PBCDV mà tập trung
khai thác nhằm vận dụng những nội dung cơ bản của PBCDV trong chương
13
trình môn Chính trị ở trường trung cấp chuyên nghiệp để xây dựng phương
pháp nhận thức khoa học cho học sinh.
- Đề tài tập trung nghiên cứu những giải pháp nhằm xây dựng phương
pháp nhận thực khoa học dành riêng cho học sinh trung cấp chuyên nghiêp
(không áp dụng cho sinh viên Đại học và Cao đẳng)
- Đề tài tiến hành khảo sát thực trạng giảng dạy và học tập môn Chính
trị nói chung việc vận dụng những nội dung cơ bản của PBCDV trong việc
xây dựng phương pháp nhận thức khoa học cho học sinh nói riêng ở các
trường trung cấp chuyên nghiệp trên địa bàn thành phố Vinh - Nghệ An. Đề
tài tiến hành thực nghiệm sư phạm tại Trường trung cấp Kinh tế Kỹ thuật
Công nghệ Việt - Anh, thành phố Vinh, Nghệ An.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp biện chứng: Đề tài sử dụng các phương pháp trừu tượng
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, mục lục và tài liệu tham khảo,
nội dung của luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Phép biện chứng duy vật và vai trò của nó đối với với
việc hình thành phương pháp nhận thức khoa học cho học sinh trung cấp
chuyên nghiệp
Chương 2: Thực nghiệm và một số giải pháp vận dụng những nội dung
cơ bản của PBCDV vào việc xây dựng phương pháp nhận thức khoa học cho
HS trường TCCN hiện nay.
15
B. NỘI DUNG
Chương 1
PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ
ĐỐI VỚI VIỆC HÌNH THÀNH PHƯƠNG PHÁP NHẬN THỨC
KHOA HỌC CHO HỌC SINH TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP
1.1. Phép biện chứng và Phép biện chứng duy vật
1.1.1. Phép biện chứng
- Khái niệm phép biện chứng
Biện chứng trong triết học Mác - Lênin là khái niệm dùng để chỉ những
mối liên hệ, tương tác, chuyển hóa phản ánh sự tồn tại, vận động và phát triển
theo qui luật của các sự vật, hiện tượng, quá trình trong tự nhiên, xã hội và tư
duy. Biện chứng bao gồm biện chứng khách quan (biện chứng của thế giới vật
chất) và biện chứng chủ quan (là sự phản ánh biện chứng khách quan trong
hoạt động tinh thần của con người). Như vậy, thế giới vật chất là vô hạn,
nhưng lại được thể hiện thông qua vô số các sự vật, hiện tượng, quá trình hữu
hạn. Trong thế giới đó, mỗi sự vật, hiện tượng vừa độc lập, tách biệt tương
đối vừa liên hệ qua lại với nhau, luôn biến đổi, phát triển không ngừng; thế
giới tưởng chừng như một mớ hốn độn các sự vật hiện tượng ngẫu nhiên
Phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin.
+ Phép biện chứng chất phác cổ đại là hình thức đầu tiên của phép biện
chứng trong lịch sử triết học. Phép biện chứng này xuất hiện và phát triển
trong các trường phái triết học Trung Quốc, Ấn Độ, và Hy Lạp cổ đại.
Tư tưởng biện chứng của các nhà triết học Trung hoa cổ đại được thể
hiện rất đặc sắc ở “Biến dịch luận” (học thuyết về những nguyên lý, qui luật
phổ biến trong vũ trụ là Thái dương - Thái âm trong Thái cực) và “Ngũ hành
luận” (học thuyết về những nguyên tắc tương tác, biến đổi của các tố chất bản
thể trong vũ trụ là Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ) của Âm dương gia. Theo
17
các học thuyết này thì Âm Dương - Ngũ hành là hai phạm trù cơ bản, là
những khái niệm có tính khái quát, trừu tượng đầu tiên trong quan niệm của
cổ nhân về sự sản sinh, biến hoá của vũ trụ. Đây cũng là một bước tiến bộ,
hình thành quan niệm duy vật và biện chứng sơ khai về vũ trụ của người trung
Hoa cổ đại.
Tư tưởng triết học về Ngũ hành có xu hướng phân tích cấu trúc của vạn
vật và quy nó về những yếu tố khởi nguyên với những tính chất khác nhau,
nhưng tương tác với nhau. Năm yếu tố này không tồn tại biệt lập tuyệt đối mà
trong một hệ thống ảnh hưởng sinh - khắc với nhau theo các nguyên tắc
“tương sinh” và “tương khắc”. Tương sinh (sinh hoá cho nhau): Thổ sinh
Kim; Kim sinh Thủy; Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hoả, Hoả sinh Thổ, v.v…
“Ngũ hành tương sinh” là quá trình các yếu tố tác động, chuyển hoá cho nhau,
tạo ra sự biến chuyển liên hoàn trong vũ trụ. Đất sinh ra các thể rắn biến thành
kim loại. Kim loại nóng chảy sinh ra nước. Thủy là nguồn gốc của sự sống
của gỗ. Gỗ cháy sinh ra lữa. Lửa thiêu cháy mọi sinh vật sinh ra đất, v.v…
Tương khắc (chế ước lẫn nhau): Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hoả, Hoả
khắc Kim, Kim khắc Mộc, và Mộc khắc Thổ, v.v… “Ngũ hành tương khắc”
là quá trình các yếu tố ngũ hành đối lập, tạo ra sự ràng buộc chế ước lẫn nhau
hiện trong triết học Hy Lạp cổ đại, cụ thể là thông qua hệ thống triết học
Arixtốt về các hình thức của tư duy biện chứng hoặc của Hêracơlít về sự tồn
tại, vận động và biến đổi của các sự vật và hiện tượng,… thừa nhận sự tồn tại
của sự vật, hiện tượng thông qua những mối liên hệ, sự vận động, sự thay đổi,
chuyển hoá cho nhau. Với những cống hiến to lớn của các nhà triết học Hy
Lạp cổ đại, Ăngghen đã đánh giá: “Những nhà triết học Hy Lạp cổ đại đều là
những nhà biện chứng tự phát, bẩm sinh và Arixtốt, bộ óc bách khoa nhất
trong các nhà triết học ấy cũng đã nghiên cứu những hình thức căn bản nhất
của tư duy biện chứng... cái thế giới ban đầu, ngây thơ, nhưng xét về thực
19
chất thì đúng đó là thế giới quan của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại và lần
đầu tiên đã được Hêraclít trình bày một cách rõ ràng: mọi vật đều tồn tại đồng
thời lại không tồn tại, vì mọi vật đang trôi đi, mọi vật đều không ngừng thay
đổi, mọi vật đều không ngừng phát sinh và tiêu vong” [21; 34-35]. Phép biện
chứng cổ đại là phép biện chứng nguyên thủy, ngây thơ, cơ bản đã nhận thức
đúng về tính biện chứng của thế giới nhưng bằng trực giác, chất phác, chưa
đạt đến kết quả của những sự nghiên cứu và thực nghiệm khoa học. Hạn chế
đó do nhiều nguyên nhân, nhưng trong đó phải nói đến tính lịch sử của sự
phát triển khoa học thời kỳ này.
+ Phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức của các nhà triết học duy tân,
tiêu biểu là Cantơ và Hêghen. Lần điều tiên Phép biện chứng được các nhà
triết học trình bày một cách có hệ thống với nội dung và hình thức phong
phú. Về hình thức Phép biện chứng của Hêghen đã bao quát cả ba lĩnh vực
logic thuần túy, biện chứng tự nhiên và biện chứng lịch sử. Về nội dung,
Hêghen chia phép biện chứng của mình thành tồn tại (cái vỏ bên ngoài, trực
tiếp, con người có thể cảm giác và được cụ thể hóa bằng các phạm trù
“chất”, “lượng” và “độ” ), bản chất (tầng gián tiếp của thế giới, không thể
cảm giác, được thể hiện trong các cặp phạm trù “hiện tượng - bản chất”, “nội
về lịch sử” [19; 22]. Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa thế
giớ quan duy vật và phương pháp luận biện chứng, giữa lý luận nhận thức và
với logic biện chứng. Sự ra đời của PBCDV là cuộc cách mạng rong phương
pháp tư duy triết học, đây là phương pháp tư duy khác về chất so với phương
pháp tư duy siêu hình trước đây.
Với những khía cạnh khác nhau, PBCDV đã được các nhà sáng lập ra
nó định nghĩa ở những góc độ khác nhau. Khi nhấn mạnh vai trò của mối liên
hệ phổ biến, Ph.Ăngghen định nghĩa “Phép biện chứng là khoa học về sự liên
hệ phổ biến” [19; 451] và khi nhấn mạnh vai trò của các qui luật Ông khẳng
21
định “Phép biện chứng... là môn khoa học về những qui luật phổ biến của sự
vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy” [19;
201]; còn khi nhấn mạnh vai trò của nguyên lý về sự phát triển, V.I.Lênin
khẳng định: “Phép biện chứng là học thuyết về sự phát triển dưới hình thức
hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiếm diện, học thuyết về tính tương đối
của nhận thức của con người, nhận thức này phản ánh vật chất luôn phát triển
không ngừng” [20; 53]. Từ những định nghĩa của các nhà kinh điển, có thể
kết luận: PBCDV là học thuyết về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển; về
những qui luật chung nhất của sự vận động, phát triển của giới tự nhiên, xã
hội và tư duy.
- Lịch sử hình thành, phát triển và đặc trưng của Phép biện chứng
duy vật
* Vài nét về lịch sử hình thành, phát triển của Phép biện chứng duy vật:
vào những năm 40 của thế kỷ XIX, PBCDV đã được C.Mác và Ph.Ăngghen
sáng lập nên, sau đó được Lênin phát triển và hoàn thiện vào đầu thế kỷ XX.
Tuy nhiên, cần phải thấy rằng sự hình thành thế giới quan duy vật biện chứng
của C.Mác và Ph.Ăngghen là một quá trình đầy khó khăn, phức tạp, dựa trên
các tiền đề kinh tế - xã hội, tiền đề lý luận và tiền đề khoa học tự nhiên.
Sự hình thành thế giới quan duy vật biện chứng của Mác và Ăngghen là
một quá trình phát triển không ngừng. Từ cuối năm 1843 đến năm 1848 đánh
dấu bước chuyển của C.Mác và Ph.Ăngghen từ lập trường của chủ nghĩa duy
tâm sang lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng với tác phẩm “Góp
phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen, lời nói đầu” vào cuối năm
1843. Tác phẩm chứa đựng nhiều tư tưởng duy vật biện chứng sâu sắc. Cuối
năm 1844, C.Mác và Ph.Ăngghen viết chung tác phẩm “Gia đình thần
thánh”, “Chống Brunô Bauơ và đồng bọn”. Trong đó, lần đầu tiên C.Mác và
Ph.Ăngghen trình bày những nguyên lý của triết học duy vật biện chứng và
23
duy vật lịch sử. Mùa xuân năm 1845, Mác viết tác phẩm “Luận cương về
Phơbách”, qua đó C.Mác phê phán những thiếu sót của chủ nghĩa duy vật
Phơbách cũng như những thiếu sót của chủ nghĩa duy vật trước Mác nói
chung. Đó là sự phê phán có tính kế thừa của Mác để tiến đến chủ nghĩa duy
vật mới - chủ nghĩa duy vật biện chứng. Năm 1845 - 1846, C.Mác và
Ph.Ăngghen viết chung tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, đánh dấu bước tiến
mới của Mác và Ăngghen trong việc phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng,
chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa cộng sản khoa học. Tác phẩm “Chống
Đuyrinh” của Ph.Ăngghen được viết vào năm 1876 - 1878 là một trong
những tác phẩm quan trọng nhất đánh dấu sự phát triển của triết học Mác.
Trong tác phẩm, lần đầu tiên Ph.Ăngghen trình bày hoàn chỉnh thế giới quan
mácxít về chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Qua tìm hiểu một
số tác phẩm kinh điển của C.Mác và Ph.Ăngghen có thể thấy rằng sự hình
thành thế giới quan duy vật biện chứng của C.Mác và Ph.Ăngghen là một quá
trình tự đấu tranh gian khổ để từ bỏ lập trường triết học duy tâm chuyển sang
lập trường triết học duy vật biện chứng.
Chúng ta biết, PBCDV là sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy
vật và phương pháp luận biện chứng. Nó không chỉ khái quát các thành tựu
Ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật có ý nghĩa phương
pháp luận chỉ đạo mọi hoạt động của con người để thực hiện quan điểm toàn
diện, quan điểm phát triển và quan điểm lịch sử cụ thể.
- Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập là hạt nhân của
PBCDV. Quy luật này vạch ra nguồn gốc, động lực của sự vận động và phát
triển của sự vật, hiện tượng; phản ánh quá trình đấu tranh giải quyết mâu
thuẫn bên trong sự vật, hiện tượng.
- Quy luật chuyển hoá từ những biến đổi về lượng dẫn tới những biến
đổi về chất và ngược lại phản ánh cách thức, cơ chế của quá trình phát triển là
25
đi từ những biến đổi dần dần về lượng vượt qua giới hạn “độ” thì gây ra sự
biến đổi về chất ở “điểm nút”, thông qua “bước nhảy” và ngược lại.
- Quy luật phủ định của phủ định khái quát khuynh hướng và xu thế
phát triển tiến lên theo hình thức xoáy ốc, thể hiện tính chất chu kỳ trong quá
trình phát triển. Phủ định biện chứng đòi hỏi phải tôn trọng tính kế thừa có
chọn lọc.
Tóm lại, sự hình thành thế giới quan duy vật biện chứng của C.Mác và
Ph.Ăngghen vừa là kết quả khái quát kinh nghiệm đấu tranh cách mạng và kế
thừa có phê phán di sản lý luận của loài người, vừa là kết quả nghiên cứu, tiếp
thu có chọn lọc các thành tựu khoa học. Các tiến bộ khoa học kỹ thuật của
thời đại đã chứng minh tính đúng đắn của PBCDV và nâng nó lên thành đỉnh
cao của phép biện chứng. Mặc dù vậy, các nguyên lý của PBCDV cần tiếp tục
được thực tiễn kiểm nghiệm, bổ sung và phát triển. Lênin và các đảng macxít
đã đảm nhiệm sứ mệnh lịch sử đó bằng việc bảo vệ và phát triển triết học Mác
trong giai đoạn chủ nghĩa đế quốc.
* Giai đoạn V.I.Lênin bảo vệ và phát triển phép biện chứng duy vật mácxít
Tiếp sau C.Mác và Ph.Ăngghen, Lênin đã đưa PBCDV phát triển lên
một tầm cao mới. Trong tác phẩm “Những người bạn dân là thế nào và họ