BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
------&&&------
VŨ VĂN LỰC
TÍCH HỢP MỘT SỐ NỘI DUNG GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG
VÀO PHẦN SINH HỌC LỚP 7 – TRUNG HỌC CƠ SỞ
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Vinh , Năm 2010
1
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn khoa học TS.
Phan Đức Duy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên
cứu.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các Thầy cô giáo giảng dạy ở khoa Sinh trường
Đại học Vinh đã động viên, hướng dẫn và góp những ý kiến quý báu cho đề tài
luận văn.
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo giảng dạy Sinh
học, đặc biệt là các thầy cô giáo đã tham gia dạy thực nghiệm và các em học
sinh trường THCS Trung Chính – Nông Cống – Thanh Hoá, THCS Tân Khang
– Nông Cống – Thanh Hoá đã tạo điều kiện thuận lợi và hợp tác cùng chúng tôi
trong quá trình thực hiện đề tài.
Xin cám ơn các đồng nghiệp, bạn bè và người thân đã động viên, giúp đỡ
tôi hoàn thành luận văn này.
1.3.3. Các nguyên tắc tích hợp……………………………………..…….……..28
1.3.4. Các mức độ tích hợp…………………………………………...……….. 28
1.4. Thực trạng của việc GDMT ở một số trường THCS trên địa bàn
3
Tỉnh Thanh Hoá …………………………………………………….…….……29
Chương 2: TÍCH HỢP MỘT SỐ NỘI DUNG GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG VÀO NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH SINH HỌC 7 THCS ………33
2.1. Phân tích nội dung cấu trúc phần sinh học lớp 7 THCS……..….…......….33
2.2. Địa chỉ tích hợp GDMT vào nội dung Sinh học 7 ………………………..37
2.3. Các nguyên tắc tích hợp GDMT vào nội dung sinh học lớp 7 THCS….....39
2.4. Hệ thống các kiến thức GDMT được tích hợp trong chương trình
Sinh học lớp 7 THCS ………………………………………………….….……40
2.4.1. Mẫu module tích hợp GDMT ……………………………………..…….40
2.4.2. Hệ thống module tích hợp GDMT vào nội dung Sinh học 7………..…...41
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM……………………................……….66
3.1. Mục đích thực nghiệm………………………………..…………….……...66
3.2. Nội dung thực nghiệm ……………………………………………..………66
3.3. Phương pháp thực nghiệm………………………………………...….……66
3.3.1. Chọn trường thực nghiệm…………………….…….…………..………..66
3.3.2. Các bước thực nghiệm………………….………………………………..66
3.4. kết quả thực nghiệm……………..…………………………………………67
3.4.1. Kết quả định lượng ……………………………………………..….…….67
3.4.1.1. Kết quả thực nghiệm tại trường THCS Trung Chính……………..……67
3.4.1.2. Kết quả thực nghiệm tại trường THCS Tân Khang……………………69
3.4.2. Kết quả định tính…………………………………………………………71
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ……………………………………………………..73
1. Kết luận…………………………………………………………….…..…….73
2. Đề nghị ……………………………………………………….………..…….74
: Sách giáo khoa
THCS
: Trung học cơ sở
THPT
: Trung học phổ thông
TN
: Thực nghiệm
ĐC
: Đối chứng
SL
: Số lượng
TL
: Tỷ lệ
UNESCO : Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hợp Quốc
5
loạn và môi trường sống của chúng ta đang lâm vào tình trạng khủng hoảng với
quy mô toàn cầu. Những hiểm hoạ suy thoái môi trường đang ngày càng đe doạ
cuộc sống của loài người. Chính vì vậy, bảo vệ môi trường là vấn đề sống còn
của mỗi quốc gia và của toàn nhân loại.
Các nhà khoa học và quản lí đã xác định một trong những nguyên nhân cơ
bản gây suy thoái môi trường là do sự thiếu hiểu biết, thiếu ý thức của con
người. Giáo dục BVMT là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất, kinh tế
nhất và có tính bền vững trong các biện pháp để thực hiện mục tiêu BVMT và
phát triển bền vững đất nước. Thông qua giáo dục, từng người và cộng đồng
được trang bị kiến thức về môi trường, ý thức BVMT, năng lực phát hiện và xử
lí các vấn đề môi trường. Giáo dục BVMT còn góp phần hình thành nhân cách
người lao động mới, người chủ tương lai của đất nước – người lao động, người
chủ có thái độ thân thiện với môi trường, phát triển kinh tế hài hoà với việc
BVMT, đảm bảo nhu cầu hôm nay mà không tổn hại đến các thế hệ mai sau.
Giáo dục BVMT là vấn đề có tính chiến lược của mỗi quốc gia và của toàn cầu.
Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả GDMT qua các môn học là nhiệm vụ vô
cùng quan trọng của nhà trường THCS mà trực tiếp là giáo viên giảng dạy. Tuy
nhiên, trong trường THCS chưa có bộ môn GDMT riêng, trong khi vấn đề MT
trở nên cấp bách với nhân loại hơn bao giờ hết. GDMT không phải là ghép thêm
vào chương trình giáo dục như là một bộ môn riêng biệt hay là một chủ đề
nghiên cứu mà nó là một hướng hội nhập chương trình.
7
Sinh học là bộ môn khoa học rất gần gũi với thực tiễn cuộc sống con
người và cũng là môn học có liên quan mật thiết với khoa học môi trường.
Trong đó chương trình Sinh học 7 là chìa khoá để các em mở cánh cửa bước vào
thế giới động vật.Trên thực tế chất lượng giáo dục BVMT qua môn Sinh học nói
chung và Sinh học lớp 7 nói riêng chưa cao, sự chuyển biến thái độ, hành vi của
giáo viên và học sinh chưa rõ nét. Giáo viên chưa chú trọng đến lựa chọn nội
- Các phương pháp và biện pháp tích hợp kiến thức GDMT vào phần sinh
học lớp 7 THCS.
6. Phương pháp nghiên cứu.
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu các tài liệu về chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và
nhà nước trong công tác giáo dục môi trường. Các tài liệu có liên quan đến hoạt
động dạy học.
- Nghiên cứu lý thuyết tích hợp để tích hợp kiến thức GDMT vào các bài
học trong phần sinh học lớp 7 THCS.
6.2. Phương pháp điều tra.
- Điều tra việc tích hợp GDMT vào nội dung dạy học phần sinh học lớp 7
THCS thông qua hình thức dự giờ quan sát, dùng phiếu trưng cầu ý kiến, tiếp
xúc trao đổi với giáo viên để tìm hiểu thực trạng.
6.3. Phương pháp chuyên gia
Gặp gỡ trao đổi với các chuyên gia về lĩnh vực nghiên cứu GDMT để chuẩn hóa
các kiến thức về tích hợp GDMT vào các bài trong phần sinh học 7
6.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
Chúng tôi sử dụng phương pháp thực nghiệm chéo. Cụ thể là:
+ Các lớp thực nghiệm: Giáo án được thiết kế thiết có tích hợp một số nội
dung giáo dục môi trường.
+ Các lớp đối chứng: Giáo án được thiết kế bình thường không có tích
hợp nội dung giáo dục môi trường.
- Thống kê kết quả thực nghiệm sư phạm:
9
+ Phân tích định lượng các bài kiểm tra: Các bài kiểm tra ở cả nhóm lớp
thực nghiệm và lớp đối chứng đều được chấm theo thang điểm 10. Kết quả thu
được sẽ được xử lý bằng thống kê toán học nhằm tăng độ chính xác cũng như
2
TN
Xử lý số liệu thực nghiệm bằng các tham số đặc trưng:
* Giá trị trung bình cộng
Trong đó :
X =
1 10
∑ X i ni
n i =1
n : Số học sinh của lớp.
X i : Điểm số theo thang điểm 10.
ni : Số bài kiểm tra có điểm số là X i .
* Độ lệch chuẩn (S):
S= ±
10
∑n (X
i
i =1
i
X
- C V = 0 – 10% : Dao động nhỏ độ tin cậy cao.
- C V = 0 – 30% : Dao động trung bình.
- C V = 0 – 100%: Dao động lớn độ tin cậy nhỏ.
* Độ tin cậy ( t ): Độ tin cậy sai khác giữa 2 giá trị trung bình phản ánh
kết quả của 2 phương án thực nghiệm và đối chứng.
t=
X1 − X 2
S
S=
n1 n2
n1 + n 2
(n1 − 1) S12 + (n1 − 1) S 22
n1 + n 2 − 2
Trong đó: X 1 : Điểm số trung bình của lớp đối chứng.
X 2 : Điểm số trung bình của lớp thực nghiệm.
S 12 và S 22 : Là phương sai của lớp đối chứng và lớp thực nghiệm.
n 1 và n 2 : Là tổng số bài của lớp đối chứng và lớp thực nghiệm.
+ Phân tích định tính: Để đánh giá hiệu quả của việc tổ chức dạy học,
chúng tôi dựa trên nội dung các bài kiểm tra trong các giáo án thực nghiệm và
giáo án đối chứng để đánh giá sự hiểu biết của HS, những ưu điểm và hạn chế
của từng nội dung thực nghiệm khi dạy kiến thức GDMT được lồng ghép tích
7.2. Ở Việt Nam
Việc đưa GDMT vào nhà trường đã được chú ý từ lâu. Đã có nhiều chương
trình, dự án triển khai tích hợp GDMT thông qua các môn học. Điều này cũng đã
được các cấp của ngành giáo dục quan tâm và triển khai.
Báo cáo của các cố vấn trong hội nghị tổng kết công tác GDMT trong trường
phổ thông đã cho thấy một số ưu điểm:
12
- Hầu hết các tỉnh đã hoàn thành bản kế hoạch hành động GDMT đến năm
2010, với sự cam kết thực hiện của cả 3 cơ quan: Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở
Tài nguyên và Môi trường, Tỉnh Đoàn thanh niên.
- Nhận thức về tầm quan trọng của công tác GDMT trong trường học ở các bộ
quản lý các cấp, ở giáo viên và học sinh được nâng lên rõ rệt. Biểu hiện là, cán
bộ Sở, phòng giáo dục và đào tạo chỉ đạo đã sâu sát hơn, quan tâm thường xuyên
hơn tới GDMT, việc khai thác các nội dung GDMT trong các môn học được
quan tâm hơn, tự giác hơn và thành tiêu chí bình xét các giờ dạy giỏi của giáo
viên. Các em học sinh thì không chỉ được nâng cao kiến thức mà các em còn có
ý thức bảo vệ và xây dựng trường lớp khang trang sạch đẹp hơn, biết bảo vệ môi
trường và tham gia tích cực vào các phong trào bảo vệ môi trường. Đặc biệt là
nhiều nơi, các em còn vận động được gia đình, bà con làng xóm, đường phố
cùng giữ gìn môi trường sạch đẹp. Các hoạt động ngoài giờ với nội dung bảo vệ
môi trường của học sinh cũng được tổ chức nhiều hơn, cuốn hút được đông đảo
học sinh tham gia: các em tham gia cổ động tuyên truyền, kẻ vẽ panô áp phích,
tham gia làm sạch bãi biển, đường phố, dự thi các cuộc thi về đề tài môi
trường…
- Phong trào xanh hoá nhà trường và xây dựng trường xanh sạch đẹp đã đi
vào chiều sâu, trở thành nhu cầu của các nhà trường, của giáo viên và học sinh.
Đặc biệt phong trào này còn cuốn hút được phụ huynh học sinh, chính quyền và
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung luận văn có 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài.
- Chương 2: Tích hợp một số nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào
phần sinh học lớp 7 THCS.
- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
14
NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Môi trường
1.1.1. Khái niệm môi trường
Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 đã chỉ rõ: “Môi trường bao
gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng
đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”.
Từ định nghĩa tổng quát này, các khái niệm về môi trường còn được hiểu
theo các nghĩa khác nhau, nhưng tựu trung lại không nằm ngoài nội dung của
định nghĩa kinh điển trong Luật Bảo vệ môi trường.
* Định nghĩa 1: Môi trường theo nghĩa rộng nhất là tổng hợp các điều kiện
bên ngoài có ảnh hưởng tới một vật thể hoặc một sự kiện. Bất cứ một vật thể,
một sự kiện nào cũng tồn tại và diễn biến trong một môi trường. Khái niệm
chung về môi trường được cụ thể hóa đối với từng đối tượng và từng mục đích
nghiên cứu.
Đối với cơ thể sống thì “môi trường sống” là tổng hợp những điều kiện bên
ngoài có ảnh hưởng tới đời sống và sự phát triển của cơ thể[15].
* Định nghĩa 2: môi trường bao gồm tất cả những gì bao quanh sinh vật, tất
cả các yếu tố vô sinh và hữu sinh có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên sự
sống, phát triển và sinh sản của sinh vật.
thực vật, đất và nước. Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây
nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên
khoáng sản phục vụ cho sản xuất và tiêu thụ.
- Môi trường xã hội là tổng thể các mối quan hệ giữa con người với con
người. Đó là luật lệ, thể chế, cam kết, quy định ở các cấp khác nhau. Môi trường
xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo
nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con
người khác với các sinh vật khác [17].
- Môi trường nhà trường bao gồm không gian trường, cơ sở vật chất trong
trường như: lớp học, phòng thí nghiệm, sân chơi, vườn trường, giáo viên, học
16
sinh, nội quy của trường, các tổ chức xã hội như Đảng, Đoàn, Đội.
1.1.2. Các chức năng chủ yếu của môi trường
Đối với sinh vật nói chung và con người nói riêng thì môi trường sống có các
chức năng chủ yếu sau:
- Môi trường là không gian sinh sống của con người và thế giới sinh vật
(habitat).
- Môi trường là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống
và sản xuất của con người.
- Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong
cuộc sống và hoạt động sản xuất.
- Chức năng lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người.
1.1.3. Các vấn đề môi trường hiện nay
1.1.3.1. Những vấn đề môi trường toàn cầu:
Báo cáo tổng quan môi trường toàn cầu năm 2000 của chương trình Môi
trường Liên hợp quốc (UNEP) viết tắt là “GEO - 2000” đã phân tích 2 xu hướng
bao trùm khi con người bước sang thiên niên kỷ thứ 3.
- Thứ nhất: Đó là các hệ sinh thái và sinh thái nhân văn toàn cầu bị đe dọa bởi
này đang tích cực hành động để ổn định khí hậu toàn cầu. [20]
Trái đất nóng lên chủ yếu do hoạt động của con người mà cụ thể là:
- Do sử dụng ngày càng tăng lượng than đá, dầu mỏ và phát triển công nghiệp
dẫn đến gia tăng nồng độ CO2 và SO2 trong khí quyển.
- Khai thác triệt để dẫn đến làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên, đặc biệt là tài
nguyên rừng và đất rừng, nước – là bộ máy khổng lồ giúp điều hòa khí hậu trái
đất.
- Nhiều hệ sinh thái bị mất cân bằng nghiêm trọng ở nhiều khu vực trên thế
giới. Tất cả các yếu tố này làm cho thiên nhiên mất đi khả năng tự điều chỉnh
vốn có.
• Sự suy giảm tầng ôzôn (O3)
Biểu hiện: Vào đầu những năm 70 của thế kỉ XX, các nhà khoa học đã đưa
ra những bằng chứng về sự suy giảm của tầng ôzôn. Tháng 10-1982 phát hiện ra
18
một lượng lớn khí O3 đã biến mất trên bầu trời. Năm 1985 tìm thấy có một “lỗ
thủng tầng ôzôn” rất lớn ở Nam cực. Vào ngày 3/9/2000 “lỗ thủng tầng ôzôn”
trên vùng Nam cực đã lên tới 28,3 triệu km2. Suy giảm tầng ôzôn không còn là
vấn đề của Nam cực nữa mà nó trở thành vấn đề môi trường có liên quan đến
nhiều quốc gia, nhiều khu vực trên thế giới.
Nguyên nhân: Nguyên nhân lớn nhất làm cho tầng ôzôn bị suy giảm là do
CFCs (chloruofluorcarbons). CFCs có trong tủ lạnh, máy lạnh và máy điều hòa
nhiệt độ, trong các bình xịt để làm sạch các vật dụng gia đình, đồ hộp. Khí CFC s
bị phá hủy khi chịu sự tác động của bức xạ cực tím với cường độ mạnh, Clo (Cl)
sẽ tách ra khỏi CFCs và phá hủy tầng ôzôn (phải mất 8 năm thì CFC s mới di
chuyển lên tới tầng bình lưu và tồn tại ở đó khoảng 100 năm). Ngoài CFC s thì
Halons, HCFCs, Methyl (mê tan), Bromide,…cũng được coi là nguyên nhân gây
ra sự suy giảm tầng ôzôn. Những chất gây nguy hại đối với tầng ôzôn ở trên gọi
chung là các chất suy giảm tầng ôzôn.
biệt là từ những năm 50 của thế kỷ XX và tập trung ở những nước đang phát
triển. Sự gia tăng dân số quá mức sẽ dẫn đến hiện tượng “bùng nổ dân số” [4].
1.1.3.2. Các vấn đề môi trường Việt Nam:
•
Suy giảm diện tích và chất lượng rừng
Hiện trạng rừng Việt Nam:
- Việt Nam có 19 triệu ha đất lâm nghiệp thì chỉ có 11,3 triệu ha là đất có
rừng (9,7 triệu ha rừng tự nhiên và 1,6 rừng trồng).
- Độ che phủ của rừng ở một số tỉnh (số liệu thống kê năm 2000):
Kontum:
63,7%
Lâm Đồng:
3,3%
Tuyên Quang:
50,6%
Bắc Kạn:
8,4%
- Phần lớn là rừng nghèo và rừng tái sinh, phục hồi (chiếm 55%); rừng giàu,
kín chỉ chiếm 13%.
- Rừng phòng hộ đầu nguồn trên lưu vực những con sông lớn ở nước ta vẫn
trường địa phương, đồng thời làm giảm diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu
người.
Đất bị ô nhiễm do nhiều nguyên nhân:
- Do các vi sinh vật gây bệnh: do sử dụng phân tươi không xử lý, do đổ rác và
nước thải chưa được xử lý vào đất nên trong đất chứa nhiều vi sinh vật gây bệnh
cho người, gia súc và cả cây trồng.
- Do các chất hóa học:
21
+ Chất hóa học thất thoát, rò rỉ, thải ra trong quá trình hoạt động sản xuất
công nghiệp; đặc biệt là các hóa chất độc và kim loại nặng.
+ Do các chất phóng xạ và các hóa chất độc hại khác đã bị sử dụng trong
các cuộc chiến tranh.
+ Do các chất hóa học sử dụng trong quá trình sản xuất nông nghiệp như
phân hóa học và các loại thuốc trừ sâu [13].
• Nước ngọt đang ô nhiễm, thiếu nước sạch cho sinh hoạt hằng ngày
- Việt Nam có lượng mưa trung bình 1960mm3/năm, chủ yếu tập trung vào
mùa mưa (chiếm 70-80%). Lượng nước bình quân đầu người khoảng
64.000m3/người/năm.
- Ô nhiễm nước do nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp, đặc biệt là
tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Hải Phòng và tại các khu
công nghiệp. Hoạt động sản xuất nông nghiệp, nhất là vùng châu thổ sông Hồng
và sông Cửu Long, cũng góp phần đáng kể vào việc gây ô nhiễm nguồn nước.
- Tỷ lệ dân số được sử dụng nước sạch của nước ta hiện nay là khoảng 50%
(70% ở đô thị và 30% ở nông thôn).
- Chất lượng nước ở vùng thượng lưu của phần lớn các con sông còn tốt trong
khi vùng hạ lưu đã bị ô nhiễm nặng nề (BOD và NH 4+ vượt tiêu chuẩn cho
phép), đặc biệt là các con sông chảy qua các đô thị và khu công nghiệp.
• Môi trường biển và vùng ven biển đang kêu cứu.
nguy cơ tuyệt chủng.
- Đa dạng sinh học của Việt Nam đang bị đe dọa nghiêm trọng với hơn 700
loài được liệt trong Sách đỏ Việt Nam.
- Sản lượng đánh bắt cá gần bờ ngày một giảm trong khi số lượng tàu thuyền
đánh bắt cá tăng nhanh.
- Việc săn bắn, tiêu thụ động vật hoang dã, chặt phá rừng bừa bãi vẫn chưa
được kiểm soát chặt chẽ. Các quán ăn động vật hoang dã vẫn còn tồn tại.
Nguyên nhân
- Chiến tranh (tàn phá rừng, các hệ sinh thái, để lại các chất độc hủy diệt).
- Mở rộng đất nông nghiệp, tập quán canh tác chưa hợp lý (thu hẹp sinh cảnh,
gây ô nhiễm đất, nước).
- Chính sách phát triển chưa phù hợp (chỉ chú trọng đến phát triển kinh tế, xã
hội chưa quan tâm đến bảo vệ môi trường và công tác bảo tồn).
23
- Khai thác gỗ, củi và lâm sản một cách bừa bãi và chưa được quản lý chặt
chẽ.
- Cháy rừng (tiêu hủy hệ thực vật, mất nơi ở động vật và vi sinh vật).
- Xây dựng cơ sở hạ tầng (đường xá, cầu cống, thủy điện…)
- Săn bắn, buôn bán trái phép động vật hoang dã, xuất khẩu gỗ quý hiếm.
- Ô nhiễm môi trường (điều kiện môi trường vượt quá giới hạn chịu đựng làm
cho sinh vật không thể tồn tại được).
- Sự gia tăng dân số (nhu cầu sử dụng tài nguyên ngày càng nhiều, dân trí
thấp, thiếu lương thực, thực phẩm, nơi ở…)
- Sự biến đổi bất thường khí hậu Trái đất đã gây ra nhiều thiên tai, phá hủy
nghiêm trọng các hệ sinh thái và sự đa dạng sinh học.
1.2 Giáo dục môi trường.
GDMT là một quá trình nhằm nâng cao nhận thức về phương pháp, kỹ
Ý thức vì môi
trường
Kỹ năng hành
động trong
môi trường
Tác động tích cực và
triệt để
Những nguyên nhân
nào gây ra các vấn đề
về môi trường
Đề xuất các giải pháp
cho hôm nay và mai
sau
Những nguyên nhân
nào gây ra các vấn đề
về môi trường
Chủ nghĩa tiêu
thụ ích kỹ
Trách nhiệm
cá nhân
Không tích đến
sự nhạy cảm đối với môi trường và những vấn đề có liên quan.
25