Thế giới biểu tượng trong thơ bích khê - Pdf 32

1
Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh

Nguyễn thị vân anh

Thế giới biểu tợng trong thơ
bích khê

Luận văn thạc sĩ ngữ văn
Chuyên ngành: văn học việt nam
Mã số: 60 22 34

Ngời hớng dẫn khoa học:
t.s lê thị hồ quang


2
Vinh, 2009


3

Lời cảm ơn:

Nhân dịp luận văn đợc hoàn thành tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận
tình chu đáo của cô giáo - tiến sỹ: Lê Thị Hồ Quang, sự góp ý chân thành của các
thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, trờng Đại học Vinh và sự khích lệ động viên của
gia đình và bạn bè.

Vinh, ngày.......tháng......nãm 2009

6. Cấu trúc luận văn

15

Chơng 1: Tổng quan về biểu tợng và thế giới biểu tợng trong thơ
Bích Khê
1.1. Khái niệm biểu tợng

17

1.1.1. Khái niệm biểu tợng nhìn từ góc độ văn hoá

18

1.1.2. Khái niệm biểu tợng nhìn từ góc độ văn học

21

1.1.3. Khái niệm biểu tợng trong thơ và loại hình thơ tợng trng

26

1.2. Khái quát về đời thơ Bích Khê và thế giới biểu tợng trong thơ
Bích Khê

35

1.2.1. Vị trí đặc biệt của Bích Khê trong phong trào Thơ mới

36

2.2.1. Vẻ đẹp thuần khiết của thiên nhiên

68

2.2.2. Vẻ đẹp lí tởng của Giai nhân

72

2.3. Thế giới của những biểu tợng nhục thể

72

2.3.1. Nhãn quan nhục thể trong thơ Bích Khê

80

2.3.2. Những biểu tợng nhục thể nổi bật trong thơ Bích Khê

85

2.4. Thế giới siêu thực, huyền bí

85

2.4.1. Một cõi chết đầy đầu lâu, sọ ngời, nấm mộ

90

2.4.2. Một cõi trời kì lạ và diễm ảo
Chơng 3: Nghệ thuật xây dựng thế giới biểu tợng trong thơ Bích

Nó tồn tại ở khắp nơi, trong phong tục, lối sống cho đến tôn giáo, nghệ thuật và
ngay trong bản thân chúng ta dẫu ta có nhận biết hay không. Chính vì một thế giới
biểu tợng sống trong và quanh chúng ta, cho nên, tất cả các ngành khoa học đang
hợp lực để giải mã cho ra những ẩn ngữ do các biểu tợng đặt ra, trong đó có văn
học. Bởi bản chất của văn học là phản ánh hiện thực đời sống bằng hình tợng, nên
hình tợng, mà cao hơn là biểu tợng, luôn dồn nén các tầng nghĩa, mở ra những
khoảng trống cho tác phẩm. Vì vậy, tiếp cận thế giới nghệ thuật thơ ca của một tác
giả thông qua việc giải mã thế giới biểu tợng là một hớng đi có ý nghĩa.
1.2. Vào những năm đầu thế kỉ XX, ở Việt Nam đã diễn ra nhiều biến đổi
sâu sắc, trong đó có văn học. Một trong những thay đổi lớn của nền văn học là sự
xuất hiện của phong trào Thơ mới (1932 - 1945). Dù ra đời và phát triển trong
khoảng thời gian không dài nhng Thơ mới đã có đóng góp hết sức to lớn cho văn
học nớc nhà. Chính nó đã mở đầu cho sự phát triển của thơ ca Việt Nam hiện đại và
đã làm xuất hiện một loạt các nhà thơ mới với cá tính sáng tạo độc đáo nh: Thế Lữ,
Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Vũ Hoàng Chơng... Trong số
đó, Bích Khê là một trờng hợp khá đặc biệt. Tác giả này bớc vào làng thơ rất sớm,
khi còn tuổi thiếu niên và đã có nhiều bài thơ đạt đến trình độ già dặn, đợc nhiều
bậc túc nho tán thởng. Nhng đến năm 1936, ông không sáng tác theo lối thơ cũ mà
lại đi theo lối sáng tác của thơ mới. Vừa xuất hiện trên thi đàn Thơ mới, ông đã làm
kinh ngạc biết bao ngời, bởi cách cảm thụ thế giới bằng cả cảm giác và trực giác, tởng tợng lẫn trí tuệ; bởi cách xây dựng các lớp hình tợng mới mẻ bằng một thứ


7
ngôn ngữ quái đản, biến hoá, bất ngờ, táo bạo; và bởi lối diễn đạt mới lạ, giăng
mắc, mê hoặc, ám ảnh. Tuy nhiên, cho đến nay, do nhiều nguyên nhân chủ quan và
khách quan, thơ Bích Khê vẫn cha đợc nhìn nhận, đánh giá và nghiên cứu một cách
đúng mức, thoả đáng.
1.3. Việc sử dụng biểu tợng trong thơ không phải là một điều mới lạ. Trong
văn học phơng Đông, mà cụ thể là từ thời đại thơ Đờng của Trung Quốc (khoảng
thế kỉ VIII), các nhà thơ đã biết sử dụng hệ thống hình ảnh ẩn dụ theo những mối

lời ca ngợi tài năng của ông bắt cái vô hình trở nên hữu hình, khiến cái chết trở
nên sống, cho sự vật câm không còn là câm nữa [40, 20].
Cùng với Hàn Mặc Tử, Trọng Miên trong Lời bạt Tinh huyết, cũng đã có
những cảm nhận, khái quát ngắn gọn và đánh giá cao Bích Khê cả về nguồn cảm
xúc và thi tứ đạt đến tột đỉnh mọi sắc độ: Tinh huyết vang dội một nỗi đau khổ
tuyệt vọng phủ qua màu sắc truỵ lạc ồ ạt nh muốn chảy tràn vào đờng gân, mạch
máu của tôi... Nhạc và lệ, đẹp và dâm, cuồng và ánh sáng, Bích Khê hoà hợp thành
một dòng Tinh huyết tân kỳ [dẫn theo Nguyễn Hữu Sơn, 54, tập1, 134].
Tiếp đến, Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam (1942) thì lại tỏ ra ngập
ngừng, e dè khi làm quen thơ Bích Khê. Ông viết: Tôi đã đọc không biết đọc mấy
chục lần bài Duy tân, tôi thấy trong đó có nhiều câu thật đẹp. Nhng tôi không dám
chắc bài thơ đã nói hết cùng tôi những nỗi niềm riêng của nó... hình nh vẫn còn gì
nữa... còn các bài khác hoặc cha xem hoặc mới đọc có đôi ba lần. Mà thơ Bích
Khê, đọc đôi ba lần thì cũng nh cha đọc [67, 279]. Dù thế nào thì đây cũng là
những lời đánh giá thật sự thành thực của Hoài Thanh về thơ Bích Khê.
Nh vậy, trong khoảng thời gian này, mặc dù ngời ta bàn về ông cha nhiều nhng nhìn chung, những ngời đơng thời đã sớm nhận ra và đánh giá cao tài năng của
Bích Khê .


9
2.2. Từ 1945 đến 1975
2.2.1. ở miền Bắc, dới chế độ Xã hội chủ nghĩa
Những năm sau cách mạng, Bích Khê rơi vào một nghi án chính trị, tác phẩm
của ông bị phê phán mạnh mẽ, bị coi là phản động có lợi cho địch, một phần tử
tờrốtkít. Chính điều này đã giam hãm Bích Khê và thơ Bích Khê trong một thời
gian dài. Ngót 15 năm sau khi Bích Khê tạ thế (1946) tên tuổi cũng nh sự nghiệp
của ông trôi vào dĩ vãng.
2.2.2. ở miền Nam, dới chế độ Việt Nam cộng hoà
Do đặc thù của hoàn cảnh xã hội ở miền Nam, đến những năm 60 của thế kỉ
XX, việc nghiên cứu và giảng dạy văn học lãng mạn trong đó có phong trào Thơ

2.3. Từ 1975 đến nay
Sau khi nớc nhà độc lập, đặc biệt sau 1986, cũng nh Thơ mới nói chung, Bích
Khê và thơ Bích Khê đợc nhìn nhận lại một cách khách quan và công bằng hơn.
Hàng loạt những bài viết với những kiến giải, phân tích khá sâu sắc và thấu đáo nối
tiếp nhau xuất hiện. Năm 1988, tập Thơ Bích Khê do Sở văn hoá thông tin Nghĩa
Bình phát hành, di sản thơ ca của thi nhân đã có dịp đến với ngời đọc tơng đối đầy
đủ.
Ngoài ra, còn có một số công trình khác có giá trị nh: Bích Khê, khuôn mặt
độc đáo trong phong trào Thơ mới (Lê Hồng Khánh, 1990), Bích Khê, con chim
yến của thời gian (Võ Tấn Cờng, 1995), Bích Khê- sự nhận thức ngôn từ (Đỗ Lai
Thuý, 1997)...
Trong bài viết Bích Khê sự nhận thức ngôn từ, in trong tập tiểu luận Mắt
thơ (1997) của Đỗ Lai Thuý cũng đề cập đến biểu tợng trong thơ ông. Theo tác giả,


11
biểu tợng chính là ẩn dụ, biểu tợng trong thơ Bích Khê là những biểu tợng phức,
đó là một phức thể các ấn tợng, những cảm giác hồi tởng, chiêm bao, huyễn tởng,
tiềm thức và vô thức trùm lên không gian và thời gian có chức năng gợi nghĩa chứ
không phải để miêu tả [200].
Tiếp đến năm 2005, Nhà xuất bản Văn học đã cho ra đời cuốn 70 năm đọc
thơ Bích Khê su tầm 59 bài thơ và 16 bài viết của nhiều tác giả đọc thơ Bích Khê
hơn 70 năm qua, nhằm mục đích để trân trọng và bảo tồn một loại di sản văn hoá
có giá trị [5].
Đến tháng 2 năm 2006, một Hội thảo về thơ Bích Khê đợc tổ chức tại Quảng
Ngãi để kỉ niệm 60 năm ngày mất của thi nhân. Hội thảo đã gây đợc sự chú ý, thu
hút sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu và các độc giả yêu thơ, đánh dấu sự trở
về của Bích Khê trong lòng quê hơng và dân tộc. Gần 300 đại biểu là lãnh đạo các
tỉnh, các giáo s tiến sĩ, các nhà thơ, nhà văn, nhà nghiên cứu phê bình văn học, nhà
báo của nhiều tỉnh thành đã về dự. Đây là cuộc hội thảo đầu tiên về thơ Bích Khê đợc tổ chức khá quy mô, với trên 40 tham luận của các nhà thơ, nhà văn, nhà nghiên

đối tợng cụ thể nh vấn đề nhục cảm hay là thân thể con ngời, nhng thực chất đây
cũng là một trong những biểu hiện của thế giới biểu tợng. Chẳng hạn, bài viết
Nhận diện Bích Khê của Lê Hồng Khánh, tác giả cũng rất đề cao cách viết về vấn
đề nhục cảm của thi nhân đợc diễn tả bằng những hình ảnh nớc đôi và với những
thủ pháp phù thuỷ [54, tập 1, 81].
Trong bài viết Vẻ đẹp hội hoạ trong thơ Bích Khê của Trần Thanh Hà, tác giả
cũng đề cập một số bài thơ có hình ảnh đẹp nhng gợi nhục dục song lại khẳng định
đó là sự tôn sùng ngợi ca cái đẹp mỗi bài thơ là một mảng của đời là bức tranh
riêng biệt để cùng tạo thành thế giới hình tợng đầy màu sắc trong thơ ông [54, tập
1, 72].
Tác giả Lê Hoài Nam đã chỉ ra những đóng góp của Bích Khê vào nền thơ
ca hiện đại Việt Nam, trong đó có quan niệm về cái đẹp rất mới mẻ và phức tạp:


13
trong lịch sử thơ ca Việt Nam, Bích Khê là ngời đầu tiên phơi bày và ngợi ca cái
đẹp của cơ thể con ngời trong sự toàn vẹn của nó. Ông không tránh né nói đến,
miêu tả những bộ phận kín đáo của ngời phụ nữ, công nhiên bộc lộ những rung
động nhục dục [54, tập 1, 63].
Còn Bích Thu, với bài viết Đi vào cõi thơ Bích Khê, tác giả cũng đề cập đến
vấn đề phô diễn vẻ đẹp con ngời với cái nhìn nhục thể đồng thời cũng thấy đợc
ngời làm thơ nhân hoá với cái nhìn nhục cảm khiến cho thơ của thi nhân mê
hoặc, ám ảnh, giăng mắc, buộc ngời đọc phải hơn một lần trở lại với thơ ông [54,
tập 2, 6].
Trong bài viết Ngôn ngữ thân thể trong thơ Bích Khê, Trần Đình Sử lại chỉ ra
khá cụ thể, phân chia các bộ phận thân thể con ngời bằng ngôn ngữ nhng đó cũng
chính là những phơng tiện để xây dựng những biểu tợng. Ông còn viết thân thể
trong thơ Bích Khê thấm đợm hồn, cảm xúc thân thể đầy mỹ cảm [54, tập 2, 24].
Tác giả Phạm Xuân Nguyên có bài Thi sỹ Bích Khê thi sỹ thần linh - thơ
loã thể, cũng nói về những hình ảnh, chân dung của Nàng Đẹp nhng đó cũng chính

lòng quê hơng và dân tộc. Trong số bài viết này, có bài Bích Khê và cách đánh giá
của Hoài Thanh của Hoàng Thị Huế. Ngoài việc đề cập đến nguyên nhân vì sao
Hoài Thanh lại có sự dè dặt trong cách đánh giá Bích Khê, tác giả còn rất đề cao
quan niệm và sáng tác của trờng thơ Loạn nói chung và Bích Khê nói riêng đã có
những cách tân và thể hiện khá mới mẻ, tân kì từ cách sử dụng ngôn từ giàu nhạc
tính, đến hình ảnh, biểu tợng thơ [101]. Đồng thời tác giả còn ca ngợi cách xây
dựng hình ảnh thơ trong thơ Bích Khê là những biểu tợng mà lô gic thông thờng
của lí trí không sáng tạo ra đợc[102].
Ngoài những công trình trên, còn có thể kể tới những luận văn khoa học
cũng đề cập đến thơ Bích Khê nh khoá luận tốt nghiệp của Vơng Hải Anh (2007)
với đề tài Thơ trữ tình Bích Khê, trong đó cũng bàn về biểu tợng với t cách là một
trong những phơng thức thể hiện độc đáo của thơ Bích Khê. Tác giả cũng khẳng


15
định biểu tợng trong thơ Bích Khê là những biểu tợng kép - biểu tợng trùng phức
nét độc đáo nổi bật ở hệ thống biểu tợng trong thơ Bích Khê là dung hợp rất nhiều
ý nghĩa khác nhau thậm chí đối lập nhau, các lớp ý nghĩa này liên tục gia tăng và
dịch chuyển, biến hoá ngay trong một văn bản, tơng ứng với nhau trên dây chuyền
của ngữ nghĩa [74].
Luận văn thạc sĩ khoa học của Trần Thị Lam (2007) có đề tài Đặc sắc ngôn
ngữ thơ Bích Khê cũng đề cập đến những biểu tợng trùng phức với t cách là một
trong những biện pháp tu từ đã tạo nên trong thơ ông một chiều sâu mĩ cảm mới,
đồng thời tạo nên sức gợi mở lớn và khả năng dân chủ hoá mạnh mẽ trong việc
tiếp nhận thơ [104].
Đặc biệt trên Internet, có rất nhiều trang web có nhiều bài viết về Bích Khê,
hay liên quan đến Bích Khê nh Trang thơ Bích Khê- nơi gặp gỡ những ngời yêu thơ
Bích Khê (Bichkhe.org) có bài T duy nghệ thuật thơ Bích Khê, nhìn từ các cấp độ
hình tợng thơ; Bích Khê từ Tinh huyết thần dị đến Tinh hoa thần linh (2007) của
Trần Thị Thu Hà..., Trang Thuykhe.free.fr cũng có một số bài nh Thi pháp Bích

động của thơ ca hiện đại.
3. Đối tợng nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu của luận văn là Thế giới biểu tợng trong thơ Bích Khê.
Trong rất nhiều công trình su tầm, tuyển chọn, giới thiệu thơ Bích Khê, chúng tôi
lựa chọn t liệu Thơ mới 1932 - 1945 tác giả và tác phẩm của Nhà xuất bản Hội nhà
văn (2004) để khảo sát. T liệu này gồm 75 bài thơ đợc biên soạn lại và có tham
khảo các bản in có trớc (nh Bích Khê - Tinh huyết Trọng Miên xuất bản in tại
nhà in Thuỵ Ký, Hàng Gai, H, 1939; Thơ Bích Khê, Chế Lan Viên, Hà Giao, Thanh
Mừng su tầm và tuyển chọn, Sở văn hoá thông tin Nghĩa Bình xuất bản, 1988; Bích


17
Khê - Tinh hoa và Tinh huyết, Nguyễn Thanh Mừng biên soạn, Tủ sách thế giới văn
học, Nxb Hội nhà văn, H, 1992; Bích Khê Tinh hoa Lê Thị Ngọc Sơng su
tầm, Lê Hoài Nam giới thiệu, Nxb Hội nhà văn, H 1997...).
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Từ một số quan niệm và cách lý giải khác nhau về khái niệm biểu tợng, soi
chiếu vào thơ Bích Khê để phác thảo đợc diện mạo thế giới biểu tợng trong thơ ông.
- Chỉ ra các đặc điểm của thế giới biểu tợng trong thơ Bích Khê, trên cơ sở
khảo sát, thống kê, phân tích, mô tả đặc điểm các tầng ý nghĩa của một số biểu tợng nổi bật.
- Tìm hiểu, phân tích các thủ pháp, các phơng thức xây dựng biểu tợng để hớng tới lý giải nét độc đáo của hiện tợng văn học này.
5. Phơng pháp nghiên cứu
Xuất phát từ nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi sử dụng các phơng pháp chủ yếu
sau:
5.1. Phơng pháp khảo sát, thống kê, phân loại: trên cơ sở 75 bài thơ, thống kê
và phân loại có định hớng các biểu tợng nổi bật.
5.2. Phơng pháp phân tích, tổng hợp: từ các biểu tợng đã thống kê, phân loại,
chỉ ra đợc ý nghĩa của nó.
5.3. Phơng pháp so sánh, đối chiếu: so sánh với các nhà thơ cùng phong cách
để thấy đợc nét độc đáo trong cách sử dụng các biểu tợng của Bích Khê.

con ngời. Về sau, khi tri thức nhân loại đã đạt đến một trình độ nhất định để có thể
ý thức đợc sự tồn tại của biểu tợng và có nhu cầu khám phá nó, lúc đó biểu tợng đợc hiểu nh là những hình ảnh tợng trng đợc cả một cộng đồng dân tộc (có khi hơn
một dân tộc) cùng chấp nhận và sử dụng rộng rãi trong một thời gian lâu dài.
Sự tạo thành biểu tợng trong tâm thức nhân loại là một quá trình vô thức, nhng tự bản thân chúng thể hiện nỗ lực của con ngời muốn xuyên qua bức màn mờ
mịt của hiện thực, vợt lên những kinh nghiệm cảm tính cá nhân đơn lẻ để nhận thức


20
về một thực tại siêu việt bị che lấp. Không phải ngẫu nhiên mà khát khao khám phá
những bí ẩn huyền nhiệm là khát vọng thờng trực trong bản tính con ngời.
Với con ngời hiện đại, thờng xuyên sử dụng các biểu tợng, chúng khoác lên
các ớc mơ một diện mạo, chúng xúi giục một toan tính nào đó, chúng nhào nặn một
lối ứng xử, chúng khơi mào cho thành công hay thất bại [XIII]. Và biểu tợng trở
nên quen thuộc trong đời sống hàng ngày cũng nh trong nghiên cứu khoa học. Khái
niệm biểu tợng (symbole) xuất hiện lần đầu tiên năm 1886 trong bài viết có tựa đề
Traitéduverbe (khái luận ngôn từ) của René Ghil và từ đó trở đi ngời ta bắt đầu
quen dùng đến khái niệm này. Tuy nhiên, khi bàn về khái niệm biểu tợng thì có rất
nhiều cách hiểu, nhiều kiến giải khác nhau, bởi chính khái niệm này có sự vận
động, lại tồn tại trong những môi trờng văn hoá khác nhau và vai trò nó cũng khác
tại đây và lúc này. Và các nhà nghiên cứu đã cố gắng nhận ra đợc cái mẫu số
chung và các sắc thái ý nghĩa riêng của biểu tợng trong từng cách hiểu của mình.
1.1.1. Khái niệm biểu tợng nhìn từ góc độ văn hoá
Về khái niệm văn hoá, Unesco định nghĩa: Văn hoá là tập hợp hệ thống các
biểu tợng, nó quy định thế ứng xử của con ngời và làm cho số đông ngời có thể
giao tiếp với nhau, liên kết thành một cộng đồng riêng biệt. Với khái niệm này,
cho thấy biểu tợng là một yếu tố quan trọng cấu thành văn hoá cộng đồng, nó vừa
góp phần làm nên bộ mặt của nền văn hoá ở những đờng nét cơ bản nhất, lại vừa
làm nên cái bề dày, bề sâu của truyền thống. Vì lí do đó, biểu tợng là một đối tợng
nghiên cứu cơ bản trong văn hoá học, không thể xác định đợc diện mạo của một
nền văn hoá cũng nh mối quan hệ giữa các nền văn hoá khác nhau nếu không xác

Còn R.de.Becker thì lại ví biểu tợng với một khối tinh thể phục nguyên lại
theo cách khác nhau, nguồn sáng tuỳ theo từng mặt tinh thể tiếp nhận ánh sáng. Và
ta còn có thể nói nó là một thể sống, một mẫu của con ngời ta đang chuyển động và
biến đổi. Đến mức cứ nhìn ngắm nó, bắt nó nh là đối tợng suy ngẫm, thì cũng tức là


22
ta đang nhìn ngắm chính cái quỹ đạo ta sắp lần theo, ta nắm bắt cái hớng vận động
đang lôi kéo con ngời ta đang đi tới[XXV]. Với cách hiểu này, thì biểu tợng phụ
thuộc vào chủ thể tiếp nhận, tức là nó chỉ tồn tại ở bình diện chủ thể nhng trên cơ
sở bình diện khách thể. Và cũng do bản chất sống động và biến đổi của biểu tợng,
để nắm bắt đợc nó ngời đọc phải tìm đợc quỹ đạo phải thực sự sống với nó thì
mới có thể hiểu đợc nó.
Nghiên cứu biểu tợng văn hoá không thể không bàn đến chức năng của nó.
Cũng trong công trình này, vấn đề chức năng của biểu tợng đã đợc J.Chevalies đề
cập đến một cách có hệ thống và toàn diện. Theo tác giả, biểu tợng văn hoá có các
chức năng cơ bản sau: chức năng nhận thức (khám phá, thăm dò, đa dẫn đến cái cha biết trong nhận thức về thực tại); chức năng biểu hiện; chức năng trung chuyển
(liên kết các yếu tố của đời sống văn hoá: con ngời và vũ trụ, cái nội tại và cái siêu
tại, giữa các góc độ tinh thần); chức năng giáo dục và trị liệu (điều chỉnh và hoàn
thiện nhân cách con ngời trong các mối quan hệ nói trên); chức năng xã hội hoá
(tạo ra đặc trng của một thời đại, một nền vă hoá, là cơ sở cho sự giao lu, thẩm thấu
của các nền văn hoá); chức năng siêu nghiệm (thiết lập mối liên thông giữa các
năng lực đối kháng tinh thần và từ đó vợt lên mở đờng cho sự tiến bộ của ý thức)...
Chức năng của biểu tợng thơ ca là sự hiện thực hoá các chức năng của biểu tợng
văn hoá thông qua nghệ thuật ngôn từ. Từ đó, họ khẳng định vai trò của biểu tợng
một thế giới không có biểu tợng thì sẽ ngạt thở: nó sẽ tức thì giết chết đời sống
tinh thần của con ngời[XXXII].
Trên đây là một số kiến giải về biểu tợng mà các soạn giả Từ điển biểu tợng
văn hoá thế giới trích dẫn, những kiến giải này phần nào đã làm sáng tỏ đợc bản
chất của biểu tợng trong đời sống văn hoá. Tuy nhiên, họ cũng không đa ra đợc một

đích: làm thế nào để thể hiện tốt nhất, sâu sắc nhất tâm t, tình cảm, thế giới tâm
trạng của con ngời.


24
Nh ta đã biết, chất liệu trực quan ban đầu của biểu tợng không phải là ngôn
từ mà là các vật thể, hành động, trạng thái cụ thể... nhng có khả năng biểu hiện một
ý nghĩa rộng hơn chính bản thân nội dung trực tiếp của hình thức cảm quan cụ thể
ấy. Và khi đi vào văn học, chúng trở thành những hình ảnh, hình tợng và cao hơn là
những biểu tợng. Nh vậy, hình tợng, biểu tợng trong văn học chính là sự chuyển
hoá các hệ biểu tợng này vào hình thức âm thanh ngôn ngữ. Chúng là phi vật thể
nhng lại có khả năng gợi ra cái bản thể sự vật hiện tợng, hành động dựa trên sự kích
thích của trí tởng tợng độc giả. Nhng cũng dới góc độ văn học, ta cũng cần thấy rõ
đợc nét khác biệt giữa hình tợng và biểu tợng.
Trớc hết, hình tợng là phơng tiện cơ bản để khái quát hiện thực. Từ điển
thuật ngữ văn học định nghĩa: Hình tợng nghệ thuật là sản phẩm của phơng thức
chiếm lĩnh, thể hiện và tái tạo hiện thực theo quy luật của nghệ thuật... Bất cứ hiện
tợng nào của đời sống đợc nghệ sĩ tái hiện một cách sáng tạo trong tác phẩm nghệ
thuật, đều là hình tợng nghệ thuật [122]. Tác giả Sơn Tùng trong bài viết Hình tợng nghệ thuật trong văn học cũng khẳng định: hình tợng nghệ thuật là một hình
thức đặc biệt phản ánh hiện thực khách quan, thể hiện cái bản chất, cái quy luật
trong những hình tợng cụ thể, những nhân vật cá biệt. Nó là một bức tranh sinh
động, tổng hợp hoàn chỉnh về đời sống và con ngời do nhà văn sáng tạo ra để đem
lại cho ngời đọc một ấn tợng và một cảm xúc sâu sắc về đời sống và con ngời, làm
cho ngời đọc nhận thức đợc chân lí của đời sống, nâng cao đợc t tởng và tình
cảm...[75, 74].
Nh vậy, hình tợng là một hình thức, một phơng tiện để phản ánh hiện thực,
tuy nhiên, không thể đồng nhất một cách máy móc cái đợc thể hiện trong tác phẩm
với hiện thực khách quan. Bởi vì, khác với phản ánh thông thờng, phản ánh nghệ
thuật không phải là sự sao chép, chụp ảnh hiện thực mà là một sự phản ánh năng
động, sáng tạo đầy tính chủ quan. Và nghệ thuật cũng không thể ôm trùm, chiếm




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status