Thế giới biểu tượng trong thơ nôm nguyễn trãi - Pdf 32

Bộ giáo dục và đào tạo

Trờng đại học vinh

Nguyễn thị vân anh

Thế giới Biểu tợng trong thơ nôm nguyễn
trãi

luận văn thạc sĩ ngữ văn
Chuyên ngành: văn học việt nam
Mã số: 60.22.34

Ngời hớng dẫn khoa học:
TS. Trơng

Vinh - 2009

Xuân Tiếu


2

Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
1.1.Thơ chữ Nôm với Quốc âm thi tập là một bộ phận quan trọng trong toàn
bộ các tác phẩm của Nguyễn Trãi để lại cho đời sau. tập thơ quốc âm này có vị trí
đặc biệt trong nền văn học Việt Nam trung đại nói chung và trong sự nghiệp sáng
tác thơ văn của ức Trai nói riêng. Nó đã góp phần đáng kể vào việc nâng địa vị của
Nguyễn Trãi trở thành một trong số các nhà văn lớn của văn học nớc nhà và xứng
đáng là danh nhân văn hoá thế giới. Do có vị trí và vai trò to lớn nh vậy cho nên kể

Phạm Trọng Điềm phiên âm chú giải) đã cuốn hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên
cứu trong và ngoài nớc từ những lĩnh vực khoa học khác nhau. Để có thể thấy rõ
việc tìm hiểu thế giới biểu tợng trong thơ Nôm của Nguyễn Trãi đã đợc chú ý
hay cha, nếu có thì đạt tới mức độ nào, trong phần này chúng tôi sẽ xem xét vấn
đề trên hai góc độ.
2.1. Các xu hớng chính trong việc nghiên cứu thơ Nôm Nguyễn Trãi ở
nớc ta và trên thế giới
Trong hơn nửa thế kỷ qua (từ 1956 đến 2009), ở nớc ta cũng nh một số nớc
trên thế giới, một số chuyên luận và nhiều bài báo lấy Quốc âm thi tập của
Nguyễn Trãi làm đối tợng nghiên cứu đã liên tục đợc công bố, tạo nên sự bùng
nổ dây chuyền về một hiện tợng văn học đợc đông đảo bạn đọc quan tâm. Nhìn
một cách tổng quát, việc tìm hiểu giá trị thơ Nôm của ức Trai tập trung vào các
xu hớng chính sau đây:
2.1.1. Vị trí của thơ Nôm Nguyễn Trãi trong nền văn học trung đại Việt Nam
Xu hớng nghiên cứu này gồm các công trình :
- Xuân Diệu: Quốc âm thi tập, tác phẩm mở đầu nền thơ cổ điển Việt Nam.
- Nguyễn Văn Hoàn: Địa vị của Nguyễn Trãi trong quá trình phát triển của
lịch sử văn học Việt Nam.
- Thanh Lãng: Quốc âm thi tập với đề mục Nguyễn Trãi là ông tổ của nền
văn học cổ điển.
- Hoàng Trung Thông, Nguyễn Huệ Chi: Vị trí của Nguyễn Trãi trong lịch
sử văn học Việt Nam.
- Nguyễn Thiên Thụ: ảnh hởng và địa vị của Nguyễn Trãi trong văn học
Việt Nam.
Để nêu rõ vị trí, địa vị cũng nh ảnh hởng to lớn của Nguyễn Trãi trong lịch
sử văn học nớc nhà, các nhà nghiên cứu nh: Nguyễn Huệ Chi, Hoàng Trung

3




4


5

Trong các bài đã dẫn, đây đó các tác giả đã có đề cập tới một số biểu tợng dễ
dàng bắt gặp trong thơ Nôm của ức Trai, nhất là trong bài của Nguyễn Thiên Thụ.
(Về bài viết này, chúng tôi sẽ trình bày kỹ ở mục 2 trong phần lịch sử vấn đề).
2.1.4. Tính dân tộc và tính nhân loại (quốc tế) trong thơ Nôm của
Nguyễn Trãi (bao gồm cả sự vận dụng chất liệu văn học dân gian)
Một số nhà nghiên cứu ở nớc ngoài cũng nh ở trong nớc đều đã lu tâm đến
xu hớng này khi xem Nguyễn Trãi với t cách vừa là nhà văn, vừa là nhà văn hoá
lớn. Cụ thể có các công trình sau:
- AMADOU - MAHTAR MBOW (Tổng giám đốc UNESCO): Sự thực hiện trọn
vẹn của Nguyễn Trãi.
- TONĐÔRI DEDUÊ (Cộng hoà Hunggari): Nguyễn Trãi, nhà thơ xa trong
thời gian, mà không ngăn cách trong không gian.
- Bùi Văn Nguyên: m
 vang tục ngữ, ca dao trong thơ quốc âm của Nguyễn Trãi.
- Nguyễn Khắc Phi: Mấy vấn đề liên quan đến thơ quốc âm Nguyễn Trãi.
- Lã Nhâm Thìn: Thơ Nôm Đờng luật,...
Để thấy rõ hơn đây là hớng nghiên cứu đợc một số học giả nớc ngoài chú ý,
kể từ khi Nguyễn Trãi đợc tổ chức UNESCO công nhận là danh nhân văn hoá thế
giới (1890), chúng tôi xin trích một vài nhận xét, đánh giá trong các công trình
đã dẫn ở trên. Theo TONĐÔRI DEDUÊ Thơ ông có tính thế giới mà không siêu
hình, không tôn giáo [40,1020]. Ông Tổng giám đốc UNESCO lại dành những
lời đầy ái mộ cho danh nhân Nguyễn Trãi: Các nhà thơ của một n ớc thờng
là sứ giả của dân tộc họ,... Nhà thơ Việt Nam, đồng thời là một thành viên
kiệt xuất của cộng đồng loài ngời ấy, để lại cho chúng ta bài học gì ? [40,

- Nguyễn Đình Chú: Cây chuối.
- Xuân Diệu: Một bài thơ của Nguyễn Trãi: Ba tiêu.
- Trần Đình Sử: Tùng - một bài thơ tâm huyết của Nguyễn Trãi.
- Xuân Diệu - Lê Bảo - Hoàng Thái Sơn: Về bài Cây chuối của Nguyễn Trãi.
Trong các bài đó, bài Cây chuối có nhiều bài viết nhất, có nhiều ý kiến bàn
về nó, mà theo chúng tôi vẫn còn có chỗ để bàn, nếu xem cây chuối là một biểu
tợng không chỉ có ở Việt Nam, mà còn có ở một số nớc trên thế giới. (Về biểu tợng này chúng tôi sẽ có dịp trở lại trong phần nội dung chính của luận văn)
2.2. Về việc tìm hiểu thế giới biểu tợng trong thơ Nôm Nguyễn Trãi
Với sáu xu hớng nghiên cứu chính đã đợc trình bày ở trên, việc tìm hiểu thế
giới biểu tợng trong thơ Nôm Nguyễn Trãi dờng nh cha đợc đặt ra một cách trực
tiếp, mà còn xuất hiện gián tiếp trong một số công trình, nhất là ở những bài báo
6


7

viết về thiên nhiên trong thơ ức Trai. Chỉ có một công trình duy nhất trực tiếp đề
cập thế giới biểu tợng trong Quốc âm thi tập với phạm vi vừa phải. Đó là bài báo
của Nguyễn Thiên Thụ với tiêu đề: Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi. Trong
bài báo này, tác giả đã dành hẳn một mục để phân tích, lí giải một số biểu tợng
thờng gặp trong thơ Nôm của ức Trai. Với đề mục Thiên nhiên - biểu tợng của
chân - thiện - mỹ thuộc phần III của bài báo [40, 672], Nguyễn Thiên Thụ đã
gắn các hình ảnh thiên nhiên có mặt trong các bài thơ Nôm của ức Trai nh một
số loài hoa, một số con vật với quan niệm đạo đức và triết lí nhân sinh của thi
nhân. Theo tác giả bài báo: Dới con mắt của Nguyễn Trãi, phần lớn những loài
vật và phong cảnh thiên nhiên đã mang những biểu tợng của chân - thiện mỹ
[40, 672]. Tiếp đó, Nguyễn Thiên Thụ chỉ ra ý nghĩa tợng trng của cây tùng, của
hoa cúc vàng và hoa cúc đỏ, của hoa mai và cây mai già, của hoa sen, hoa hoè, hoa
bông bụt, con hạc, con mèo [40, 672- 675]. Chẳng hạn, về hoa cúc, tác giả viết:
Hoa cúc vàng tợng trng cho thú ẩn dật, còn hoa cúc đỏ cũng mang tính cách

Những hình tợng đó có thể miêu tả từ nhiều góc độ khác nhau: tùng, tùng thu,
trúc thu, trúc quân tử, mai, mai già, mai non, bóng mai trong nớc, mai trong
tranh, cúc, cúc đỏ... nhng chúng đều có chung một chức năng là chỉ ngời quân
tử. Những quan niệm về những khía cạnh tốt đẹp khác nhau trong phẩm chất ngời quân tử đợc ớc lệ hoá thành hình tợng nghệ thuật [53, 127].
Riêng đối với thơ Nôm Nguyễn Trãi, trong chuyên luận của mình, Lã Nhâm
Thìn nêu rõ: Ba ngời bạn mùa đông tùng, trúc, mai trong thơ Nguyễn Trãi sở
dĩ tạo nên những cảm xúc thẩm mỹ trong ngời đọc là vì ngoài ý tợng trng cho
ngời quân tử, hình tợng đó còn cho ta thấy vẻ đẹp của lý tởng và phẩm chất nhà
thơ [53, 127]. Trong chuyên luận này, điều đáng lu ý là tác giả của nó đã xem
xét một số hình ảnh có tính tợng trng (có thể hiểu là các biểu trng) trong thơ
Nôm của Nguyễn Trãi trong mối quan hệ mật thiết với các hình ảnh đó thờng
xuất hiện trong thơ Nôm Đờng luật nói chung. Đây cũng là một gợi ý giúp chúng
tôi trong việc tiếp cận thế giới biểu tợng trong thơ Nôm của ức Trai bằng cái
nhìn hệ thống.
Không chỉ có chuyên luận của Lã Nhâm Thìn mà trong một số công trình
nghiên cứu khác, trong khuôn khổ của một bài báo, các tác giả nh Mai Trân,
Trần Đình Sử, Trần Thanh Mại, Đặng Thanh Lê,... cũng đã đề cập một số hình
ảnh giàu ý nghĩa tợng trng trong thơ Nôm Nguyễn Trãi. Theo chúng tôi, các bài
báo của các tác giả đó đã gián tiếp đa đến cho ta một cái nhìn về một bức tranh
khá đa dạng với nhiều màu sắc đợc vẽ nên bằng các biểu tợng có sẵn trong thiên
8


9

nhiên và trong cuộc sống của con ngời. Chẳng hạn, trong bài Nguyễn Trãi và đề
tài thiên nhiên trong dòng văn học yêu nớc Việt Nam, Đặng Thanh Lê đã cho ta
một cái nhìn khái quát: Bức tranh thiên nhiên trong ức Trai thi tập và Quốc âm
thi tập cũng chính là một trong những bóng dáng đẹp đẽ, phản ánh một con ngời,
một cốt cách, một tài năng góp phần làm sáng tỏ khá nhiều vấn đề cơ bản trong


Nôm của Nguyễn Trãi đã dẫn ở mục 2.1 thuộc phần Lịch sử vấn đề, chúng tôi
không hề thấy sự xuất hiện của từ biểu tợng, mà chỉ toàn bắt gặp cụm từ: hình
tợng nghệ thuật có tính tợng trng. Chẳng hạn trong bài viết có tiêu đề Tùng - một
bài thơ tâm huyết của Nguyễn Trãi, Trần Đình Sử đã viết: ... Nguyễn Trãi đã
làm đổi mới hình tợng cây tùng,... Cây tùng thờng tợng trng cho sự cao khiết và
sống lâu [40, 562].
Với tất cả những gì đã đợc chúng tôi trình bày trong hai mục của phần Lịch
sử vấn đề (có thể cha bao quát hết), chúng ta cũng thấy rõ một thực tế đáng lu ý.
Đó là việc tìm hiểu thế giới biểu tợng trong thơ Nôm Nguyễn Trãi từ trớc tới nay
ở Việt Nam cũng nh trên thế giới cha đợc đặt ra nh là một vấn đề chuyên biệt.
Trong các công trình nghiên cứu về Quốc âm thi tập, các tác giả với những phạm
vi, mức độ khác nhau tuy cũng đã đề cập tới một số biểu tợng trong tập thơ này
nhng dờng nh chỉ mới dừng lại ở các bài viết về đề tài thiên nhiên và việc dùng
thuật ngữ biểu tợng còn tỏ ra dè dặt.
Để có một cái nhìn toàn diện hơn, sâu sắc hơn, trên cơ sở tiếp thu những
thành tựu của những ngời đi trớc, chúng tôi tập trung sự chú ý tìm hiểu đề tài
Thế giới biểu tợng trong thơ Nôm Nguyễn Trãi.
3. Mục đích, đối tợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
3.1.1. Nghiên cứu thế giới biểu tợng trong thơ Nôm Nguyễn Trãi nhằm làm
sáng tỏ sự phong phú và sinh động trong việc tiếp thu biểu tợng văn hoá vào sáng
tác thơ quốc âm của Nguyễn Trãi.
3.1.2.Từ đó nhằm góp phần hiểu sâu hơn về vẻ đẹp thơ Nôm Nguyễn Trãi;
nhằm giảng dạy thơ Nôm Nguyễn Trãi trong nhà trờng đợc tốt hơn.
3.2. Đối tợng nghiên cứu
Thế giới biểu tợng trong thơ Nôm Nguyễn Trãi
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn với đề tài Thế giới biểu tợng trong thơ Nôm Nguyễn
Trãi chúng tôi tập trung đi vào nghiên cứu trong phạm vi toàn bộ tập thơ Nôm



12

Chơng 1
khái lợc về thơ Nôm Nguyễn Trãi
và biểu tợng trong văn học

1.1. Khái lợc về thơ Nôm Nguyễn Trãi
1.1.1. Quá trình sáng tác thơ Nôm Nguyễn Trãi
1.1.1.1. Đề tài
Nguyễn Trãi là vị anh hùng dân tộc đã phấn đấu suốt đời mình cho sự
nghiệp độc lập và giàu mạnh của đất nớc. Ông không chỉ là văn hào kiệt xuất của
dân tộc với những cống hiến xuất sắc, mà còn là nhà t tởng, nhà chính trị, nhà
quân sự, nhà ngoại giao, nhà sử học,... Thơ văn ông là di sản tinh thần vô giá,
chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong nền văn học Việt Nam.
Nguyễn Trãi là một trong những nhà văn u tú nhất của lịch sử văn học
dân tộc, ngời kết thúc chặng đờng phát triển trên năm thế kỷ văn học viết đầu
tiên mà tinh thần chủ đạo là khẳng định dân tộc. Với t cách là một nhà văn, nhà
thơ, ông đã đem văn học phục vụ cho cuộc sống, và qua sáng tác đã chứng minh
hùng hồn chân lý chỉ có bắt nguồn từ cuộc đấu tranh vì lợi ích của nhân dân thì
văn nghệ mới có thể phát huy tác dụng mạnh mẽ và lớn lao, nhà văn mới viết đợc
những tác phẩm ngang tầm thời đại.
Nguyễn Trãi đã có một khối lợng tác phẩm đồ sộ gồm có: Bình Ngô đại
cáo, ức Trai thi tập, Quốc âm thi tập, Quân trung từ mệnh tập, Lam Sơn thực
lục, Văn bia Vĩnh Lăng, Phú núi Chí - Linh, và nhiều tác phẩm khác. Trong đó
thành tựu của ông về thơ ca quốc âm có ý nghĩa cột mốc đầu tiên trên con đờng
phát triển thể loại văn học này.
Tuy nhiên tác phẩm của ông cũng chịu chung số phận với ông, và Quốc
âm thi tập cũng không phải là trờng hợp ngoại lệ.

4. Cầm thú môn: có 7 chủ đề: Lão hạc, Miêu, tr, [29, 196 - 197]
Nguyễn Phạm Hùng cũng cho rằng : "Quốc âm thi tập là một trong bảy quyển
của bộ ức Trai di tập do Dơng Bá Cung su tầm, tập hợp các di cảo Nguyễn Trãi.
Tập thơ gồm 254 bài thơ Nôm, chia làm bốn mục:
1. Vô đề gồm 193 bài.
2. Thì lệnh môn gồm 21 bài.
3. Hoa mộc môn gồm 34 bài.
4. Cầm thú môn gồm 7 bài.

13


14

Có lẽ nguyên bản vốn không có các mục phân loại đó mà do ngời su tầm về
sau đã thêm vào cho tiện trong khi sắp xếp" [19, 64].
Trong Từ điển văn học: Bản Quốc âm thi tập hiện đang lu hành, chính là
phiên âm từ bản in của Dơng Bá Cung, tức quyển thứ bảy trong ức Trai di tập,
gồm 254 bài thơ, chia thành 4 mục: 1. Vô đề, gồm 14 tiểu mục, 192 bài; 2. Thì
lệnh môn, gồm 9 tiểu mục, 21 bài; 3. Hoa mộc môn, gồm 23 tiểu mục, 34 bài; 4.
Cầm thú môn, gồm 7 tiểu mục, 7 bài. Trong 4 mục trên, ngoài những bài không
có đầu đề cũng có một số bài có đầu đề riêng và có những cụm bài cùng chung
một đầu đề. Việc phân chia thành các mục lớn nhỏ có phần tuỳ tiện và ngay tên
gọi các mục cũng có lúc gây cảm giác không khác nhau là mấy (Thuật hứng, tự
thuật, mạn thuật,...) [18, 1483].
Các nhà nghiên cứu tuy có những cách diễn đạt không giống nhau nhng đều
thống nhất chia Quốc âm thi tập thành 4 phần: Vô đề (192 bài), Thời lệnh môn
(21 bài), Hoa mộc môn (34 bài), Cầm thú môn (7 bài).
Nh vậy, trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, gồm 254 bài. Các bài thơ đợc
chia làm bốn môn loại đó là: (Vô đề, Thời lệnh môn, Hoa mộc môn, Cầm thú môn).

Dân giàu đủ khắp đòi phơng.
(Bảo kính cảnh giới, bài 43)
Bên cạnh tấm lòng với đất nớc cuồn cuộn nh nớc triều đông, chúng ta có
thể thấy trong sâu thẳm tâm hồn Nguyễn Trãi còn có một góc dành riêng cho gia
đình, cho quê hơng, cho bạn bè:
Kết bạn mựa quên ngời cố cựu,
Yên nhà nỡ phụ vợ tao khang.
(Bảo kính cảnh giới, Bài 2)
Yêu nớc, thơng dân, Nguyễn Trãi muốn đem hết tài năng ra để cống hiến cho
đất nớc. Song do hoàn cảnh xã hội, ông không thể thực hiện đợc hoài bão của
mình. Vì vậy Nguyễn Trãi đã rơi vào bi kịch. Những vần thơ của ông thấm thía
nỗi nghịch lý đau đời:
Phợng những tiếc cao, diều hãy liệng,
Hoa thì hay héo, cỏ thờng tơi.
(Tự thuật, bài 9)
Rõ ràng, với Nguyễn Trãi thân nhàn, nhng tâm không nhàn. Trong ông lúc nào
cũng canh cánh một tấm lòng lo đời, tiếc đời và tiếc cho chính bản thân mình:
Những vì chúa thánh âu đời trị,
Há kể thân nhàn tiếc tuổi tàn.
(Tự thán, bài 2)
15


16

Có thể nói, Nguyễn Trãi là một con ngời biết sống, dám sống hết mình cho
quê hơng đất nớc, cho gia đình, cho ngời thân. Đó chính là bớc đầu Nguyễn Trãi
nhận thức đợc vị trí cá nhân của mình thông qua công thức Tam cơng, Ngũ thờng.
Do đó thơ quốc âm Nguyễn Trãi khá cởi mở, bay bỗng, đồng thời châm biếm sâu
sắc theo hớng phê phán hiện thực thời bấy giờ [28, 16].

Chúng sung sớng vì biết nhờ có nhà thơ, chúng mới có cuộc sống và chúng mới
có giá trị [40, 653].
Nguyễn Trãi luôn luôn chú ý xây dựng bản lĩnh cho mình theo đúng
nguyên lí tự rèn luyện mà sách Lễ kí đã nêu trong chơng Đại học: cách vật,
trí tri, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Vì vậy, trong thơ quốc
âm, Nguyễn Trãi rất coi trọng những mục đề: Ngôn chí, Mạn thuật, Trần tình,
Thuật hứng, Tự thán,... đặc biệt là Bảo kính cảnh giới (gơng báu răn mình) và
Giới sắc và Giới nộ,... [28,17].
Tính chất giáo huấn luân lý trong thơ Nôm Nguyễn Trãi đợc thể hịên rõ
trong mọi khía cạnh, mọi mối quan hệ phức tạp của cuộc sống.
Trong gia đình phải biết thơng yêu đùm bọc:
Có tông có tộc mựa sơ thay,
Vạn diệp thiên chi bởi một cây.
Yêu trọng ngời dng là của cải,
Thơng vì thân thích nghĩa chân tay.
(Bảo kính cảnh giới, bài 18)
Anh em ruột thịt thì phải luôn luôn yêu quý, kính trọng nhau, không nên vì chút
lợi trớc mắt mà bỏ qua tình nghĩa.
Điền địa chớ tham hơn bỏ ải,
Nhân luân mựa lấy dới làm trên.
Chân tay dầu đứt bề khôn nối,
Xống áo chẳng còn mô dễ xin!
(Bảo kính cảnh giới, bài 15)
Đối với trong triều ngoài quận, trong xóm ngoài làng thì phải lấy chữ Hoà, chữ
Nhẫn làm đầu:
Việc ngoài hơng đảng chớ đôi co,
Thấy kẻ anh hùng hãy nhịn cho.
Nhợ nọ có dai nào có đứt,
Cây kia toan đắn lại toan đo.
Chớ đua huyết khí nên giận,

1.1.2. Đặc điểm nghệ thuật thơ Nôm Nguyễn Trãi
1.1.2.1. Nguyễn Trãi dùng nhiều chữ Nôm xa vào trong thơ của mình nh: Cóc
(cộc) là biết (Chẳng cộc nhân sinh gửi chơi), tua là nên (Liêm cần tiết cả tua
hằng nắm), anh tam là anh em (Bếp lạnh anh tam biếng hỏi han),...
1.1.2.2. Bên cạnh đó, tập thơ sử dụng tiếng Việt một cách rất nghệ thuật. Có khi
thì ông giữ nguyên vẻ đẹp thô sơ, mộc mạc của từ Việt, khi thì ông kết hợp từ,
18


19

cấp cho từ Việt những nghĩa bóng, những nét nghĩa tinh thần thoát khỏi tính
cụ thể, đơn nghĩa.
Đồng thời tác giả cũng sử dụng ngôn ngữ đời sống, những từ mang tính
khẩu ngữ rõ rệt dùng để hỏi, những đại từ nhân xng, từ cảm thán mang chức
năng khắc hoạ tâm trạng trữ tình, bày tỏ thái độ phản ứng trớc thế tình đen bạc:
Dầu bụt dầu tiên ai kẻ hỏi,
Ông này đã có thú ông này.
(Mạn thuật, bài 6)
1.1.2.3. Trong văn học trung đại Việt Nam đầu thế kỷ XV đã xuất hiện thể thơ
thất ngôn xen lục ngôn bằng chữ Nôm. Thể thơ này đã đợc nhiều tác giả sử
dụng, nhng phổ biến và thành công nhất là Nguyễn Trãi. Đây là thể thơ đợc sử
dụng trong suốt thời gian dài từ nửa sau thế kỷ XV đến XVIII.
Nhìn chung dáng dấp thơ trong Quốc âm thi tập không khác mấy so với
thơ thể luật Đờng. Nhng quan sát tỷ mỹ thì thấy trong Quốc âm thi tập một số
bài hoàn toàn đúng quy cách thơ Đuờng không nhiều. Số lớn các bài đều ít nhiều
viết khác luật thơ Đờng [40, 839]. Trong thơ Nôm Nguyễn Trãi, ông đa nhiều
câu thơ sáu chữ vào bài thất ngôn Đờng luật. Ông làm cả lối thơ đặc biệt nh Thủ
vĩ ngâm (bài Góc thành nam), liên hoàn (bài Vịnh trúc). Có thể nói Nguyễn Trãi
đã đóng góp rất lớn trong việc xây dựng một lối thơ Việt Nam.

(Bảo kính cảnh giới , bài 21).
Hay từ câu tục ngữ: ở bầu thì tròn, ở ống thì dài, trong Quốc âm thi tập Nguyễn
Trãi viết:
- Ngoài năm mơi tuổi ngoài chng thế,
ắt đã tròn bằng nớc ở bầu.
( Trần tình, bài 4)
- ở bầu thì dáng ắt nên tròn,
Xấu tốt đều thì rắp khuôn.
(Bảo kính cảnh giới, bài 21)
Thanh Lãng trong bài viết về Quốc âm thi tập đã nhận xét: Quốc âm thi
tập đánh dấu một chặng đờng tiến của ngữ ngôn Việt Nam, một ngữ ngôn đã
uyển chuyển, đã tế nhị, trong việc diễn tả mọi tình ý một cách độc đáo.
Quốc âm thi tập là cái thớc để ta đo sự tiến hoá của văn hoá Việt Nam về
mặt tâm lý dân tộc, t tởng quốc gia, tâm tình con ngời, về mặt ngôn ngữ của một
thời xa xa cách đây năm thế kỷ, về mặt nghệ thuật, trình độ thẩm mỹ. Nỗ lực xây
dựng một nền văn hoá dân tộc đợc bộc lộ rõ rệt, thái độ lạc quan yêu đời đợc ghi
nhận với những nét đậm đà [40, 805].

20


21

Tóm lại, Quốc âm thi tập là một văn liệu quan trọng về nhiều phơng diện,
một chứng tích của tiếng Việt và chữ Việt thời cổ, một dấu hiệu của sự phát triển
riêng biệt loại hình thơ cổ điển Việt Nam không hề trùng lẫn với thơ cổ Trung
Hoa. Nhng đặc biệt, đó là một thi phẩm có giá trị mở ra cho ngời đọc thấy có
một trái tim đau thơng cao cả, một tâm hồn rất mực giàu có, một tình cảm biết
nén nỗi buồn để lúc nào cũng có thể lạc quan yêu đời, của một nhân vật vĩ đại
sống cách đây sáu thế kỷ, một nhân vật tiêu biểu cho sự phục hng toàn diện của

22


23

một giấc mơ, một hệ thống định đề đợc u tiên, một hệ thuật ngữ quen dùng... tất
cả những gì cố định năng lợng tâm thần hay huy động năng lợng ấy vì lợi ích
riêng của mình,... [5, 24]. Nh vậy, vật mang giá trị biểu tợng có thể là một vật
cụ thể, hoặc vật trừu tợng.
Jean Chevalier Gheerbrant cho rằng: Tự bản chất của biểu tợng, nó phá vỡ
các khuôn khổ định sẵn và tập hợp các thái cực lại trong cùng một ý niệm. Nó
giống nh mũi tên bay mà không bay đứng im mà biến ảo, hiển nhiên mà không
nắm bắt đợc. Ta sẽ cần phải dùng các từ để gợi ra một hay nhiều ý nghĩa của một
biểu tợng [5, 14].
Nói nh Georges Gurvitch. Các biểu tợng tiết lộ mà che dấu và che dấu mà
tiết lộ [5, 14].
Đối với C. G. Jung, ông cho rằng: Biểu tợng không phải là một phúng dụ,
cũng chẳng phải một dấu hiệu đơn giản, mà đúng hơn là một hình ảnh thích hợp để
chỉ ra đúng hơn cả cái bản chất mà ta mơ hồ nghi hoặc của tâm linh [5, 24].
Nói nh vậy, bản chất của biểu tợng là khó xác định, sự hiểu biết về nó đơng
nhiên còn tuỳ thuộc vào sự từng trải và kinh nghiệm vốn có của mỗi cá nhân
cũng nh trình độ nhận thức của từng ngời. Không những thế, việc giải mã tìm
ra ý nghĩa của biểu tợng cũng phải tính đến thói quen, phong tục, tập quán của
các nền văn hoá trong từng cộng đồng dân tộc khác nhau. Điều bí ẩn vẫn luôn
còn nguyên vẹn và mơ hồ về mặt ý nghĩa nếu nh biểu tợng cha đợc giải mã.
Một biểu tợng thờng có nhiều nghĩa và ngợc lại một ý nghĩa lại có nhiều biểu tợng cùng biểu thị.
Vậy, có thể hiểu biểu tợng là những hình ảnh tợng trng đợc phô bày khiến
ngời ta có thể cảm nhận một giá trị trừu xuất nào đó đang tiềm ẩn trong lòng của
nó [15, 3].
Một định nghĩa khác của nhà phân tâm học C. G. Jung về biểu tợng nh sau:

Biểu tợng là đơn vị cơ bản của văn hoá, nó làm nên toàn bộ đời sống văn
hoá và chi phối mọi hoạt động của con ngời trong đời sống xã hội [16, 6].
Biểu tợng, nếu hiểu một cách giản đơn và ngắn gọn nhất, đó là hình ảnh
tợng trng- tức là những hình ảnh có ý nghĩa rộng lớn hơn chính nó. Điều này
có nghĩa rằng mỗi biểu tợng đều phải khái quát đợc một phạm vi rộng lớn sự vật,
hiện tợng của đời sống. Nếu biểu tợng không gợi cho ta đợc một ý nghĩa mới
rộng lớn hơn cái biểu đạt thì nó không đợc coi là biểu tợng mà chỉ là một hình
ảnh thuần tuý, không chứa trong đó cái đợc biểu đạt. Nh vậy, một biểu tợng
nghệ thuật là hình ảnh tợng trng đợc tác giả sử dụng nhằm thể hiện một ý nghĩa,
một tình cảm nào đó. Hay nói nh nhà thơ Pháp X. Malacmê nghệ thuật sử dụng

24


25

biểu tợng là nghệ thuật lựa chọn một vật thể để từ đó rút ra một tình cảm [55,
27].
1.2.1.5. Theo Chu Hy, nhà triết học Trung Quốc nổi tiếng đời Tống (1131 1200) trong Dịch thuyết cơng lĩnh khi bàn về biểu tợng đã viết: Tợng là lấy hình
tợng này để tỏ nghĩa kia [7, 58].
Nh hình bát quái, đã lấy 8 quẻ trong kinh Dịch làm đồ hình mỗi quẻ là một
tợng lớn, đợc cấu thành với hai tợng nhỏ cơ bản: Một vạch liền(-) là tợng của
nguyên lý dơng, một vạch đứt (--) là tợng của nguyên lý âm. Về mặt ý nghĩa của
biểu tợng, còn cho phép đọc: Vạch liền là biểu tợng của giống đực, mặt trời, đàn
ông, ánh sáng, tiến lên, cái thiện, hạnh phúc, hoà bình v.v..vạch đứt là biểu tợng
của giống cái, mặt trăng, đàn bà, bóng tối, sự chết, thoái lui, cái ác, đau khổ,
chiến tranh,... Biểu tợng luôn mở rộng sự liên tởng để trí tuệ có thể đi tìm, khám
phá ra những ý nghĩa còn chìm khuất trong chiều sâu nhận thức của con ngời.
Qua một số quan niệm vừa nêu trên, ta thấy sự ra đời của biểu tợng đợc
gắn liền với sự thực hiện khiếu năng tinh thần đặc biệt chỉ có ở loài ngời, đó là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status