5
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-----------------
TRẦN THỊ THANH MAI
Th¬ nguyÔn ®×nh thi
Tõ gãc nh×n thÓ lo¹i vµ lo¹i h×nh
th¬ hiÖn ®¹i
LUẬN VĂN THẠC SĨ ng÷ v¨n
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.34
Ngêi híng dÉn khoa häc: pgs.Ts. BiÖn minh ®iÒn
VINH, 2009
6
Công trình đợc hoàn thành tại Trờng Đại học Vinh
Ngời hớng dẫn khoa học: PGS.TS. Biện Minh Điền
Trờng Đại học Vinh
Phản biện 1: TS. Chu Văn Sơn
Viện Văn học
nào, Nguyễn Đình Thi cũng luôn có những nỗ lực cách tân mang ý nghĩa tiên
khởi trong nghệ thuật, đặc biệt là thơ [42, 42]. Cái khát vọng cháy bỏng, da diết
làm mới thơ Việt đã thôi thúc ngời nghệ sĩ đa tài này tìm đến những hình thức
thể hiện mới. Trong số những tìm tòi, sáng tạo về hình thức nghệ thuật trong thơ
Nguyễn Đình Thi, không thể không kể đến những cách tân về thể thơ. Thể thơ là
một phơng diện hình thức cơ bản, quan trọng của thơ và sự cách tân về thể thơ là
một đóng góp nổi bật, có ý nghĩa của Nguyễn Đình Thi cho thơ Việt Nam hiện
đại.
1.3. Trên hành trình sáng tạo nghệ thuật của mình, Nguyễn Đình Thi làm
thơ không nhiều. Nhng thơ lại là cái thiết tha nhất, là nơi Nguyễn Đình Thi gửi
gắm những nỗi niềm riêng thầm kín, nơi ông có những tìm tòi rất khổ và cả
những thành công vợt trội. Thơ Nguyễn Đình Thi, vì thế, ngay từ khi xuất hiện
đã đợc sự chú ý của giới văn nghệ sĩ và giới phê bình văn học. Nghiên cứu thơ
ông, nhiều tác giả đã quan tâm đến những tìm tòi, sáng tạo của ông ở hình thức
nghệ thuật nói chung và ở thể thơ nói riêng. Tuy nhiên, đến nay, vẫn cha có một
công trình nào thực sự đi sâu vào những cách tân về thể thơ, đặc biệt là sự sáng
tạo thơ tự do - không vần, của Nguyễn Đình Thi.
1.4. Trong chơng trình Ngữ văn 12 (cơ bản và nâng cao) hiện nay, tác giả
sách giáo khoa đã đa vào hai văn bản của Nguyễn Đình Thi: một văn bản lý luận
phê bình (Mấy ý nghĩ về thơ) và một văn bản nghệ thuật (bài thơ Đất nớc). Điều
8
đó một lần nữa khẳng định vị trí và đóng góp của tác giả này trong thơ Việt Nam
hiện đại. Vì vậy, việc tìm hiểu những cách tân về thể thơ chính là một cách để soi
chiếu thơ Nguyễn Đình Thi (đặc biệt là thơ tự do nh Đất nớc) từ góc độ lý luận
lẫn thực tiễn sáng tác.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Nguyễn Đình Thi làm thơ không nhiều nhng ông xứng đáng là gơng mặt
nh Nguyên Hồng, Văn Cao ủng hộ lối thơ không vần của Nguyễn Đình Thi. Ông
9
khẳng định: ở nhiều nơi, đã có những bài thơ không vần. Không vần không phải
riêng gì anh Thi đặt ra [42, 188].
Trớc không khí tranh luận sôi nổi, thẳng thắn và dân chủ của hội nghị,
Nguyễn Đình Thi đã mạnh dạn nói lên suy nghĩ của mình: Vần là một lợi khí
rất đắc lực cho sự truyền cảm. Nhng không phải hết vần là hết thơ. Khi làm thơ,
thái độ của ngời làm là ghi cho đúng cảm xúc. Nếu cảm xúc gặp đợc vần thì hay.
Nhng khi gặp nó gò bó, hãy vợt lên nó đã. Hình thức nghệ thuật (các luật bằng trắc) phải tự nhân nó ra, khi gạt luật bên ngoài đi, phải có luật bên trong rất
mạnh [42, 197]. Ông khẳng định nội dung mới tự nó sẽ tìm đến hình thức
mới [42, 199].
Nh vậy, ngay từ khi xuất hiện trên thi đàn, thơ Nguyễn Đình Thi, đặc biệt
là thơ không vần, đã thu hút sự quan tâm chú ý của đông đảo các văn nghệ sĩ và
các nhà phê bình đơng thời. Tuy nhiên, lúc này, nhìn chung, thơ không vần của
Nguyễn Đình Thi bị đối xử khắt khe.
Trong các thập niên 50, 60, 70 của thế kỷ XX, các ý kiến của giới nghiên
cứu phê bình về thơ Nguyễn Đình Thi rất ít và vẫn có phần dè dặt mặc dù thời
gian này, tác giả đã tái bản Mẹ con đồng chí Chanh những sáu lần trong kháng
chiến chống Pháp và cho xuất bản các tập thơ Ngời chiến sĩ (1956), Bài thơ Hắc
Hải (1958), Dòng sông trong xanh (1974). Nguyễn Xuân Nam, trong bài Thơ
Nguyễn Đình Thi trên tạp chí Văn học số 12/1969, nhận xét: thơ Nguyễn Đình
Thi có bớc tiến về nội dung và hình thức, thờng hàm súc, các bài thơ thờng
là những cảnh, cảnh nọ liên quan đến cảnh kia rồi tự bức tranh sẽ toát ra t tởng
[42, 79]. ở bài viết này, mặc dù thừa nhận Nguyễn Đình Thi đã có những bài
thơ hay ở thể thơ tự do [42, 78], thơ Nguyễn Đình Thi có vẻ đẹp của hoa lý,
hoa ngâu ít sắc màu, dịu dịu thơm lâu [42, 80] nhng Nguyễn Xuân Nam vẫn cha có điều kiện đi sâu tìm hiểu cái độc đáo, riêng biệt của Nguyễn Đình Thi ở thể
thơ tự do.
vận động của nền thơ Việt Nam hiện đại. Trần Hữu Tá thấy rằng: Tuy chững
chạc trong thể thơ truyền thống (ngũ ngôn, thất ngôn, lục bát), mực thớc trong
thơ 8 chữ, nhng Nguyễn Đình Thi thích hợp hơn với những hình thức tự do,
phóng khoáng [58, 246]. Vơng Trí Nhàn khẳng định: Nguyễn Đình Thi đã
xuất phát từ một luận điểm đúng: hình thức cũ không đủ nữa. Thời đại mới mới
phải tìm đến hình thức mới [39, 330]. Ông đánh giá cao nỗ lực tìm tòi cho thơ
của Nguyễn Đình Thi và thấy đó là cả một sự thúc bách nội tâm, sự thúc bách
này mãnh liệt đến mức đau đớn mấy, ngời ta cũng phải làm theo cách ngời ta
hiểu [39, 325]. Chu Văn Sơn góp thêm một tiếng nói tích cực vào việc thanh
toán món nợ oan ức mà Nguyễn Đình Thi phải chịu đựng từ đầu kháng chiến
chống Pháp. Theo ông, Nguyễn Đình Thi là một mầm cây trổ ra không gặp thì,
không thuận tiết [42, 116] nhng thơ Nguyễn Đình Thi vẫn là những hạt mầm
khỏe mạnh gieo xuống cánh đồng canh tân của thi ca. Ngời ta không thể không
thấy tiếng vọng của nó trong sáng tác của các thi sĩ lớp sau [45, 413]. Trong
Đọc lại thơ Nguyễn Đình Thi, Chu Văn Sơn khẳng định thơ Nguyễn Đình Thi là
tâm niệm khôn nguôi về sức sống kỳ diệu của dân tộc và là một khao khát
cách tân thi ca. Thơ Nguyễn Đình Thi là thơ hình ảnh cảm xúc, ít chú trọng
vần điệu mà chú trọng nhiều hơn vào nhịp điệu, trong thơ ông, ngời ta thấy
nhạc thơ là sự hòa điệu giữa hình ảnh với tình ý, giữa giọng thơ và lời thơ, lời
thơ nh lời nói thờng, giàu sức nén, đầy sức gợi do những khoảng lặng và những
d vang ngoài câu chữ [45, 410 - 411]. Trong Nguyễn Đình Thi và một hớng tìm
tòi của thơ hiện đại, Chu Văn Sơn chỉ rõ: Việc giảm thiểu vần điệu không phải
đến Nguyễn Đình Thi mới có kẻ đầu tiên, món này đã thấy lấp ló đó đây
11
trong thơ mới. Nhng phải đến Nguyễn Đình Thi, việc theo đuổi, ơm trồng thơ
không vần mới đợc thực hiện có ý thức thành cơ sở lý thuyết, khác xa với tính
cách riêng về tự phát trớc đó [42, 121].
một nghệ sĩ đa tài trọn đời cống hiến cho đất nớc, cho nền nghệ thuật cách
mạng, rất nhiều văn nghệ sĩ và đông đảo quần chúng đã bày tỏ niềm ngỡng mộ
đặc biệt đối với Nguyễn Đình Thi, nhất là đối với thơ của ông. Trong bài viết
Nguyễn Đình Thi - nhìn từ phía thơ, Vũ Quần Phơng một lần nữa khẳng định:
12
Riêng với thơ, lĩnh vực ông để lại nhiều tâm huyết, ông đã tạo một phong cách
hoàn toàn mới mẻ, vừa kế thừa tinh hoa cổ điển của cha ông, phát huy chất lãng
mạn của thơ mới, vừa tạo một t duy thơ hiện đại đậm chất trí tuệ và giàu nội tâm.
Đến nay, công chúng yêu thơ đã nhận ra và yêu mến cái vị riêng của thơ Nguyễn
Đình Thi [42, 164]. Còn Đỗ Lai Thúy thì nhấn mạnh: Thơ Nguyễn Đình Thi là
một cái mốc lớn trên hành trình đổi mới thơ sau 1945. Nhng việc Nguyễn
Đình Thi không chuyên canh thơ, không đi đến tận cùng trong cách tân để đa thơ
Việt Nam sớm thoát khỏi cái ách của thơ mới lúc này đã trở nên nặng nề để đi
đến thơ hiện đại là một thiệt thòi lớn cho thơ Việt nói chung và riêng cá nhân
ông [71]. Cũng cùng quan điểm nh thế, Chu Văn Sơn viết: Trong phần thành
công nhất, thơ Nguyễn Đình Thi tạo ra nhạc điệu mới nh tiếng sóng reo trong
lặng lẽ, tấu lên một thứ nhạc mới trong lặng và rung ngân []. Giá nh ông cứ
dám là mình, đi cho thật hết cái lẽ phải của thơ theo quan niệm của mình thì rất
có thể ông đã có vai trò nh Xuân Diệu với phong trào Thơ mới [51].
Bên cạnh những bài nghiên cứu đánh giá khách quan và công bằng những
đóng góp của Nguyễn Đình Thi trong việc tìm tòi sáng tạo hình thức mới cho thơ
Việt Nam hiện đại, trong những năm gần đây, đã có một số công trình nghiên
cứu khoa học đi sâu về vấn đề này. Đáng chú ý là các luận văn thạc sĩ: Thơ
Nguyễn Đình Thi truyền thống và cách tân (2001) của La Nguyệt Anh, Đặc
điểm ngôn ngữ của Nguyễn Đình Thi (2002) của Nguyễn Thị Kiều Hoa, Phong
cách thơ Nguyễn Đình Thi (2006) của Nguyễn Văn Đàn và một luận án tiến sĩ
Nguyễn Đình Thi với thơ và kịch (2005) của Lê Thị Chính. ở những công trình
4.2. Khảo sát, phân tích, xác định đặc điểm các thể thơ trong hệ thống thể
loại thơ của Nguyễn Đình Thi.
4.3. Khảo sát, phân tích, xác định đặc trng thơ tự do, không vần của
Nguyễn Đình Thi, nhìn nó từ đặc trng của loại hình thơ hiện đại, đánh giá những
đóng góp xuất sắc cho thơ hiện đại của Nguyễn Đình Thi từ cách đây trên nửa
thế kỷ.
5. Phơng pháp nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng các phơng pháp chính: Thống kê
- phân loại, so sánh - loại hình, phân tích - tổng hợp, cấu trúc - hệ thống.
6. Đóng góp và cấu trúc của luận văn
6.1. Đóng góp
Luận văn là công trình tập trung tìm hiểu, nghiên cứu toàn bộ thơ Nguyễn
Đình Thi từ góc nhìn thể loại và loại hình thơ hiện đại.
Kết quả của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc tiếp
nhận, tìm hiểu thơ Nguyễn Đình Thi.
6.2. Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận
văn gồm 3 chơng:
Chơng 1: Thơ Nguyễn Đình Thi trên tiến trình thơ Việt Nam hiện đại.
Chơng 2: Hệ thống thể loại thơ Nguyễn Đình Thi và những nét đặc trng
nổi bật.
Chơng 3: Những đóng góp nổi bật của Nguyễn Đình Thi cho thơ Việt
Nam hiện đại.
14
Chơng 1
Thơ Nguyễn Đình Thi
trên tiến trình thơ Việt Nam hiện đại
thống thi pháp thơ trung đại
Thế kỷ XX đã đánh dấu sự trởng thành vợt bậc của văn học Việt Nam,
khép lại thời văn học cổ xa, mở ra thời văn học hiện đại, đồng hành với các tìm
tòi nghệ thuật của thế giới hiện đại, trong đó có thơ ca [56, 10]. Quan sát sự vận
động của thơ Việt Nam thế kỷ XX, có thể nhận thấy rằng, sự chuyển đổi từ phạm
trù trung đại sang phạm trù hiện đại tất yếu gắn liền với quá trình xác lập một hệ
thống thi pháp mới. Đó là hệ thống thi pháp thơ hiện đại.
Để có một cái nhìn khái quát về hệ thống thi pháp thơ hiện đại, thiết nghĩ,
không thể không quan tâm đến hệ thống thi pháp thơ trung đại. Trong văn học
trung đại, thơ (chữ Hán và chữ Nôm) luôn giữ vị trí quan trọng, vị trí độc tôn. Vì
thế, không phải ngẫu nhiên mà mọi đặc trng của văn học trung đại đều thể hiện
rõ nét trong thơ và những đặc điểm thi pháp thơ trung đại đều tơng đồng với
những đặc điểm thi pháp của văn học trung đại.
Trong thơ trung đại Việt Nam, cái tôi trữ tình là cái tôi vô ngã. Bởi trong
thơ trung đại, bản chất con ngời bắt nguồn từ quan hệ cộng đồng, giá trị cá
nhân nằm trong giá trị quần thể, văn học chủ yếu phát ngôn trên t cách siêu cá
nhân với những vấn đề của tập đoàn, gia đình, dòng họ, giai cấp thống trị, cho lý
tởng đạo đức, cho vận mệnh dân tộc [47, 67 - 68]. ý thức về cá nhân, cá tính là
có thực, song nó thờng tồn tại trong những quy tắc luật lệ, khuôn mẫu có sẵn.
Cái tôi trong thơ trung đại còn là cái tôi vũ trụ. Con ngời là một phần của vũ trụ,
còn vũ trụ là quyển sách từ đó đọc ra niềm vui, nỗi buồn, quá khứ, hiện tại, tơng
lai []. Mỗi một sự việc, một khung cảnh đều mang ý nghĩa triết lý về quan hệ
con ngời và vũ trụ [47, 69]. Do không tách mình khỏi vũ trụ, nhà thơ thờng trữ
tình về cái hồn của vũ trụ để từ những bí ẩn của vũ trụ, gián tiếp bộc lộ những bí
ẩn của tâm hồn.
Thơ trung đại sử dụng hệ thống ớc lệ dày đặc, phức tạp và nghiêm ngặt.
Thơ hiện đại cũng có ớc lệ nhng ớc lệ trong thơ trung đại khác với thơ hiện đại ở
tính uyên bác và cách điệu hóa, tính sùng cổ, tính phi ngã.
Về mặt ngôn ngữ, câu thơ điệu ngâm chính là sản phẩm tất yếu và đặc trng cho loại hình thơ trung đại. Xuất phát từ quan niệm thơ là sự biểu hiện của thế
giới qua tâm hồn nhà thơ, thơ không phải là một phát ngôn hay lời nói mà nh
nhân tự biểu hiện, khép kín và cô đơn về xã hội [47, 71] trong Thơ mới 1932 1945; cái tôi - cá nhân hòa nhập với cái tôi - xã hội, cái tôi tự ý thức về lịch
sử xã hội, cái tôi mang tính sử thi và lý tởng [47, 74] trong thơ Việt Nam
1945 - 1975 và cái tôi thế sự, đời t, cái tôi mang xu hớng hiện đại trong thơ Việt
Nam sau 1975.
Cùng với sự giải phóng cái tôi trữ tình, thơ hiện đại cũng vợt thoát ra khỏi
nguyên tắc mĩ học đồng nhất trong thơ trung đại nói riêng và văn học trung đại
nói chung. Chính điều này cũng tạo ra sự đa dạng, phong phú trong bút pháp, kết
cấu, giọng điệu cho thơ hiện đại.
Ngôn ngữ thơ hiện đại, với sự thay thế câu thơ điệu ngâm bằng câu thơ
điệu nói, đã tạo ra một bớc ngoặt trên tiến trình phát triển và hoàn thiện ngôn
ngữ thơ tiếng Việt. Xuất phát từ quan niệm cái tôi cá nhân không phải là vô giá
trị mà là một quan điểm, một t cách để nhìn đời, để nói với mọi ngời và nhà thơ
bao giờ cũng nói tiếng nói của mình với cái tôi cá nhân phát triển, câu thơ điệu
nói cho phép nhà thơ biểu hiện rõ ràng, dứt khoát lập trờng t tởng, tình cảm của
17
cái tôi trữ tình. Câu thơ trở thành lời nói cá thể. Câu thơ điệu nói giải phóng
giọng điệu cá thể, làm cho nó hiện ra trên bề mặt, đồng thời cải tạo chất nhạc
của thơ - không phải nhạc trầm bổng, réo rắt do phối hợp âm thanh tạo nên mà
do tiếng lòng, hơi thở, nhịp tình cảm tạo nên. Thành phần của lời thơ điệu nói rất
đa dạng, có các h từ, các cách lập luận, các khẩu hiệu; có tiếng hô, lời chào, lời
chêm, câu hỏi đối đáp, có cách vắt dòng Thơ điệu nói đứng trớc nhiều viễn
cảnh khác nhau: nó mở cửa cho những tiếng lòng gần gũi, chất văn xuôi đủ các
cung bậc, lĩnh vực vào thơ; nó mở cửa thông sang truyền thống dân gian; nó mở
ra các hình thức t duy mới mẻ, cho phép sử dụng các ẩn dụ, liên tởng đầy nghịch
lý, bất ngờ.
Nh vậy, thơ hiện đại đã thoát ra khỏi hệ thống thi pháp chặt chẽ, gò bó của
thơ trung đại để xác lập một hệ thống thi pháp mới, mang tính chất mở, cho phép
cuộc sống bình thờng [44, 242] và những thành tựu nổi bật về tiểu thuyết,
truyện ngắn, tùy bút của Hồ Biểu Chánh, Phạm Duy Tốn, Hoàng Ngọc Phách
Về thơ, trong các sáng tác của Tản Đà, Trần Tuấn Khải đã xuất hiện cái tôi
phóng túng, lãng mạn, đậm chất sầu và mộng. Đây là sự chuẩn bị quan trọng vào
bậc nhất cho công cuộc hiện đại hóa thơ Việt. Và vì thế, không phải ngẫu nhiên
khi tác giả Thi nhân Việt Nam tìm thấy ở Tản Đà sự đồng điệu với các nhà thơ
mới: Tiên sinh đã cùng chúng tôi chia sẻ một nỗi khát vọng thiết tha, nỗi khát
vọng thoát ly ra ngoài cái tù túng, cái giả dối, cái khô khan của khuôn sáo. Đôi
bài thơ của tiên sinh ra đời từ hơn hai mơi năm trớc đã có một giọng phóng túng
riêng. Tiên sinh đã dạo những bản đàn mở đầu cho một cuộc hòa nhạc tân kỳ đơng sắp sửa [60, 12].
Thứ hai là giai đoạn về cơ bản hoàn tất một quá trình hiện đại hóa (1932 1945).
Giai đoạn 1932 - 1945 là chặng hoàn tất một quá trình hiện đại hóa văn
học dân tộc. Riêng với thơ, đây là giai đoạn đánh dấu bớc ngoặt quan trọng trong
lịch sử hình thành và phát triển hơn mời thế kỷ. Với phong trào Thơ mới, thơ
Việt Nam đã làm một cuộc cách mạng toàn diện, sâu sắc, triệt để để bớc sang
phạm trù hiện đại.
Năm 1932, bằng việc trình làng một bài thơ phá cách tên là Tình già, Phan
Khôi chính thức lên tiếng đòi cải cách thơ ca và trở thành ngời nổ phát súng lệnh
mở đầu cho phong trào Thơ mới. Để rồi, những Lu Trọng L, Huy Thông và nhất
là Thế Lũ - ngôi sao sáng nhất của bầu trời Thơ mới buổi đầu - đem về chiến
thắng cho Thơ mới trong cuộc đấu tranh thật sự không dễ dàng gì với thơ cũ. Và
sau đó, những Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính,
Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ, Thâm Tâm đa Thơ mới đạt đến đỉnh cao (trong
những năm 1936 - 1939) với những tìm tòi, sáng tạo theo hớng hiện đại. Từ 1940
đến 1945, Thơ mới bắt đầu khủng hoảng. Trong thơ, xuất hiện nhiều khuynh hớng khác nhau: khuynh hớng thoát ly vào Đạo, vào vũ trụ; khuynh hớng đi vào
đời sống trụy lạc và khuynh hớng làm ảo thuật ngôn từ. Tuy nhiên, đây không
phải là một bớc lùi của thơ ca dân tộc mà chỉ là thời kỳ thoái trào của một
phong trào thơ ca khi nó đã hoàn thành nhiệm vụ, sứ mệnh lịch sử của mình.
Với phong trào Thơ mới, thơ Việt Nam thực sự mang một diện mạo mới diện mạo của thơ hiện đại. Cái tôi bản ngã đợc phát huy tận độ, tối đa (vì thế, có
lúc không tránh khỏi những biểu hiện cực đoan). Cái tôi ấy đợc đặt ở trung tâm
dung cũng nh hình thức thể hiện. Thực tế cho thấy thơ Việt Nam 1945 - 1975 đã
giải quyết đợc hai nhiệm vụ cơ bản đó, góp phần hoàn thiện diện mạo thơ Việt
Nam hiện đại.
Trong những năm kháng chiến, thơ ca thuộc về quần chúng, hớng đến
quần chúng chứ không còn là ngôi đền thiêng cách biệt mà chỉ thi nhân mới đợc bớc chân vào [40, 161]. Nó mở ra cánh cửa giao lu với hiện thực, hay nói
đúng hơn, nảy nở trên chính mảnh đất thực tế kháng chiến. Thơ ca mở rộng đề
tài, khai thác những chất liệu phong phú trong mọi khía cạnh của đời sống. Các
nhà thơ đi tìm chất thơ từ trong cuộc sống kháng chiến gian khổ, khắc nghiệt;
phát hiện vẻ đẹp trong hành động và tâm hồn con ngời kháng chiến.
Thơ kháng chiến cũng thay đổi vai trò và bản chất của cái tôi trữ tình.
Trong thơ, cái tôi vốn là một khái niệm kép bao gồm hai mặt: một là cái tôi với
20
t cách chủ thể t duy, cái tôi hoạt động nhận thức; hai là cái tôi với t cách khách
thể, đối tợng của cảm thụ, của nhận thức. Nếu nh trong Thơ mới 1932 - 1945, cái
tôi trữ tình chủ yếu tồn tại ở dạng thứ hai thì trong thơ kháng chiến, cái tôi lại
chủ yếu tồn tại ở dạng thứ nhất. Cái tôi này thờng xuất hiện với t cách cái tôi
công dân, không tách rời mình làm thế giới mà giao hòa, kết hợp với những cá
thể khác để trở thành chúng ta, chúng tôi, bọn chúng ta, lũ chúng tôi,
ta[40, 182]. Cái tôi cá nhân vẫn đợc nói đến nhng rất ít và thờng đợc nói đến
trong sự thống nhất giữa hai phạm trù riêng - chung.
Nếu nh đóng góp lớn nhất của Thơ mới về phơng diện ngôn ngữ là ở câu
thơ điệu nói thì đến lợt mình, thơ kháng chiến đã phát triển thêm một bớc tính
chất điệu nói trong ngôn ngữ thơ. Thơ kháng chiến lấy ngôn ngữ cụ thể, sinh
động, phong phú của chính đời sống làm ngôn ngữ thơ. Thơ kháng chiến thu
nhận vào nó tất cả sự phong phú của lời ăn tiếng nói quần chúng, những khẩu
ngữ sinh hoạt hàng ngày. Điều này mở ra cho thơ khả năng to lớn trong việc
miêu tả hiện thực và diễn đạt tâm trạng.
tợng trng, siêu thực; bốn là, xu hớng hiện đại chủ nghĩa. ở xu hớng thứ nhất,
hiện thực chiến tranh đợc hiện lên trong các tác phẩm không phải là thứ hiện
thực nhìn thấy nh trớc 1975 mà chủ yếu là hiện thực đợc cảm thấy, đợc nhớ
lại. Hiện thực ấy không chỉ đợc nhìn từ mặt trớc mà còn đợc nhìn từ phía sau với
bao nỗi đau trĩu nặng, bao nhức nhối khó lành. ở xu hớng thứ hai, các nhà thơ
nói nhiều hơn về nỗi buồn nhân sinh, về những cảm nhận của cái tôi trớc một
thực tại khắc nghiệt. Đó không hẳn là nỗi buồn kiểu thơ mới mà là nỗi buồn
gắn chặt với một thực tại mới, một cảm quan nghệ thuật mới. Có nỗi buồn về
thần tợng bị gãy đổ, ảo tởng bị tan vỡ, có nỗi buồn vì cuộc sống mu sinh làm cho
con ngời chỉ chú ý chuyện tồn tại [] và có những trắc ẩn về riêng t [11, 380].
ở xu hớng thứ ba, các nhà thơ tập trung tìm hiểu cấu trúc cái tôi trong quan hệ
với chính nó. Lúc này, thơ là hình ảnh nội tâm về thế giới nội tâm, là ý thức
chống lại các quy định có sẵn trong thơ, là sự khớc từ sự có mặt của t duy duy lý
trong nghệ thuật [11, 381]. ở xu hớng thứ t, những cây bút trẻ trởng thành sau
1975 nh Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Bình Phơng, Phan Huyền Th, Vi Thùy
Linh, Nguyễn Hữu Hồng Minh muốn tạo nên màu sắc nổi loạn, thủ tiêu mọi
nhân quả vẫn thờng thấy trong thơ ca truyền thống, sử dụng những liên tởng trái
chiều và những kênh ngôn ngữ khác lạ để tạo nên cái mới trong thơ [11, 382].
Trong đời sống thơ ca sau 1975, thơ tự do và thơ văn xuôi luôn chiếm u
thế, thậm chí áp đảo các thể thơ khác. Điều này khẳng định khả năng vợt trội của
cả hai thể thơ trong việc cho phép nhà thơ triển khai tự do hơn những phức hợp
cảm xúc cá nhân, tổ chức nhịp điệu linh hoạt hơn, mở cửa cho chất tiểu thuyết
(chất văn xuôi) vào thơ. Đồng thời, nó cho thấy tính hiện đại trong thơ sau 1975.
Các thể thơ truyền thống nh lục bát, thơ 5 chữ, thơ 7 chữ vẫn tồn tại nhng đã đợc
nới lỏng cấu trúc. ở thơ 5 chữ và 7 chữ, tính điệu nói đợc gia tăng thêm một bớc nữa, cấu trúc thể loại dựa vào nhịp nhiều hơn vần, giọng điệu thơ gân guốc
hơn, các liên tởng thơ ít tuân theo quan hệ nhân - quả hơn. Thể thơ lục bát đợc
cách tân về bài trí văn bản, về giọng điệu. Thể trờng ca cũng tỏ ra không thua
kém thơ tự do, thơ văn xuôi và các thể thơ truyền thống. Khi chiến tranh đi qua,
nhu cầu viết trờng ca xuất hiện ở nhiều nhà thơ. Để rồi, vào những năm cuối thế
kỷ XX, ngời đọc đợc chứng kiến sự nở rộ của thể loại này.
cho ý thức cá nhân đợc thức tỉnh. Ngời ta đã có một cái nhìn tỉnh táo về cuộc
sống, thoát ra khỏi t tởng thần bí, siêu hình khi xa. Lúc này, hoạt động văn học
đã trở thành một hoạt động nghề nghiệp, công chúng văn học đợc mở rộng và thị
hiếu của nó tác động mạnh mẽ vào sáng tác. Lý tởng thẩm mĩ của ngời nghệ sĩ
không đặt vào sự thống hợp thế giới mà đặt vào cá nhân, vào sự phát triển tự do
của cá tính, vào cái thờng nhật, cái hiện tại. Tất cả những điều này có tác dụng
giải phóng thơ thoát khỏi khuôn thức sáng tạo cứng nhắc của thơ trung đại.
Cũng giống nh thơ Việt Nam trung đại, thơ Việt Nam hiện đại có một hệ
thống thi pháp của riêng nó. Do mối quan hệ tơng tác hết sức phức tạp giữa các
trào lu, khuynh hớng và phong cách nghệ thuật khác nhau nên khái quát về thi
pháp của thơ hiện đại là một việc làm cực kỳ khó khăn. Nhng nh vậy không có
nghĩa là không thấy đợc những khác biệt cơ bản về thi pháp giữa hai loại hình
thơ trung đại và hiện đại. Thực tế vận động và phát triển của thơ Việt Nam thế kỷ
XX đã khẳng định: thơ Việt Nam hiện đại đã thoát khỏi thi pháp thơ trung đại
23
với đặc trng nổi bật là cái tôi vô ngã, cái tôi vũ trụ, là hệ thống ớc lệ dày đặc,
phức tạp, nghiêm ngặt, là ngôn ngữ mang tính chất điệu ngâm. Thi pháp thơ
hiện đại là một hệ thống thi pháp mở, thu nạp rất nhiều tiếng nói, nhiều tìm tòi
của nhiều cá tính sáng tạo khác nhau. Thậm chí, trong lòng hệ thống này còn
chứa đựng không ít những yếu tố đối lập, tranh luận, phản bác lẫn nhau, thể hiện
qua những cuộc bứt phá liên tiếp, tơng ứng với tính chất của thời đại là luôn luôn
xáo động, đổi mới và phát triển. Với cái tôi đầy bản ngã (ngay cả khi nó hòa
nhập với cộng đồng) đợc tồn tại ở nhiều dạng thức khác nhau, với ngôn ngữ
mang tính chất điệu nói, với sự đa dạng, linh hoạt trong kết cấu, giọng điệu,
bút pháp, thơ Việt Nam hiện đại đã đáp ứng đợc nhu cầu trữ tình của con ngời
thời hiện đại. Điều này không chỉ cho thấy sự khác biệt giữa thi pháp thơ hiện
đại và thi pháp thơ trung đại mà còn khẳng định sự thay thế tất yếu thi pháp thơ
câu thơ, ngời ta phân ra thành hai hệ thống:
- Hệ thống các thể thơ có nguồn gốc ngoại nhập: thơ cổ phong và thơ Đờng luật (các dạng).
- Hệ thống các thể thơ có nguồn gốc nội sinh: thơ lục bát, song thất lục
bát, hát nói.
Đối với loại hình thơ hiện đại, sự phân chia trong hệ thống thể thơ có phần
phức tạp hơn (do sự phong phú và biến hóa của các thể thơ, do sự giao thoa giữa
chúng). Dựa vào cách tổ chức câu thơ, ngời ta chia ra thơ cách luật, thơ tự do và
thơ văn xuôi. Dựa vào số tiếng trong câu thơ, kết quả lại là thơ lục bát, song thất
lục bát, thơ 5 chữ, thơ 6 chữ, thơ 7 chữ, 8 chữ Dựa vào vần thơ, ta có thơ có
vần, thơ không vần, thơ phối xen có vần và không vần. Mỗi tiêu chí phân loại nói
trên đều có những u điểm và hạn chế nhất định. Theo chúng tôi, để có một hình
dung toàn diện về hệ thống thể thơ hiện đại, cần kết hợp ở một mức độ nào đó tất
cả các tiêu chí phân loại. Từ hớng đi này, chúng tôi khái quát hệ thống thể thơ
của loại hình thơ hiện đại bằng mô hình sau:
Thơ hiện đại
Thơ cách luật
Thơ tự do
Trờng ca
Lục bát
Đờng luật
Song thất lục bát
Số tiếng cố định
chống Pháp của dân tộc. Ông đến với thơ khi nó đã thoát ra khỏi sự ràng buộc
25
của hệ thống thi pháp trong thơ trung đại và mang diện mạo mới - diện mạo của
thơ hiện đại - đợc định hình từ Thơ mới 1932 - 1945. Khác với các nhà thơ lớp
trớc đang chuyển mình để chín lại với Cách mạng, Nguyễn Đình Thi đến với
cuộc đời mới bằng những suy nghĩ hồn nhiên, chân thực của tâm hồn, đem đến
cho thơ một tiếng nói mới.
Trong những năm kháng chiến và thời kỳ đầu lập lại hòa bình, Nguyễn
Đình Thi nổi lên thật mới mẻ và sáng tạo với hai tập thơ Ngời chiến sĩ (1956) và
Bài thơ Hắc Hải (1959). Bằng sự trải nghiệm của ngời trong cuộc, Nguyễn Đình
Thi đã thể hiện tâm hồn và cuộc sống chiến đấu của những ngời chiến sĩ với
không ít gian khổ, mất mát, hy sinh (Ngời tử sĩ, Ngời lính Điện Biên, Ai biết tên
các anh), với lòng căm thù giặc (Về nhà, Em bé gái Vân Đình), với niềm vui
chiến đấu và niềm tin chiến thắng (Chiều qua đờng số 4, Lá cờ, Lên đờng),
những suy nghĩ, tự hào về đất nớc (Đêm sao, Quê hơng Việt Bắc, Lúa, Chiều vui,
Đất nớc) và tình yêu trong chiến đấu (Không nói, Bài thơ viết cạnh đồn Tây,
Nhớ, Đóa hoa nghệ). Trong thơ ông, hình ảnh ngời chiến sĩ của những năm
kháng chiến chống Pháp mang một vẻ đẹp riêng không dễ lẫn. Nhà thơ nhìn họ
đúng với cái chân chất cách mạng, không có gì là hoa mỹ, hào nhoáng:
Giữa súng đạn ngổn ngang bờ núi
Đoàn quân nằm ngủ dới mây trời...
Đêm mai súng chuyển trời Đông Bắc
Trong sắt lửa ào ào nh thác
Đoàn quân dữ dội phá đồn
(Bài thơ viết cạnh đồn Tây)
So với hình ảnh ngời chiến sĩ trong thơ Tố Hữu, Chính Hữu, hình ảnh
ngời chiến sĩ trong thơ Nguyễn Đình Thi còn ít những nét khắc họa cụ thể . Thế
chúng ta lại đợc khơi dậy từ những rung động tinh tế về mùa thu Hà Nội. Có thể
nói, Nguyễn Đình Thi đã thể hiện tình yêu quê hơng đất nớc bằng tâm hồn, trái
tim của một ngời Hà Nội (chứ không chỉ bằng tâm hồn của một ngời lính). Đây
chính là dấu ấn riêng và cũng là đóng góp riêng của nhà thơ cho đề tài quê hơng
đất nớc trong thơ kháng chiến.
Ngay trong tập thơ đầu tay - Ngời chiến sĩ, Nguyễn Đình Thi đã tìm thấy
sự thống nhất giữa tình yêu quê hơng đất nớc và tình yêu đôi lứa. Từ cuộc sống
chân thực của mình, từ những nhu cầu nội tâm tha thiết của mình, nhà thơ đã
mạnh dạn thể hiện những khía cạnh mới của tình yêu trong chiến đấu. Trong thơ
ông, tình yêu đôi lứa gắn liền với tình yêu lý tởng, hòa quyện vào tình yêu đất nớc. Đây là nét chủ đạo của những bài thơ viết về tình yêu trong kháng chiến.
Điểm khác biệt giữa Nguyễn Đình Thi với các nhà thơ cùng thời khi thể hiện
điều này có lẽ là ở chỗ: ông đã mạnh dạn (cũng có thể nói là khá táo bạo) đem
đặt tình yêu lứa đôi ngang với tình yêu đất nớc:
Anh yêu em nh anh yêu đất nớc
Vất vả đau thơng tơi thắm vô ngần
(Nhớ)
và cũng không hề che giấu những cảm giác xót xa, mất mát (Về nhà, Không nói),
điều mà văn học kháng chiến, trong đó có thơ ca kháng chiến, thờng hạn chế đến
mức tối đa; không hề tạo ra trờng bi quan, ủy mị, yếu đuối bao quanh những cảm
giác rất thành thực đó.
ở mỗi bài thơ trong tập Ngời chiến sĩ, Nguyễn Đình Thi đều có ý thức
khái quát hóa nghệ thuật. Nhà thơ chọn lọc những hình ảnh tiêu biểu để qua đó
thấy đợc diện mạo của đời sống và chân dung tinh thần của ngời chiến sĩ. Ông ít
27
vận dụng yếu tố chính luận. Sức khái quát nghệ thuật thờng đợc rút ra từ những
hình ảnh và những liên tởng bên trong. ở tập thơ này, Nguyễn Đình Thi đã mạnh
dạn tìm cho thơ một hình thức mới - hình thức thơ không vần. Tuy vấp phải sự
Em bảo anh Đâu chỉ đôi ta
Không có đợc bình thờng tuổi trẻ
Em bảo anh Hôm nay ta bên nhau
Còn bao đồng chí nằm hầm sâu
28
(Em bảo anh)
Cách thể hiện tình yêu nh vậy chính là sự gặp gỡ của phần lớn những bài
thơ viết về tình yêu trong thơ Việt Nam 1945 - 1975. Nó làm thành một nét đặc
thù của thơ kháng chiến so với Thơ mới 1932 - 1945, đồng thời cũng hạn chế
khả năng khai thác sâu vào thế giới tâm hồn của thơ kháng chiến. Thơ Nguyễn
Đình Thi, trong một số trờng hợp, cũng không tránh khỏi những hạn chế này.
Nếu nh trong hai tập thơ trớc, mạch thơ đi vào thể hiện những tình cảm
truyền thống của dân tộc thì đến tập thơ này, mạch thơ đợc mở rộng ra, hớng
đến những tình cảm quốc tế. Tiêu biểu nh các bài thơ Em gái Hirôsima, Bà cụ
già ở Tôkyô, Gọi Hôkusai, Tiếng đàn Kô - tô, Màu mùa thu, Lá th xa. Tuy những
tình cảm quốc tế trong các bài thơ kể trên cha thực sự sâu sắc và còn thiếu sự tự
nhiên, nhuần nhuyễn nh nhiều bài thơ trong tập Ra trận của Tố Hữu nhng chính
cảm hứng mới mẻ này đã tạo ra chất mới cho thơ Nguyễn Đình Thi. Một mặt,
nó làm phong phú nội dung tập thơ, mặt khác, khẳng định tầm nhìn mới của ngời
nghệ sĩ trong thời đại mới.
Sau 1975, thơ Nguyễn Đình Thi không trực tiếp phản ánh hiện thực chiến
tranh mà thiên về thể hiện sự suy ngẫm, chiêm nghiệm về một thời đã qua. Lúc
này, giọng thơ Nguyễn Đình Thi trở nên trầm lắng, lời thơ vừa chất chứa suy t,
vừa có ý nghĩa khẳng định mạnh mẽ:
Ta không quên
Buổi chiều lầy lội bên bờ cỏ ấy
Bùn bết máu trên mặt ngời tử sĩ
tập thơ sau 1975 của Nguyễn Đình Thi. Nó đa đến một giọng điệu mới cho thơ
ông: giọng suy t, chiêm nghiệm trở thành giọng chủ đạo (khác với trớc đó, giọng
ngợi ca, khẳng định, đầy tự hào là giọng chủ đạo). Nó cũng chi phối đến tính
chất của hình ảnh thơ. Nếu nh ở các tập thơ trớc 1975, hình ảnh thơ chủ yếu là
những hình ảnh chân thực của cuộc sống kháng chiến, những hình ảnh có tính
chất biểu tợng hầu nh rất ít thì ở các tập thơ sau 1975, hình ảnh có ý nghĩa tợng
trng đợc gia tăng. Có thể kể đến hình ảnh dòng sông (Nh dòng sông, Mùa xuân,
Dòng sông vẫn rì rào), con đờng (Buổi chiều Vàm Cỏ, Trên con đờng nhỏ), núi,
biển (Núi và biển), trăng (Với Lý Bạch đêm nay) Tất cả đã thâu tóm những suy
nghĩ của tác giả về cuộc đời, góp phần làm nên phong cách nghệ thuật thơ
Nguyễn Đình Thi.
Trong ba tập thơ sáng tác sau 1975, các thể thơ đã đợc Nguyễn Đình Thi
sử dụng trong các tập thơ trớc vẫn phát huy những khả năng biểu đạt tình cảm
của chúng. Riêng với thơ tự do không vần, sau khi trình làng trong tập Ngời
chiến sĩ, nó đã gặp không ít ý kiến phản đối nên phải vắng mặt tạm thời trong
tập Dòng sông trong xanh. Đến Tia nắng, Trong cát bụi, Sóng reo, thơ tự do không vần đờng hoàng xuất hiện trở lại trong hàng loạt bài thơ nh: Một niềm vui
một nỗi buồn, Hoa vàng, Cách mạng, Không sợ và sợ, Nhìn xem, Từ bên ấy
trông về, Ngõ tối, Ước mong, Sen biếc, Hoa không tên, Nơi em, Một ngày, Trở
lại Mờng Luông Lúc này, nó không còn gặp bất kỳ sự phản đối nào. Bởi lẽ,
cùng với thời gian, nó đã đợc thừa nhận là một hình thức của thơ hiện đại, một
hình thức có khả năng diễn tả hiện thực đời sống cũng nh hiện thực tâm hồn của
con ngời trong thời đại mới. Và Nguyễn Đình Thi không còn là một trờng hợp dị
biệt, cá biệt sử dụng hình thức này để sáng tác.
ở ba tập thơ sáng tác sau 1975, cũng nh nhiều nhà thơ khác, Nguyễn Đình
Thi đã tìm đến hình thức thơ văn xuôi. Tuy không đợc xem là thể thơ sở trờng