Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
--------------
PHM TH MINH HIU
TRUYN NGN NGUYN NGC T
T GểC NHèN THI PHP HC
Chuyên ngành: lý luận văn học
Mã số: 60.22.32
Luận văn thạc sĩ ngữ văn
Ngườiưhướngưdẫnưkhoaưhọc:
pgs.ts.NGUYN NG IP
Vinh - 2009
1
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Những ai quan tâm đến đời sống văn học trong những năm gần
đây, hẳn đã rất quen thuộc với cái tên Nguyễn Ngọc Tư. Tuy mới bước vào
làng văn nhưng chị đã sớm khẳng định được tài năng và bản lĩnh của mình.
Chị đã thể nghiệm mình ở các thể loại bút kí, tạp văn, song được đánh giá
cao nhất ở lĩnh vực truyện ngắn. Đặc biệt là vừa qua, chị đã vinh dự được
nhận giải thưởng văn học ASEAN 2008. Có thể nói, trên địa hạt văn học
Miền Nam còn khá khiêm tốn, Nguyễn Ngọc Tư xuất hiện như một đột phá,
đa dạng về đề tài, phong phú về nội dung mà còn có nhiều thể nghiệm, cách
tân về thi pháp. Mỗi nhà văn đều lí giải cuộc sống từ một góc nhìn riêng, với
những cách xử lí chất liệu ngôn từ riêng. Vì vậy, giải quyết đề tài này còn
cho thấy những đóng góp của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư trên chặng đường
hiện đại hoá của văn học Việt Nam và đồng thời góp phần nhận diện những
đặc điểm cơ bản của truyện ngắn Việt Nam đương đại.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Cho đến nay, các ý kiến đánh giá về tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư
khá đa dạng, phong phú, bao gồm nhiều luồng ý kiến khen chê khác nhau
nhưng tập trung chủ yếu ở mảng truyện ngắn.
2.1. Người ta thấy có một khoảng cách rất rõ giữa Nguyễn Ngọc Tư
trong các truyện ngắn trước và sau Cánh đồng bất tận. Từ tập truyện đầu tay
Ngọn đèn không tắt đến các tập Biển người mênh mông, Giao thừa và
Nước chảy mây trôi, điểm dễ thấy là Nguyễn Ngọc Tư thường viết về những
câu chuyện nhỏ nhẹ, man mác buồn. Những câu chuyện ấy đề được kể rất
chân thành, giản dị với một văn phong hồn nhiên, đầy phương ngữ của đồng
bằng Nam Bộ. Chị được gọi là “nhà văn của xóm rau bèo” (Quang Vinh), là
“đặc sản Miền Nam” (Trần Hữu Dũng), được đánh giá là người “điềm đạm
mà thấu đáo” trên từng trang viết (Dạ Ngân). Các tác phẩm của chị gắn liền
với ruộng đồng lam lũ, với cảnh sông nước Miền Tây và những con người thì
hiền lành, thẳng thắn, bộc trực và đầy tình nghĩa.
3
Về tập truyện ngắn Nước chảy mây trôi, Minh Phương nhận xét:
“Những truyện ngắn này được tác giả khai thác nhẹ nhàng mà sâu sắc. Người
viết không đặt vấn đề trong sự va đập gay gắt của hoàn cảnh và cùng không
đẩy tới tận cùng những xung đột quyết liệt của tính cách mà đi sâu vào tâm
trạng nhân vật làm nổi bật chủ đề và bộc lộ những phẩm chất tốt đẹp của con
người” [68]. Nhà văn Dạ Ngân đánh giá: “Nguyễn Ngọc Tư giỏi ở chỗ cái
thịt với ruộng đồng lam lũ, với mảnh đất mà chị hiểu sâu xa tường tận hơn cả
so với bất kỳ vùng đất nào khác. Tập truyện này đã đặc biệt thu hút được sự
chú ý của dư luận trong và ngoài nước. Các ý kiến khen có, chê có, nhưng đa
số thiên về khẳng định tài năng văn chương của Nguyễn Ngọc Tư. Một số
bài không đồng tình với lối viết mới của chị như “Im lặng thở dài” của bác
sỹ Đỗ Hồng Ngọc (báo Tuổi trẻ, 30/11/2005) hay bài “Nói nhỏ cho Tư
nghe” của doanh nhân Lê Duy (báo Văn nghệ Trẻ - 16/4/2006), tỏ ý lên
giọng kẻ cả xem nhẹ tài năng, thậm chí là trình độ học vấn của Nguyễn Ngọc
Tư. Hoặc như bài “Bênh vực truyện đạo văn - đạo đức hay văn hoá” của Lý
Nguyên Anh (báo Văn nghệ Trẻ số 40, 1/10/2006) nhân việc dư luận xung
quanh hai truyện ngắn Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư và Dòng
sông tật nguyền của Phạm Thanh Khương có sự giống nhau, đã hạ một câu:
“Nhân đây cũng nói thêm rằng, dù vì lý do nào đi chăng nữa, dù ai hết lời tán
dương đi chăng nữa, tôi cũng coi hai truyện ngắn đồng sàng dị mộng ấy là
những tác phẩm hết sức tật nguyền” [3]. Tác giả Bùi Việt Thắng trong “Bài
học văn chương từ Cánh đồng bất tận” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Văn
học, số 7/2006 nhận xét: “Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư còn quá non nớt, chưa
đủ bản lĩnh nghệ thuật, và phải chăng chính Nguyễn Ngọc Tư quá sớm khi
sống trong ánh hào quang do dư luận tạo nên... và đặc biệt Tư còn quá ít kinh
nghiệm sống, một nền văn hoá cần thiết” [81]. Về phương diện ngôn ngữ,
Bùi Việt Thắng nhận xét: “văn viết Nguyễn Ngọc Tư rất gần với văn nói”
[81]. Ông đưa ra những dẫn chứng cụ thể là các tác giả Nam Bộ như Bình
Nguyên Lộc, Nguyễn Quang Sáng là những nhà văn Nam Bộ một trăm phần
trăm nhưng họ vẫn là nhà văn chung của độc giả cả nước. Từ những phân
tích và nhận xét chủ quan của mình, ông đi đến kết luận: “Nguyễn Ngọc Tư
5
đang đi từ trong kênh rạch ra biển lớn, thiết nghĩ, nhà văn phải có ý thức lao
động nghệ thuật nhiều hơn nữa để cho tác phẩm của mình trở thành tài sản
những tác phẩm thu hút được đông đảo sự chú ý của bạn đọc nhất, và như
vậy nó đã có một đời sống phong phú và có ý nghĩa rồi.
2.3. Có thể nói, truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư được tiếp cận và lý
giải từ nhiều khía cạnh khác nhau. Ở phương diện nội dung, có rất nhiều bài
viết đi sâu phân tích, tìm hiểu về nhân vật và nội dung hiện thực được phản
ánh trong tác phẩm. Qua đó, hoặc là nhằm đối chiếu nội dung hiện thực trong
tác phẩm với hiện thực đời sống bên ngoài để đánh giá mức độ chân thực của
tác phẩm; hoặc là để khẳng định giá trị và nhân cách, bản lĩnh của nhà văn
Nguyễn Ngọc Tư như giá trị nhân văn, tài phân tích tâm lý nhân vật, cách
nhìn lạc quan về con người và cuộc sống…
Bên cạnh lối tiếp cận ở phương diện nội dung, một số bài viết đã bước
đầu tìm hiểu tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư ở kết cấu, ngôn ngữ, không
gian, thời gian… nhưng phần lớn chỉ tập trung ở tác phẩm Cánh đồng bất
tận. Bài viết "Cánh đồng bất tận, nhìn từ mô hình tự sự và ngôn ngữ trần
thuật” của tác giả Đoàn Ánh Dương (Tạp chí Văn học số 2, 2007) là một
cách tiếp cận truyện ngắn Cánh đồng bất tận từ góc nhìn cấu trúc.
Tác giả Hoàng Thiên Nga qua bài “Đọc Nguyễn Ngọc Tư qua Cánh
đồng bất tận” cũng đã cắt nghĩa sự hấp dẫn từ đầu đến cuối của truyện ngắn
này bằng lối viết “không cũ mòn, không nhàm chán, mạch văn liên kết chặt
chẽ bởi vô số chi tiết hình ảnh thú vị, cốt truyện hình thành theo dòng suy
tưởng của nhân vật xưng tôi, nhẫn nhịn, lặng lẽ mà xuyên mỗi lúc một sâu,
phơi mở tận đáy tâm hồn, tính cách, số phận con người” [53].
Bài “Thời gian huyền thoại trong Cánh đồng bất tận của Nguyễn
Ngọc Tư”, tác giả Mai Hồng đã khá tiêp cận Cánh đồng bất tận từ góc độ
không gian, thời gian như là một điểm “làm mới” trong chặng đường sáng
tác của Nguyễn Ngoc Tư: “Cánh đồng bất tận viết về thời gian của kiếp
người du mục qua những miền nhân cách, tính cách, số phận con người.
Không gian trong truyện không có gì mờ ảo, vì nó là một không gian mà sự
sống phủ lớp áo bàng bạc bất tận. Nhưng thời gian của truyện đã được ảo hoá
7
ngắn Nguyễn Ngọc Tư một cách khái quát và khoa học hơn.
8
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn thi pháp học,
chúng tôi giải quyết các nhiệm vụ sau:
Trước tiên, tìm hiểu về quan nịêm nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tư, vì
quan niệm nghệ thuật của mỗi nhà văn có vai trò chi phối đối với các phương
diện nghệ thuật khác như cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ…
Sau đó, chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu về các phương diện nghệ thuật
khác như điểm nhìn trần thuật, ngôn ngữ, giọng điệu... để thấy được đặc
điểm riêng biệt, độc đáo của truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư.
4. PHẠM VI KHẢO SÁT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1. Phạm vi khảo sát
Giải quyết đề tài này, phạm vi khảo sát của chúng tôi là những tập
truyện ngắn đã xuất bản của Nguyễn Ngọc Tư:
- “Ngọn đèn không tắt”
(Nhà xuất bản Trẻ - 2000)
-“Biển người mênh mông”
(Nhà xuất bản Kim Đồng - 2003)
-“Giao thừa”
(Nhà xuất bản Trẻ - 2003)
-“Nước chảy mây trôi”
ngắn Nguyễn Ngọc Tư
Chương 3: Tổ chức trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
10
Chương 1
QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ
1.1.
Quan niệm nghệ thuật về con người
1.1.1. Khái niệm
Phạm trù quan niệm nghệ thuật đã được các nhà thi pháp Nga đề xuất
từ đầu thế kỉ XX, về sau được M. Bakhtin nâng cao và ngày nay đang trở
thành tài sản của thi pháp học hiện đại. Trong cuốn Dẫn luận thi pháp học,
Trần Đình Sử nêu lên định nghĩa: “Quan niệm nghệ thuật về con người là sự
lí giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con người đã hoá thân thành các phương tiện,
biện pháp thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị thẩm mỹ cho các
hình tượng văn học” [72, 41]. Ông cũng đã xác định thêm rằng, không phải
là bất cứ cách cắt nghĩa, lí giải nào về con người cũng là quan niệm nghệ
thuật về con người, mà chỉ là những cắt nghĩa có tính phổ quát, tột cùng
mang ý vị triết học, nó thể hiện cái giới hạn tối đa trong việc miêu tả con
người. Tác giả Nguyễn Thị Bích Hải trong cuốn Thi pháp Thơ Đường (Nhà
xuất bản Thuận Hoá) cho rằng: “Quan niệm nghệ thuật của con người là một
phạm trù quan trọng trong tác phẩm văn học. Nó hướng ta nhìn về đối tượng
chủ yếu là văn học, trung tâm của quan niệm thẩm mỹ là người nghệ sỹ.
Hình tượng nghệ thuật (nhân vật – con người) xuất hiện trong văn học bao
giờ cũng mang tính quan niệm, tức là miêu tả, phản ánh thể hiện nhân vật
thái ý thức xã hội tất yếu cũng làm mới mình để đáp ứng yêu cầu này. Lẽ dĩ
nhiên, bất cứ thời đại nào, văn học cũng không bao giờ xa rời tiêu chí tối
thượng Chân - Thiện - Mĩ. Tuy nhiên, nhu cầu người đọc hôm nay đòi hỏi ở
văn học một sự “trở mình” để làm tốt hơn thiên chức và sứ mệnh của nó.
Quan niệm nghệ thuật về con người chính là dấu hiệu chủ yếu để nhận
ra sự vận động, đổi mới của một nền nghệ thuật mới. Một nền nghệ thuật
mới bao giờ cũng ra đời cùng với con người mới, với cách hiểu mới về con
người hoặc bắt đầu bằng việc suy nghĩ lại các khám phá nghệ thuật của
những người đi trước. Có người còn coi quan niệm con người tạo thành nhân
tố vận động của nghệ thuật, thành bản chất nội tại của hình tượng nghệ thuật.
12
Quả là sự vận động của đời sống làm nảy sinh quan niệm mới về con người,
và cách miêu tả con người bằng cách hiểu mới sẽ làm đổi mới văn học.
Như vậy, xét đến cùng, lịch sử văn học là lịch sử của những quan niệm
khác nhau về con người. Văn học chiến tranh đã tạo dựng thành công kiểu
con người sử thi, biểu trưng cho cộng đồng. Cuộc kháng chiến đã đem lại
cho con người vẻ đẹp lí tưởng mà nói như A. Niculin, nhân vật được "tắm
rửa sạch sẽ và bao bọc trong bầu không khí vô trùng" (nhân vật của Nguyễn
Minh Châu). Nhân vật luôn trùng khít với địa vị xã hội của mình và luôn ở
trạng thái đơn trị, nhất phiến. Văn học sau 1975 hướng đến khám phá và tạo
dựng con người thế sự - đời tư, con người cá nhân với những phức tạp và bí
ẩn của nó. Nhà văn cắt nghĩa sự tồn tại của con người không phải ở vị thế
nhà đạo đức, nhà tuyên huấn mà là nhà triết học, nhà tư tưởng. Con người
được nhìn ngắm từ nhiều toạ độ nên nhiều chiều, đa nhân cách, vừa có "rồng
phượng lẫn rắn rít, thiên thần và ác quỷ" và nhìn chung, nó toàn diện và sâu
sắc hơn. Văn học giai đoạn 1945 – 1975 khám phá con người thống nhất
hoàn toàn với yêu cầu của lịch sử, khám phá và ngợi ca những con người tiên
tiến, con người anh hùng, lí tưởng. Còn trong văn học sau 1975 nhà văn đã
một vài kiểu loại nhân vật được phân chia theo nhiều tiêu chí khác nhau
trong văn xuôi đương đại. Nếu như trước đây, khắc hoạ tính cách điển hình
theo quan niệm điển hình hoá của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa là
mục tiêu hướng tới của các nhà văn trong xây dựng nhân vật thì nay nhân vật
không còn lệ thuộc vào chức năng thể hiện tính cách, nhà văn có quyền lựa
chọn và sáng tạo tự do đối với nhân vật của mình.
“Văn học sau 1975 ngày càng đi tới một quan niệm trọn vẹn và sâu sắc
hơn về con người mà nền tảng triết học và hạt nhân cơ bản của quan niệm ấy
là tư tưởng nhân bản. Con người vừa là điểm xuất phát, là đối tượng khám
phá chủ yếu, vừa là cái đích cuối cùng của văn học, đồng thời cũng là điểm
quy chiếu, là thước đo giá trị của mọi vấn đề xã hội, mọi sự kiện mà biến cố
lịch sử” [47].
14
1.2.
Quan niệm nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
1.2.1. Cái nhìn độc đáo về con người
1.2.1.1. Con người nhỏ bé, cô đơn
Con người trong văn học hôm nay được nhìn nhận và đánh giá trong
mối quan hệ đa chiều, với đầy đủ mọi góc cạnh và sự phong phú phức tạp
của nó. Con người nhỏ bé, cô đơn là kết quả của sự tự ý thức của con người
cá nhân cá thể trong hoàn cảnh xã hội, sự cảm thấy của nhân vật trong khi
đối diện với cuộc đời mênh mông rộng lớn và đầy bất hạnh khổ đau. Không
phải đến Nguyễn Ngọc Tư thì con người nhỏ bé, cô đơn mới xuất hiện trong
văn học. Con người nhỏ bé, cô đơn, xuất hiện trong văn học phương Tây từ
trong các sáng tác của Sêkhốp, Puskin, Gôgôn..., trong văn học Việt Nam từ
ngỡ là câu chuyện thời xa xưa, chính xác hơn là một chút ngỡ ngàng, bây giờ
mà cũng có những mảnh đời vậy”. Trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, con
người cảm thấy nhỏ bé, cô đơn bởi vì nhiều nguyên nhân: vì cuộc sống
nghèo khổ, quanh năm làm lụng vất vả nhưng không đủ ăn, không đủ để cất
dựng nổi một mái nhà; vì con người lưu lạc, trôi nổi nay đây mai đó giữa
cuộc đời mênh mông rộng lớn; vì thấy thân phận tủi nhục và bế tắc; hay vì
lòng người bạc bẽo, đổi thay. Có lúc họ cũng có những mơ ước, khát khao về
cuộc sống no đủ, tình yêu, hạnh phúc, và một mái ấm gia đình, khao khát
làm vợ, làm mẹ, nhưng ước mơ mãi mãi vẫn chỉ là mơ ước. Họ rơi vào sự lạc
lõng cô đơn, sự nhàm chán và cô độc giữa cuộc đời mà không cách gì thoát
ra được.
Trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, chúng ta bắt gặp một thế giới
nhân vật là những con người nghèo khổ, họ ở tận cùng của xã hội. Họ quanh
năm làm lụng vất vả mệt nhọc nhưng cũng không đủ ăn, không đủ sống. Như
người đàn ông làm nghề nuôi vịt chạy đồng trong truyện Cái nhìn khắc
khoải, sống một mình, không nhà cửa, không người thân. Người đàn ông đến
cái tuổi đáng lẽ ra phải được sum họp quây quần với con cháu, nhưng ông
vẫn cô độc, chỉ có con vịt xiêm tên Cộc làm bạn, hơn thế nữa, ông coi nó như
con, như người bạn tâm tình tri kỷ. Ông chăm sóc, vuốt ve, nói chuyện với
nó như với người. Vì cái nghèo nên con người ta đã cô đơn lại càng trở nên
16
cô độc hơn: “Nghề nuôi vịt mà, nghèo, lang thang, đeo mang người nữa,
không đành” [89, 51]. Nghèo mà không cưới được người thương: “thằng Hết
được, hiền, giỏi giang, chịu khó lại hiếu thảo. Nhưng nó nghèo quá, thân sơ
thất sở không một cục đất chọi chim...” [89, 31]. Những nhân vật trong
truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư đều là những con người nghèo khổ, đều có số
phận long đong, vất vả, những thân phận trôi nổi, lưu lạc, nhưng tác giả
không chủ ý miêu tả cái nghèo. Viết về cái nghèo là một đề tài không mới.
đầm đìa vào mùa. Tôi thường ngồi ở bờ ruộng, mắt trông chừng bầy vịt,
không cho chúng lân la đến những đám mạ muốt xanh, và da diết thèm
người, thèm được nói chuyện/ Bây giờ, quay quanh tôi bao nhiêu là người,
tôi lại thèm cảnh đồng nước vắng tanh...” [89, 48]. Có thể nói, những số phận
trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư là những con người sống giữa mọi
người, nhưng cô đơn khắc khoải, cô độc đến hoang hoải, chán chường.
Con người cô đơn, bé nhỏ là một cách quan niệm, lý giải của Nguyễn
Ngọc Tư về cuộc đời và con người. Trong cuộc đời thật, chị là một kẻ cô
đơn, nên trong tác phẩm, những nhân vật của chị là những mảnh đời, những
thân phận cô đơn, lạc lõng, bé nhỏ.
1.2.1.2. Con người trôi nổi, lưu lạc
Con người trôi nổi, lưu lạc là số phận của con người nhỏ bé. Lưu lạc
xảy ra như là một định mệnh khắc nghiệt, một số phận xẩy lặp của hầu hết
các nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư. Đây cũng chính là một đặc
điểm của con người vùng đồng bằng sông nước Miền Tây, nơi nhà văn sinh
ra và lớn lên, gắn bó. Đồng thời, viết về những con người lưu lạc, sống trôi
nổi là cái duyên của nhà văn, như tâm sự của chị: “Hồi nhỏ tôi mê phim kiếm
hiệp, có mấy anh chàng hiệp khách rày đây mai đó, gặp ai yêu nấy, gặp ai
đánh nấy, tôi khoái. Hai năm gần đây, tôi thường hay đi, đi bụi, gặp tối thì
ngủ, gặp đói thì ăn. Và thời gian phần nhiều trên những chiếc xe đò, tôi nghĩ
về một câu chuyện về cuộc đi bất tận của những người không tên tuổi...”
[14]. Không phải đến Nguyễn Ngọc Tư thì con người trôi nổi, lưu lạc mới đi
vào trong văn học. Văn chương của các tác giả đồng hương với chị như Mạc
Can, Nguyễn Ngọc Thuần, và trước đó nữa là Hồ Biểu Chánh, Sơn Nam,
18
Đoàn Giỏi, đều bàng bạc cảm thức về con người lưu lạc. Nhưng chỉ đến
Nguyễn Ngọc Tư thì con người lưu lạc mới được thể hiện một cách đậm đặc
và day dứt tâm can người đọc, làm thức dậy những ám ảnh về thân phận con
đời du mục, tới những chỗ vắng người. Ở đó ít ai phát hiện ra sự khác thường
của gia đình tôi, và ít hỏi cái câu “Má mấy đứa nhỏ đâu?” [89, 173]. Cũng có
lần hai đứa trẻ tưởng sẽ chấm dứt được cảnh lưu lạc đó bằng mối tình giữa
người cha và người đàn bà ở xóm Bàu Sen. Nhưng rồi họ lại trượt dài theo
những dòng sông, triền miên, vô định, họ không phân biệt được “chúng tôi
bỏ đi hay chạy trốn”. Hai đứa trẻ không hề biết rằng, chính trong những dặm
đường lưu lạc đó, tâm hồn chúng đã lưu lạc, đánh mất sự bình thường từ lúc
nào. Trong tác phẩm, không chỉ ba cha con họ, mà tất cả những con người
trong truyện đều là những kiếp sống lưu lạc, mỗi người chỉ dạt vào câu
chuyện một chốc lát, nhiệt thành thể hiện khát vọng sống mạnh mẽ bằng sự
chấp nhận và đánh đổi, rồi lại trôi dạt đến một phương trời khác. Chỉ một
chút đó thôi, họ cũng kịp vẽ lên trong hình dung của người đọc một vấn đề
nhân sinh nhức nhối. Truyện được gắn kết bằng những phiến đoạn tâm lý,
trong đó, mỗi phiến đoạn là một sân ga ghi dấu nỗi xót xa tê tái mà con tàu
thời gian chỉ dừng đủ cho một thân phận tấp vào trong tấp tểnh hi vọng, để
rồi khi họ vừa kịp nhận ra đó không phải là “bến đợi” thì tàu đã lăn bánh.
Nguyễn Ngọc Tư đã rất nhiều lần để cho nhân vật của mình lạc mất cả
loài người, đến mức họ quên mất cả tiếng người, nhớ con người ngay cả khi
ở gần con người (Cánh đồng bất tận, Gió lẻ). Hai chị em Nương và Điền
trong Cánh đồng bất tận vì theo cha sống trôi nổi, lênh đênh hết mùa này
qua mùa khác, chỉ toàn đến những nơi không có bóng người. Ngay cả người
mà hằng ngày vẫn gần gũi với các em nhất là người cha thì đôi lúc “hơi khác
con người” vì lạnh lùng và tàn nhẫn quá mức. Chính vì vậy mà họ có những
cảm xúc khác thường: “... nhiều lúc tôi hơi nhớ con - người. Họ ở trong cái
xóm nhỏ kia, chỉ cách chỗ chúng tôi dựng trại vài ba công đất. Họ lúc nhúc
trên thị trấn kia, [...]. Và họ ở gần ngay đây, họ vừa gặt lúa vừa nói chuyện
tục tĩu rồi cười vang bên bầy vịt đang rúc rích tìm thức ăn, nhưng tôi vẫn
nhớ...” [89, 177].
20
Không thể phủ nhận rằng con người ai cũng muốn mình có được hạnh
phúc. Nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư cũng “khắc khoải” tìm kiếm hạnh phúc
cho mình. Đọc văn của chị, ta bắt gặp những cô gái mang trong mình một
trái tim khao khát yêu thương và được yêu thương, khao khát được làm vợ,
làm mẹ, khao khát một mái ấm gia đình dù bình thường nhưng hạnh phúc:
“Buổi sáng chở mớ rau vườn ra chợ, mua ít thức ăn mang về nấu bữa cơm
trưa, chiều phụ chồng mần cỏ rẫy, chạng vạng chờ chồng từ ngoài đìa vác
một mớ bông súng bước vô nhà... Và để được nghe con trai mình nói với
mình những câu chuyện chỉ để dàng nói cho má nó nghe thôi”, “thử thương
tôi đi, tôi sẽ giúp thằng Bầu nấu cơm, vá áo, giúp anh lau ống khói, châm dầu
cái đèn chong nhỏ, giữ cho ngọn lửa suốt đêm ngày le lói đỏ như giữ vạn
truyền thống nhà mình đã trăm năm nay” (Một mối tình). Những người đàn
ông cũng luôn “khắc khoải” trên hành trình tìm kiếm tình yêu, hạnh phúc:
“Con Cộc mổ vô ống quyển ông, rồi nhóng cần cổ dòm ông lom lom, có phải
ông chờ bà đó quay lại không? Ông nhìn lên ngọn tràm và thấy mấy cái bông
vàng như vấy con sâu rọm đang dịu dàng rơi xuống. Có phải chỉ cần nhìn lại
một chút, ông sẽ thấy ngọn khói bay lên không? Gió lùa lá chuối khô giống
hệt bước chân ai vây. Ông mắc ngoài nhìn...” (Cái nhìn khắc khoải). Khát
khao hạnh phúc dường như là điều luôn thường trực trong mỗi người, kể cả
những cô gái điếm, dù đã đi vào con đường lầm lạc nhưng họ vẫn luôn nghĩ
về gia đình, về chồng con: “Và Vĩnh để cô lại bên mình rất lâu, chỉ vì cô
luôn nấn ná chờ hết chương trình xem phim mới chịu trút áo xuống trước
mặt anh, đôi nam nữ trong bộ phim Hàn đã đến được với nhau, cô vui, nhưng
khi họ gặp trắc trở, nước mắt cô tràn trụa, cô còn buộc miệng chửi thề mỗi
khi vai ác bắt đầu bày ra âm mưu thâm độc nào đó [..] Vĩnh để cô ở lại lâu, vì
lúc gần sáng cô nhớ con, nhớ chồng thường dịch ra mép giường chênh vênh
và khóc” (Sầu trên đỉnh Puvan). Hạnh phúc không chỉ là ước muốn của
những con người bình thường, mà còn là của những con người bệnh tật (như
sức mạnh nâng đỡ họ đứng lên và tiếp tục sống. Đó cũng chính là phẩm chất
tâm hồn đáng quý của các nhân vật Nguyễn Ngọc Tư, là điểm dễ gây sự
đồng cảm, lòng yêu mến hay xót xa, day dứt trước những số phận con người.
23
Tuy nhiên, nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư nhiều khi chỉ dừng lại ở sự khao
khát mà không có những hành động để đạt được những niềm mong ước đó.
Vì vậy, văn Nguyễn Ngọc Tư là trang văn của những nỗi niềm, nỗi đau, là
thế giới tâm hồn, nội tâm của nhân vật. Mỗi truyện ngắn như một lời tâm sự
chân thành mà thấm thía, khơi gợi suy nghĩ của người đọc và có sức lay động
sâu xa.
1.2.2. Quan niệm về nghề văn
Bạn đọc biết đến nhà văn Nguyễn Ngọc Tư qua những tác phẩm đầu
tay như Ngọn đèn không tắt, Ngổn ngang, Chuyện của Điệp... nhưng phải
đến Cánh đồng bất tận thì phong cách của chị mới thực sự nổi đình nổi đám.
Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn của miệt vườn, nhà văn của đồng bằng sông
nước Nam Bộ, của mảnh đất Cà Mau yêu thương, nhiều tình nghĩa. Chị được
đánh giá là “Nhà văn của xóm rau bèo”, là “Đặc sản Miền Nam”, “Quả sầu
riêng của trời”. Sự việc Ban tuyên giáo tỉnh uỷ Cà Mau phê phán và kiểm
điểm tác giả của Cánh đồng bất tận quả là một “tai nạn nghề nghiệp” đối với
Nguyễn Ngọc Tư. Lý do chị bị lãnh đạo tỉnh phê phán, cũng như những nhận
xét không đồng tình từ phía người đọc là: “Câu chuyện về mối quan hệ gia
đình, cha con trong truyện phản ánh không đúng cuộc sống, tâm tư người
dân Cà Mau. Cả những tội ác trong truyện cũng rất hoang đường” (anh Vũ
Bình Lương, Phó phòng bảo vệ chính trị Công an tỉnh Cà Mau), “Cần phải
có thực tiễn cuộc sống, cái đẹp, cái tốt, mà xã hội đang xây dựng và phát
triển. Tất nhiên, cần phê phán cái chưa tốt, nhưng phải đúng hiện thực và có
định hướng cho con người đến cái chân - thiện - mỹ” (Ban truyên giáo tỉnh
uỷ Cà Mau). Đối với nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, đây là một sự việc mà cô
mình”, chị vẫn “có cảm giác mình chỉ chạm tới lớp ngoài của mảnh đất này”
mà thôi [43]. Nhưng chị vẫn luôn tìm tòi, trăn trở để đưa đến cho bạn đọc
những tác phẩm hay và hấp dẫn. Chị nói: “Tôi nghĩ đến một giai đoạn nào đó
người ta cũng phải thay đổi, có lẽ đó cũng là quy luật tự nhiên thôi. Ai tự tô
vẽ cho văn chương một sự màu mè quá đáng, giả tạo thì người đọc nhận ra
ngay” (theo Thể thao và Văn hoá, “Nguyễn Ngọc Tư: Văn học trẻ chưa có xu
hướng riêng”). Ở một nơi khác chị cũng nói: “Tôi muốn tuỳ nghi, sống và
25