Sự điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của nhật bản từ 1991 2006 - Pdf 32

Bộ GIáO DụC Và ĐOà TạO
TRờng đại học vinh

Nguyễn văn tuấn

Sự điều chỉnh trong chínhnsáchđối
ngoại của nhật bản từ 1991 - 2006.

Luận văn thạc sỹ khoa học lịch sử

Vinh 2007
A. mở đầU
1. Lý do chọn đề tài.
ở mỗi giai đoạn giao thời của lịch sử, đều xuất hiện những cơ hội cũng
nh thách thức đối với mọi dân tộc; có những dân tộc này mạnh lên, đồng thời
lại có dân tộc khác yếu đi nếu họ đi ngợc lại với xu thế của lịch sử hoặc bỏ lỡ
thời cơ chốc lát cũng đã bị tụt hậu rồi. Đồng thời cũng cần thấy rằng, bản sắc
mỗi dân tộc chỉ có thể đợc bộc lộ đầy đủ trớc mỗi bớc ngoặt của lịch sử; mỗi
quốc gia chỉ có thể phát triển lên từ bản sắc của mình trong xu thế chung của
thời đại [6; 32].

1


Nếu đem quan điểm trên đây để xem xét tình hình quốc tế nói chung và
khu vực châu á - Thái Bình Dơng thời kỳ sau Chiến tranh lạnh nói riêng thì có
thể thấy rằng, tất cả các nớc đều đứng trớc những cơ hội cũng nh thách thức về
cơ bản là tơng tự nhau: Thời đại toàn cầu hoá - khu vực hoá của nền kinh tế
thế giới; thay đổi chiến lợc quốc gia cho phù hợp với tình hình mới; nâng cao
vị thế của mình trên trờng quốc tế Có thể nói, Chiến lạnh kết thúc đã tạo ra
một diện mạo mới cho các quan hệ quốc tế, ở đó tồn tại nhiều xu h ớng mang


kinh tế của Nhật Bản tuy không đạt mức tăng trởng cao nh những thập kỷ
1960 - 1970, nhng đất nớc này vẫn là một trong những cờng quốc hàng đầu về
kinh tế. Năm 1997 thu nhập bình quân đầu ngời của Nhật Bản là 33.090 USD,
tức chỉ đứng thứ hai sau Thụy Sĩ (37.050 USD) và vợt trên Xingapo (30.500
USD), Mỹ (28.480 USD), Hồng Kông (24.455 USD), Pháp (24.040 USD),
Anh (20.860 USD). Vào thời điểm kết thúc Chiến tranh lạnh, Nhật Bản là nớc
có dự trữ ngoại tệ lớn nhất thế giới (224,4 tỷ USD), vợt xa nớc đứng thứ hai là
Trung Quốc (130 tỷ USD) và gấp 4 lần so với Mỹ (56,1 tỷ USD). Tuy nhiên,
bớc sang thập niên 90 Nhật Bản cũng phải đối mặt với nhiều vấn đề quốc nội
gay gắt trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội... mà hậu quả của nó
không dễ gì khắc phục đợc và sẽ là gánh nặng khi Nhật Bản bớc vào thiên
niên kỷ mới.
Tất cả những thách thức nói trên, đã buộc Nhật Bản phải có những điều
chỉnh trong chính sách đối ngoại bên cạnh những cải cách kinh tế, chính trị,
xã hội trong nớc. Thực tế đã có nhiều công trình nghiên cứu khá sâu sắc
những biến đổi của Nhật Bản thời kỳ này, nhất là trong lĩnh vực kinh tế. Tuy
nhiên, các công trình nghiên cứu về lĩnh vực đối ngoại của Nhật Bản cha đợc
đề cập nhiều ở Việt Nam, đặc biệt là cha có công trình nào nghiên cứu về sự
điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời kỳ này. Một số công
trình đã đề cập đến chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời kỳ sau Chiến tranh
lạnh, nhng cha tập trung đi sâu nghiên cứu về sự điều chỉnh của nó.
Những biến động ở Nhật Bản đã và đang thu hút sự quan tâm của nhiều
học giả, các nhà quản lý kinh tế, giới lãnh đạo chính trị... trên thế giới. Tuy
phạm vi chuyên môn, mục đích nghiên cứu, phơng pháp tiếp cận của các nhà
khoa học khác nhau, nhng nhiều kết quả thu đợc thực sự là những đóng góp có
giá trị trong việc nâng cao nhận thức về con ngời và xã hội Nhật Bản, cũng nh
về mô hình Nhật Bản. Khi nghiên cứu về Nhật Bản, ngời ta dễ nhận thấy một
đặc điểm nổi trội là: Nhật Bản là nớc rất thức thời, rất nhanh nhạy trớc những
biến đổi của thời cuộc. Điều này đợc thể hiện rõ nét trong chiến lợc đối ngoại

Nhật Bản nói riêng, làm cho mối quan hệ giữa hai nớc ngày càng phát triển
lên tầm cao mới tơng xứng với tiềm năng và lòng mong đợi của nhân dân hai
nớc. Đó là dấu hiệu chứng tỏ với Nhật Bản và cộng đồng quốc tế về khả năng
thích ứng của Việt Nam với môi trờng quốc tế đầy biến động sau Chiến tranh
lạnh. Việt Nam có thể hội nhập, Việt Nam sẵn sàng đối mặt với những thách
thức trong một t thế chủ động.
2. Lịch sử vấn đề.
Nhật Bản từ lâu là đối tợng quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả trên
thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Từ đầu thế kỷ XVII, để phục vụ
cho công việc truyền giáo, nhiều giáo sĩ châu Âu đã bắt đầu tìm hiểu về Nhật
Bản. Năm 1603, cuốn "Từ điển Bồ - Nhật" đầu tiên đã đợc xuất bản ở

4


Nagasaki. Trong các thế kỷ sau đó, ngời châu Âu đã viết về Nhật Bản nh một
thị trờng hấp dẫn và ngày càng đi sâu nghiên cứu về Nhật Bản nhiều hơn.
Cải cách Minh Trị diễn ra làm cho xã hội Nhật Bản thay đổi nhanh
chóng. Những thành tựu to lớn mà Nhật Bản đạt đợc từ cuộc chuyển biến này
đã thu hút tâm lực của đông đảo giới nghiên cứu cả trong và ngoài nớc Nhật.
Phần lớn các công trình nghiên cứu về giai đoạn này thờng tập trung theo
khuynh hớng ca ngợi công cuộc cải cách. Khuynh hớng đó nổi bật lên vào
những năm 1960 - 1970, khi Nhật Bản "cất cánh" sau Chiến tranh thế giới thứ
hai (1939 - 1945).
Việt Nam có nhiều điểm gần gũi với Nhật Bản, là hai nớc trong khu vực
châu á, lại có nhiều điểm tơng đồng về mặt văn hoá. Nhật Bản từ lâu là đối tợng nghiên cứu của nhiều học giả ở nớc ta. Với cải cách Minh Trị thành công,
đặc biệt từ khi Nhật Bản cất cánh, trở thành hiện tợng thần kỳ sau Chiến
tranh thế giới thứ hai, nghiên cứu về Nhật Bản đã trở thành hiện tợng phổ biến.
Từ năm 1991 đến nay, trong xu thế toàn cầu hoá - khu vực hoá, các
quốc gia nói chung, Nhật Bản nói riêng đều muốn tìm kiếm vị thế mới của

3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Qua phần lý do chọn đề tài, đối tợng nghiên cứu của đề tài là "Sự điều
chỉnh trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản từ 1991 - 2006". Về chính sách
đối ngoại của Nhật Bản từ năm 1991 - 2006 có nhiều vấn đề, nhng ở đây chúng
tôi chỉ nhấn mạnh những nội dung của "Sự điều chỉnh" đó mà thôi.
Về thời gian, chúng tôi chỉ đề cập đến giai đoạn từ 1991 - 2006, tức là từ
sau khi kết thúc Chiến tranh lạnh, đến khi Thủ tớng Koizumi mãn nhiệm. Tuy
nhiên, để làm rõ "Sự điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản từ
1991 - 2006", chúng tôi cũng đề cập đến chính sách đối ngoại của Nhật Bản
những năm trớc đó.
Chính sách đối ngoại đợc hiểu trong công trình này bao gồm các khía
cạnh chính trị, ngoại giao, an ninh và quan hệ kinh tế quốc tế của Nhật Bản.
4. Nguồn t liệu, phơng pháp nghiên cứu và đóng góp của luận văn.
4.1. Nguồn t liệu.
Luận văn đợc thực hiện dựa trên những nguồn tài liệu chủ yếu sau:
* Các tài liệu gốc: Bao gồm những bài phát biểu, sắc lệnh, tuyên bố của
các nguyên thủ quốc gia Nhật Bản nh: Thủ tớng, Bộ trởng Ngoại giao... mà
chúng tôi tiếp cận đợc từ nguồn tài liệu của Liên Hợp Quốc, cũng nh của Đại sứ
quán Nhật Bản tại Việt Nam.
* Các công trình nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Nhật Bản trớc và
sau Chiến tranh lạnh của các tác giả trong và ngoài nớc (đã đợc dịch), mà
chúng tôi tiếp xúc đợc từ Trung tâm nghiên cứu Nhật Bản, Trung tâm nghiên
cứu Đông Bắc á và các th viện lớn của quốc gia.
4.2. Phơng pháp nghiên cứu.

6


Với đối tợng và phạm vi đợc xác định nh trên, để giải quyết những yêu
cầu của đề tài, về mặt phơng pháp luận, chúng tôi dựa vào quan điểm chủ nghĩa


7


*
*

*

B. nội dung
Chơng 1:
Những nhân tố chi phối sự điều chỉnh chính sách đối
ngoại của Nhật Bản từ 1991 - 2006
1.1. Khái quát chính sách đối ngoại của Nhật Bản trớc năm 1991.
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Nhật Bản là nớc bại trận trớc quân
Đồng minh, theo sự tho thuận của Hội nghị Ianta (2-1945), Nhật Bản không
đợc có quân đội riêng và phải chịu cho quân đội Đồng minh đóng trên đất
Nhật. Là nớc bại trận, nền kinh tế bị kiệt quệ, lại phải chịu nhiều điều khoản
ràng buộc mang tính quốc tế, Nhật Bản buộc phải tuân theo chiếc gậy chỉ huy
của Mỹ, nhất là trong chính sách đối ngoại và quan hệ quốc tế. Điều này mở
ra một thời kỳ mới trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản. Thời kỳ đối
ngoại của Nhật Bản là sự "theo đuôi" của Mỹ, là cái bóng của Mỹ. Kết qủa đó
vừa là sự phản ánh thực trạng của Nhật và Mỹ sau Chiến tranh thế giới thứ hai,
vừa là sự lựa chọn của hai nớc này.
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản buộc phải chọn Liên Xô hoặc
chọn Mỹ làm đồng minh chiến lợc của mình. Sự lựa chọn thứ nhất là không
thực tế, bởi vì sự chiếm đóng sau chiến tranh, sự giúp đỡ toàn diện của Mỹ để
phục hồi nớc Nhật đã đặt dấu chấm hết cho sự lựa chọn này. Mặc dù trong
suốt thập niên đầu sau chiến tranh, tâm lý thù hận đối với việc Mỹ ném hai
quả bom nguyên tử vẫn còn sôi sục trong các tầng lớp xã hội ngời Nhật. Tất

mặc dù đôi khi điều đó làm phơng hại đến lợi ích của Nhật Bản.
Nh mọi ngời điều biết, chính sách mở cửa của Nhật Bản đợc bắt đầu từ
kỷ nguyên Minh Trị, nhng sự ảnh hởng có hiệu quả nhất của chính sách này
tới sự phát triển nhiều mặt của Nhật Bản phải kể đến thời kỳ sau Chiến tranh
thế giới thứ hai, gắn liền với sự lan toả của nền văn minh kinh doanh Hoa Kỳ.
Cho đến tận ngày nay, ngời Nhật đã hình thành cho mình một quan niệm là
"học cách kinh doanh của Hoa Kỳ và làm kinh doanh ở Nhật Bản". Quan niệm
này đợc các thế hệ cha mẹ truyền lại cho con cháu và đợc lớp trẻ chấp nhận
một cách tự giác. Mặc dù trong hơn một thập niên gần đây nhiều công ty của
Nhật đã đuổi kịp và vợt các công ty của Mỹ trong một số lĩnh vực công nghệ
ứng dụng nhng những quan niệm đó vẫn không bị xét lại, phần đông ngời
Nhật coi trọng phơng thức kinh doanh kiểu Hoa Kỳ và luôn khiêm tốn tự xếp

9


mình đứng sau ngời Mỹ. Hàng năm, số sinh viên Nhật Bản đến học tập và tốt
nghiệp ở Mỹ tăng lên rất nhanh. Sự nhận thức đó vừa là kết quả của chính
sách mở cửa, kết quả của nền "ngoại giao nhân dân", vừa là kết quả của chính
sách đối ngoại của Nhật Bản đối với Hoa Kỳ trong nhiều thập niên qua.
Do nhận thức đợc sự đảm bảo an ninh của Mỹ, Nhật Bản giành mọi sự u
tiên cho phát triển kinh tế. Cơ chế chính trị pháp quyền của Nhật Bản sau
chiến tranh đợc rập khuôn theo kiểu Hoa Kỳ, nhất là cơ cấu quốc hội và chính
phủ, tất nhiên yếu tố Nhật Bản vẫn đợc duy trì và đan xen. Nhng vua chỉ là tợng trng, thể hiện sự kế thừa, ghi nhận sự đóng góp về mặt truyền thống của
các bậc tiền bối và điều này đợc nhân dân thừa nhận và hiến pháp quy định.
Chính cơ chế chính trị pháp quyền tự nó đã gạt bỏ ra khỏi cơ thể của nó các
yếu tố trì trệ và cản trở sự phát triển của đất nớc mà một số nhà nghiên cứu gọi
đây là mô hình nhà nớc mạnh và thông minh, để từ đó xây dựng một hệ thống
chính sách, trên cơ sở luật hoỏ chúng, tác động vào sự phát triển kinh tế. Đây
chính là một nhân tố khiến cho nền kinh tế Nhật Bản đã đạt đợc nhiều bớc tiến

thế của mình lúc bấy giờ, Nhật Bản phải núp sau cái ô của Mỹ và trong chính
sách đối ngoại, họ đã không thoát ra khỏi cái bóng của Mỹ. Có thể nói chính
sách đối ngoại của Nhật Bản thời kỳ trớc năm 1991 không có gì là nổi bật, có
chăng chỉ là sự phụ thuộc nặng nề vào Mỹ, làm theo Mỹ. Đó là nét chính trong
chính sách đối ngoại của Nhật Bản trong thời kỳ Chiến tranh lạnh. Nhng điều
này đã có sự thay đổi khi Chiến tranh lạnh kết thúc. Lúc này Nhật Bản đã vơn
lên thành một siêu cờng kinh tế lớn thứ hai thế giới và tình hình quốc tế, khu
vực cũng đã thay đổi. Đây chính là thời cơ để Nhật Bản vơn lên tìm kiếm vị thế
mới trên trờng quốc tế.
1.2. Sự thay đổi của tình hình quốc tế và khu vực.
Vào đầu thp niờn 90 ca th k XX, Liên Xô tan ró và kéo theo đó là sự
sụp đỗ của hệ thống XHCN ở các nớc Đông Âu. Đây là một biến động bất
ngờ, làm đảo lộn cả cục diện thế giới vốn từng tồn tại nhiều thập kỷ trớc đó.
Có lẽ ít ai có thể ngờ tới sự thay đổi lại nhanh chóng đến nh vậy, Liên Xô một cờng quốc XHCN từng là đối thủ ngang sức ngang tài với Mỹ đã tan rã
sau biến cố năm 1991. Sự tan rã của Liên Xô và phe xhcn đã chấm dứt một
thời kỳ đối đầu căng thẳng và báo hiệu kết thúc Chiến tranh lạnh. Kể từ đây,
cục diện thế giới đã thay đổi và bớc sang một thời kỳ mới.
Sau Chiến tranh lạnh, thế giới từ chỗ đối đầu về quân sự chuyển sang
cạnh tranh kinh tế là chính, thế giới đang tiến nhanh tới một nền kinh tế không
biên giới và điều đó đã khiến cho sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nớc ngày
càng nhiều hơn. Trong tiến trình toàn cầu hoá các hoạt động kinh tế này, Nhật
Bản đang phát triển quan hệ hữu cơ với các quốc gia trên thế giới thông qua
các hoạt động kinh tế đối ngoại: buôn bán, đầu t trực tiếp, chế tạo ở nớc ngoài

11


và sự dịch chuyển của các dòng vốn quốc tế. Xu hớng tch và kvh vừa tạo
ra những thuận lợi vừa là một trở ngại đối với Nhật Bản khi cạnh tranh kinh tế
ngày càng trở nên quyết liệt. Sự cọ xát về lợi ích và nhu cầu của Nhật Bản với



còn gây đột ngột vào cuối thp niờn 90 (chỉ riêng năm 1998, vốn đầu t t nhân
rút khỏi khu vực này là 92,6 tỷ USD, cao nhất từ trớc đến nay và cao gấp 3
năm 1997) [15; 27 - 28].
Sự bất ổn của dòng vốn này cũng là một nguyên nhân làm cho khủng
hoảng tài chính tiền tệ châu á ngày càng trở nên trầm trọng hơn và gây ra
những hậu quả tồi tệ không chỉ riêng khu vực mà cả hệ thống tài chính thế
giới.
Dù có sự bất ổn định, song phải nói rằng, tự do hoá, tch trong thp niờn
90 ca th k XX đã tạo ra sự thông thoáng cả về cơ chế lẫn phơng thức chu
chuyển hàng hoá và vốn. Do vậy, không gian thị trờng trở nên rộng mở hơn,
cho phép tạo ra năng suất và hiệu quả kinh tế cao hơn. Xét ở khía cạnh đó, tự
do hoá, tch đã thúc đẩy sự phát triển của kinh tế thế giới và suy rộng ra là
của loài ngời.
Thứ hai, mức độ tự do hoá, tch không đồng đều. Nh đã phân tích ở trên,
tự do hoá, tch đã đa lại những kết quả to lớn, xét ở phơng diện chung là có
lợi cho toàn cầu. Song, đây cũng là một quá trình phức tạp, đan xen các mâu
thuẫn, các mối quan hệ tác động nhiều chiều. Bên cạnh xu hớng tch mạnh
mẽ đã xuất hiện nhiều nhân tố chống lại nó. Đấu tranh chống lại quá trình đó
không chỉ giới hạn ở một số quốc gia, một bộ phận dân c mà đó còn là một xu
thế, đặc biệt sức mạnh của kvh. Vì thế, nhìn lại những năm trong thp k 90
ca th k XX có thể cho ta một nhận xét tổng quát rằng: mức độ và quy mô
tự do hoá, tch diễn ra không đồng đều, biểu hiện ở một số điểm sau:
* Tình trạng bất ổn của thị trờng:
Trên thực tế, những năm ca thp k 90 là thời kỳ của việc chuyển giao
thời cuộc. Do vậy, với một cục diện chính trị quốc tế cha rõ ràng thì khó có thể
có đợc một thị trờng chung ổn định và phát triển đồng đều. Tham gia vào quá
trình tự do hoá, tch không chỉ là những nớc có nền kinh tế thị trờng phát
triển mà còn rất nhiều nớc (đặc biệt là các nớc XHCN) chập chững bớc trên

gia, khu vực. Có thể nói tiến trình tự do hoá, tch diễn ra trong sự cạnh tranh
quyết liệt để tìm một cơ chế mới phù hợp với các quan hệ quốc tế, trớc hết là
quan hệ kinh tế. Tham gia vào quá trình tch bao gồm nhiều chủ thể khác
nhau nh công ty, tập đoàn, chính phủ, các tổ chức quốc tế và dân chúng... Hơn
nữa, nó không chỉ đơn thuần về kinh tế mà còn tác động và xâm nhập vào
nhiều lĩnh vực khác nhau của cuộc sống nh chính trị, văn hoá, xã hội. Vì vậy
quá trình tự do hoá, tch không làm mất đi tính cạnh tranh mà ngợc lại càng
làm cho cuộc đụng độ này ngày càng trở nên quyết liệt hơn. Trên thực tế, việc
phân chia thị trờng, kiểm soát khu vực không đủ sức chống lại tch. Vì vậy

14


đã có không ít công ty, tập đoàn bị thua lỗ tạo nên làn sóng sát nhập các công
ty không chỉ ở một nớc mà cả trên thế giới.
Chống lại quá trình tch còn thể hiện ở việc ra đời nhiều liên minh kinh
tế, tập đoàn hoá, đa nguyên hoá và khu vực hoá. Điều này phản ánh cuộc đấu
tranh để bảo vệ lợi ích quốc gia, khu vực trớc xu thế toàn cầu hoá. Cuộc đấu
tranh sẽ vẫn tiếp tục, tuy nhiên, xét ở góc độ khác thì đây lại chính là động lực
của sự phát triển.
Những cơ hội và cả thách thức của quá trình tự do hoá, tch đã tác động
mạnh mẽ đến các quốc gia nói chung và Nhật Bản nói riêng . Tự do hoá thơng
mại và mở cửa thị trờng đã tạo điều kiện cho Nhật Bản tiếp tục duy trì thị trờng Bắc Mỹ và châu Âu, chúng sẽ phục vụ tốt cho quá trình đa dạng hoá các
sản phẩm xuất khẩu của Nhật Bản. Đối với các nớc châu á, chính sách của
các nớc này là rất đa dạng. Nhìn chung, tất cả các nớc thành công trong phát
triển kinh tế đều là những nớc có chính sách hớng ngoại cao. Với kinh nghiệm
của các nớc NIE và một số nớc ASEAN đi trớc, các nớc đang phát triển còn lại
ở châu á nh Trung Quốc, Việt Nam... đều nhận thấy tầm quan trọng của nền
kinh tế mở cửa đối với sự phát triển của đất nớc. Do đó, khu vực châu á - Thái
Bình Dơng vẫn là nơi hấp dẫn nhất đối với Nhật Bản cả về thơng mại lẫn đầu

kinh tế to lớn. Tuy vậy, sự xuất hiện của các tổ chức kinh tế khu vực đã và
đang thúc đẩy các quan hệ kinh tế quốc tế phát triển mạnh mẽ hơn, cả phạm vi
trong và ngoài khu vực.
Đồng thời với xu hớng kvh, xu hớng kvh cũng đợc đẩy mạnh. Thế
giới trong những năm gần đây đang đợc chứng kiến sự lớn mạnh của các khối
liên kết khu vực nh EU, NAFTA, APEC, ASEAN và cả các tổ chức liên kết
khác ở châu Phi và Mỹ latinh.
Cần phải lu ý rằng, chiến lợc mở rộng ASEAN thành 10 nớc và sự ra đời
của Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), đã biến Đông Nam á thành thị
trờng rộng lớn. Theo nhiều nhà dự báo, việc hợp tác phát triển kinh tế với khu
vực ASEAN sẽ không có bất lợi nào đối với buôn bán và đầu t của Nhật Bản,
mà ngợc lại sự hợp tác này còn có những tác động tích cực. Nếu các nớc
ASEAN hợp tác trong các ngành công nghiệp, có các dự án liên doanh thì sẽ
đẩy nhanh đợc tốc độ tăng trởng công nghiệp của ASEAN, tạo ra một khu vực
kinh tế thống nhất có chung những chính sách phát triển công nghiệp sẽ làm
cho quan hệ thơng mại giữa Nhật Bản và ASEAN thuận lợi hơn. Bên cạnh đó,
Nhật Bản và các nớc châu á - Thái Bình Dơng cũng đang tích cực tìm kiếm
con đờng xây dựng tổ chức liên kết kinh tế khu vực do sự phụ thuộc lẫn nhau
ngày càng gia tăng: sự gần gũi về địa lý, sự tơng đồng về văn hoá và xu hớng
tự do hoá về thơng mại mà APEC là một thử nghiệm của sự liên kết đó. Hơn
nữa, EU nay đã là một khối kinh tế lớn nhất thế giới và đang gây ra những lo

16


ngại về sự tơng hợp của nó với hệ thống toàn cầu. Nếu NAFTA mở rộng thành
khối buôn bán độc quyền ở Bắc Mỹ thì sẽ đẩy nhanh khuynh hớng kvh và
điều này sẽ tạo ra lý do để các nhóm tiểu khu vực ở châu á theo đuổi các biện
pháp hạn chế đầu t và buôn bán.
Nh vậy, vẫn còn nhiều nhân tố không ổn định đối với tơng lai của chế độ

17


trong một thế giới mà sự đối đầu về quân sự không còn thì quyền lực kinh tế
sẽ ngày càng trở nên quan trọng và nó sẽ xác định địa vị của các quốc gia.
Trật tự thế giới mới sau Chiến tranh lạnh dù nh thế nào thì Nhật Bản, với cơ sở
kỹ thuật và kinh tế của mình, vẫn sẽ là một quốc gia có vai trò to lớn trong trật
tự mới đó. Vì vậy, xác định rõ các lợi thế so sánh của Nhật Bản trong quan hệ
với thế giới là mấu chốt quan trọng trong việc hoạch định chính sách đối ngoại
và an ninh của nớc này.
Những thay đổi của môi trờng quốc tế tạo cơ hội cho Nhật Bản tiếp tục
thực hiện chính sách theo đuổi các mục tiêu kinh tế và những mục tiêu có tính
chính trị hơn. Nhật Bản đang dùng quyền lực kinh tế của mình để gây ảnh hởng và để có vai trò lớn hơn. Tác động quyền lực của Nhật Bản về kinh tế,
chính trị, văn hoá với các nớc là rất đáng kể, mặc dù quy mô và tính hiệu quả
của sự tác động này còn phụ thuộc vào những yếu tố nh: sự tiếp giáp về địa lý,
hoàn cảnh lịch sử, tình hình kinh tế của các quốc gia và các chủ thể khác. ảnh
hởng của Nhật Bản đối với các nớc châu á là rất mạnh, lại đợc sự tơng đồng
về văn hoá bổ sung. Đây là yếu tố mà các đối tác phơng Tây không có đợc, sự
chuyển đổi quan trọng từ quyền lực quân sự sang quyền lực kinh tế sau Chiến
tranh lạnh là một lợi thế đối với Nhật Bản. Thơng mại và đầu t đã giúp cho
Nhật Bản có thể gây ảnh hởng, tác động đến cả các nớc phát triển và các nớc
đang phát triển, nhất là các nớc ở châu á. Ngày nay, hầu hết các nớc đang
phát triển trong khu vực châu á - Thái Bình Dơng đều rất chú trọng đến việc
tiếp xúc với công nghệ hiện đại để phát triển kinh tế. Trung Quốc, Nga và các
nớc ASEAN đều rất cần vốn và công nghệ nớc ngoài để duy trì sự tăng trởng
kinh tế năng động và bền vững của mình. Nhật Bản chính là nớc có khả năng
về vốn và công nghệ để đáp ứng những yêu cầu đó. Các nớc châu á, trong đó
có cả Trung Quốc, coi Nhật Bản nh một hình mẫu để phát triển kinh tế. Sự
thành công của Nhật Bản đã hấp dẫn các nớc này, tác động đến nhận thức của
ngời dân và khiến họ ủng hộ mô hình kinh tế Nhật Bản. Dựa trên sự thành

quan hệ của Mỹ và các nớc Đông á, nếu trớc đây Mỹ giành cho Hàn Quốc,
Đài Loan và khối ASEAN với t cách là những "lá chắn" chiến lợc những u đãi
đặc biệt, cả về phơng diện nguồn lực vật chất (vốn, kỹ thuật, hàng hoá) lẫn về
phơng diện thể chế: mở cửa thị trờng không hạn chế, u đãi thuế quan... thì
ngày nay, khi đối đầu chấm dứt những u tiên kiểu đồng minh chiến lợc đó đã
bị suy giảm đáng kể. Chính những điều kiện đó đã tạo cơ sở cho Nhật Bản tiếp
tục mở rộng ảnh hởng kinh tế của mình với các đối tác châu á. Và điều đó đã
đòi hỏi Nhật Bản phải điều chỉnh chính sách đối ngoại của họ.
1.2.3. Sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của một số nớc lớn đối
với Nhật Bản.
Chiến tranh lạnh kết thúc kéo theo sự sụp đỗ của trật tự thế giới hai cực
đứng đầu là Mỹ và Liên Xô. Môi trờng an ninh quốc tế có nhiều biến đổi sâu
sắc và rộng khắp từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam và ở mọi phơng diện.

19


Thế giới đang trong quá trình chuyển tiếp sang trật tự thế giới đa cực, đa trung
tâm và xu thế này đang là xu thế nổi trội.
Phát triển kinh tế trở thành u tiên hàng đầu trong chiến lợc của các quốc
gia. Cạnh tranh kinh tế đang ngày càng chiếm u thế so với chạy đua vũ trang.
Sức mạnh kinh tế đã và đang quyết định sức mạnh của các quốc gia. Quan hệ
giữa các nớc lớn có những chuyển biến quan trọng, từ chỗ đối đầu hoặc liên
minh, liên kết với nớc này chống lại nớc kia chuyển sang vừa hợp tác vừa đấu
tranh trong xu thế hoà bình, xây dựng các quan hệ đối tác mang tính chiến lợc, tăng cờng đối thoại.
Bên cạnh đó, các vấn đề mang tính toàn cầu đang diễn ra nh sự phổ biến
các loại vũ khí giết ngời hàng loạt, buôn bán ma tuý, khủng bố, tội ác có tổ
chức, huỷ hoại môi trờng, dịch bệnh... đòi hỏi phải có sự phối hợp hành động
của nhiu quốc gia trên thế giới mới có thể giải quyết đợc.
Tất cả những vấn đề đó buộc các nớc, nhất là các nớc lớn phải có sự điều

còn thua kém Mỹ về mọi mặt. Để đạt đợc mục tiêu trên, về đối nội, Trung
Quốc đã thúc đẩy chính sách cải cách, mở cửa hơn nữa nhằm hiện đại hoá
kinh tế, quốc phòng. Về đối ngoại, Trung Quốc tiến hành bình thờng hoá quan
hệ với các nớc bao gồm cả những nớc trớc đây đợc xem nh "kẻ thù" và tích
cực tham gia vào các tổ chức quốc tế và khu vực nhằm xoá đi hình ảnh của sự
kiện Thiên An Môn. Trung Quốc đã coi Nhật Bản nh đầu mối khai thông quan
hệ chính trị với thế giới và là nguồn cung cấp vốn cho mình, vì vậy Trung
Quốc đã tăng cờng thúc đẩy quan hệ với Nhật Bản. Hơn nữa, đến cuối năm
1989, Mỹ cũng đã có sự thay đổi chính sách đối với Trung Quốc. Tháng
11/1989, cựu Tổng thống Mỹ Nixon đã sang thăm Trung Quốc, tháng 12 đặc
phái viên của tổng thống tới Trung Quốc để thoả thuận quan hệ và tuyên bố
nối lại khoản vay vốn của ngân hàng xuất nhập khẩu. Tiếp đó, trớc khi Hội
nghị cấp cao các nớc G7 tổ chức ở Hunton, phía Mỹ đã quyết định kéo dài chế
độ tối huệ quốc cho Trung Quốc.
Trớc thái độ của Mỹ nh vậy, Nhật Bản cũng phải điều chỉnh chính sách
của mình đối với Mỹ và Trung Quốc.
Với Nga:
Chiến tranh lạnh kết thúc, nớc Nga phải đối đầu với hàng loạt khó khăn.
Đó là sự suy thoái về kinh tế, sự hỗn loạn về chính trị, sự suy giảm về sức
mạnh quân sự. Cuộc khủng hoảng ngày càng sâu sắc và toàn diện gắn liền với
sự chuyển tiếp từ một chế độ xã hội này sang chế độ xã hội khác. Trong xu thế
toàn cầu hoá, khu vực hoá, Nga đề ra mục tiêu của chính sách đối ngoại là tạo
điều kiện quốc tế thuận lợi để thực hiện thành công cải cách kinh tế, ổn định
chính trị và cải thiện, mở rộng quan hệ với các nớc trên thế giới, đa nớc Nga
hoà nhập vào các thiết chế chính trị, kinh tế của châu á và thế giới.
Nhiệm vụ của chính sách đối ngoại là tạo dựng môi trờng quốc tế thuận
lợi để xây dựng một nớc Nga dân chủ hiện đại, có nền kinh tế phát triển theo
nguyên tắc thị trờng tự do, có vai trò và vị trí tơng xứng với tiềm năng của Nga
trên trờng quốc tế. Cụ thể gồm ba nhiệm vụ:
- Khôi phục di sản Chiến tranh lạnh của thời kỳ đối đầu.

trắc trở và là một vấn đề nan giải trong chính sách đối ngoại hớng ra châu á Thái Bình Dơng của Nga. Nhng trong bối cảnh hiện nay, hoà bình ổn định vẫn
là xu thế chủ yếu trong quan hệ quốc tế; cùng với nó là chính sách coi trọng
quan hệ hợp tác với các nớc trong "vành đai láng giềng thân thiện" ở châu á
của Nga, trong đó có Nhật Bản. Đó là những nhân tố thúc đẩy quan hệ Nga Nhật ngy cng phỏt triển tơng xứng với nhu cầu và tiềm năng của mỗi nớc.
Nh vậy, trong quan hệ quốc tế thời kỳ sau Chiến tranh lạnh, các nớc đều
có sự thay i chính sách đối ngoại cho phù hợp với tình hình mới. ó cng l
mt nhõn t buộc Nhật Bản phải điều chỉnh chính sách đối ngoại của mình.

23


1.3. Tình hình Nhật Bản.
Có thể nói, thực trạng kinh tế, chính trị và xã hội ở Nhật Bản cũng là mt
cơ sở trọng yếu tạo lập nền tảng cho Nhật Bản điều chỉnh và thực thi chính sách
đối ngoại. Bởi vì sự điều chỉnh trớc hết và căn bản là phục vụ nhu cầu nội tại
của Nhật Bản. Sau đây chúng ta xem xét một số khía cạnh quan trọng của thực
trạng đó ở Nhật Bản thời kỳ sau Chiến tranh lạnh, dới góc độ là cơ sở và là
nguyên nhân để hoạch định những nội dung điều chỉnh trong chính sách đối
ngoại của nớc này.
1.3.1. Tình hình kinh tế.
Bớc vào thập niên 90 ca th k XX cũng là lúc nền kinh tế "bong bóng"
của Nhật Bản sụp đỗ, nền kinh tế của Nhật Bản rơi vào tình trạng đình trệ kéo
dài. Từ năm 1991 đến những năm gần đây, tốc độ tăng trởng của Nhật Bản
nhiều năm chỉ đạt dới 1%. Tốc độ tăng trởng kinh tế thực tế đã giảm 2,9% năm
1991 xuống còn 0,4% năm 1992 và 4 năm liền từ 1992 - 1995, mức tăng trởng
trung bình chỉ đạt 0,6%. Mặc dù đã khôi phục đợc mức 2,9% năm 1996, song
đến năm 1997 đã là -0,5%. Sau nhiều năm liên tục, tăng trởng kinh tế Nhật Bản
bị đánh dấu bằng con số âm [53; 371].
1.3.1.1. Hậu quả t sự đỗ vỡ của nền kinh tế bong bóng.
Trong thời kỳ kinh tế bong bóng vào cuối những năm 80, các ngân hàng

nên các công ty lớn của châu á cũng ngại không tham gia vào thị trờng Nhật
Bản mà chuyển sang Mỹ, Singapo và một số nớc châu á khác. Bên cạnh đó,
sự tăng giá của đồng Yên là một khó khăn rất lớn cho nền kinh tế ngoại thơng
Nhật Bản, vn rất nhạy cảm với mọi biến động trên thị trờng quốc tế, đặc biệt
là thị trờng tài chính. Trong 3 năm (1993 - 1995), đồng Yên tăng giá liên tục
(năm 1993: 111,8 Yên/USD; năm 1994: 94,83 Yên/USD; riêng năm 1995:
đồng Yên Nhật đạt mức tăng cha từng thấy trong 50 năm trc ú: 83,9
Yên/USD [35; 201]. Do đồng Yên tăng giá liên tục làm cho hàng xuất khẩu
của Nhật Bản tính theo đô la trở nên quá đắt đã làm giảm sức cạnh tranh trên
thị trờng thế giới, đồng thời gây cản trở cho các ngành công nghiệp xuất khẩu
của Nhật Bản. Đồng Yên tăng giá làm tổn hại đến lòng tin của các nhà đầu t
vào kinh doanh. Tình trạng phá sản và đỗ vỡ kinh doanh diễn ra nhiều, nhất là
các công ty vừa và nhỏ, đặc biệt các công ty có tỷ lệ xuất khẩu cao thì ảnh h ởng càng rõ rệt. Theo báo cáo ngày 14/4/1995 của một cơ quan điều tra ở
Nhật về các vấn đề tài chính của các doanh nghiệp nhỏ, với khoản nợ từ 10
triệu Yên trở lên mà họ không đủ khả năng thanh toán dẫn tới phá sản đã diễn
ra liên tục trong năm 1994. Theo báo cáo này, đã có 14.201 vụ phá sản, với
tổng giá trị là 6.171,5 tỷ Yên.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status