ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐỖ THỊ THU HÀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA NHẬT BẢN
Ở ĐÔNG Á
DƯỚI THỜI CỦA THỦ TƯỚNG KOIZUMI
(2001 - 2006)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quan hệ quốc tế
Mã số: 60.31.40 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đặng Xuân Kháng
9
1.1.3.Vài nét về Thủ tướng J.Koizumi
14
1.2. Chính sách đối ngoại của Nhật Bản
16
1.2.1. Liên minh Nhật - Mỹ vẫn là trụ cột
16
1.2.2. Nâng cao vai trò trên trường quốc tế
18
1.2.3. Tạo lập vị thế chủ đạo ở châu Á
19
CHƢƠNG 2: CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA NHẬT BẢN ĐỐI VỚI ĐÔNG Á
DƢỚI THỜI THỦ TƢỚNG KOIZUMI (2001-2006)
21
2.1. Hợp tác song phƣơng
22
2.1.1.Quan hệ Nhật Bản - Trung Quốc
22
2.1.2.Quan hệ Nhật Bản - Hàn Quốc
38
2.1.3. Quan hệ Nhật Bản - CHDCND Triều Tiên
44
2.2. Hợp tác khu vực
53
2.2.1. Quan hệ Nhật Bản - ASEAN
54
2.2.2. Quan hệ Nhật Bản và ASEAN + 3
61
2.2.3. Hợp tác ba bên Nhật Bản - Trung Quốc - Hàn Quốc
65
tác động đến từng quốc gia Đông Á. Những năm đầu thế kỷ XXI, Junichiro
Koizumi nắm quyền lãnh đạo đất nước Nhật Bản. Trong 6 năm cầm quyền,
chính sách đối ngoại của ông đã gây sự chú ý lớn cho các nhà lãnh đạo, các
nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu
Việt Nam là nước thuộc khu vực Đông Á và trong nhiều năm qua Nhật
Bản là đối tác kinh tế hàng đầu của Việt Nam. Đặc biệt, quan hệ Việt Nam -
Nhật Bản đã được nâng lên thành đối tác chiến lược vào giữa năm 2007.
Trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước Việt Nam cũng đang
từng bước thực hiện đổi mới tư duy đối ngoại, độc lập tự chủ, đa phương hoá,
đa dạng hoá các mối quan hệ quốc tế, và hơn hết đang tìm con đường phát
triển phù hợp cho đất nước trên bình diện đối ngoại. Do đó, việc tìm hiểu
chính sách đối ngoại của các nước hiện nay là rất cần thiết. Nghiên cứu
“Chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với Đông Á dưới thời Thủ tướng
Koizumi (2001 - 2006)" sẽ có ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Cho đến nay ở
2
Việt Nam vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu về giai đoạn cầm quyền
của J.Koizumi, luận văn sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho những ai quan
tâm đến Nhật Bản, đặc biệt là chính sách đối ngoại của Nhật Bản.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Chính sách đối ngoại hay quan hệ đối ngoại của Nhật Bản là mối quan
tâm của rất nhiều học giả Việt Nam. Đã có nhiều công trình nghiên cứu được
công bố thành sách như: Chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời kỳ sau
Chiến tranh lạnh do Ngô Xuân Bình chủ biên, được NXB Khoa học Xã hội
phát hành năm 2000; Nhật Bản năm đầu thế kỷ XXI cũng của Ngô Xuân Bình
và Hồ Việt Hạnh chủ biên, NXB Khoa học Xã hội phát hành năm 2002; Quan
điểm của Nhật Bản về liên kết Đông Á trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội
nhập kinh tế quốc tế do Trần Quang Minh chủ biên, NXB KHXH xuất bản
năm 2007; Quan hệ Trung Quốc - ASEAN - Nhật Bản trong bối cảnh mới và
tác động của nó tới Việt Nam của Vũ Văn Hà (ch.b), NXB KHXH, 2007…
foreign and defense affairs của Omohito Shinoda do University of
Washington Press phát hành tại London nă m 2007; Japan's relations with
China: facing a rising power của Peng Er Lam, Routledge Publishers,
London-2007; Japanese foreign policy today của Takashi Inoguchi và
Purnendra Jain, Palgrave Publishers, New York - 2000; Japan's foreign policy
since 1945 của, Kevin J. Cooney, M.E. Sharpe Publishers, New York - 2007;
Japan's Foreign Policy, 1945-2009: The Quest for a Proactive Policy của
Kazuhiko Togo, IDC Publishers, Netherlands - 2010; Japanese foreign policy
in Asia and the Pacific của Akitoshi Miyashita và Yoichiro Sato, Palgrave
Publishers, New York - 2001;
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nói trên tuy khác nhau về quy
mô và phạm vi nghiên cứu song thường đề cập thiên về chính sách đối ngoại
4
nói chung của Nhật Bản, trong đó một phần nào đó có đề cập đến khu vực
Đông Á, hoặc chủ yếu nêu lên thực trạng quan hệ giữa Nhật Bản với các đối
tác. Việc nghiên cứu chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với khu vực
Đông Á, nhất là những năm đầu thế kỷ XXI (2001 - 2006) dưới thời Thủ
tướng Koizumi là một chủ đề chưa được nghiên cứu riêng. Luận văn sẽ đi sâu
tìm hiểu chính sách đối ngoại của Thủ tướng Koizumi trong quan hệ song
phương va quan hệ đa phương với một số đối tượng chính trong khu vực
Đông Á những năm đầu thế kỷ XXI. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những đánh
giá, nhận xét về chính sách đối ngoại của Nhật Bản với toàn bộ khu vực Đông
Á thời gian này.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Nghiên cứu, phân tích những chính sách, chủ trương, và
thực trạng quan hệ của Nhật Bản đối với một số nước trong khu vực Đông Á
và với một số khuôn khổ hợp tác trong khu vực Đông Á
1
.
BẢN ĐỐI VỚI ĐÔNG Á DƢỚI THỜI THỦ TƢỚNG KOIZUMI
(2001-2006)
Chính sách đối ngoại của bất kỳ một quốc gia nào cũng phải được xây
dựng trên cơ sở của sự tương tác giữa tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trong
nước, khu vực và quốc tế. Trong khoảng thời gian những năm cuối của thế kỷ
XX và những năm đầu thế kỷ XXI, môi trường trong nước và ngoài nước
Nhật Bản có nhiều thay đổi lớn, khiến cho Nhật Bản phải điều chỉnh chính
sách đối ngoại cho phù hợp với tình hình mới, nhất là với khu vực Đông Á -
một khu vực đặc biệt quan trọng đối với Nhật Bản.
1.1. Bối cảnh trong và ngoài nƣớc
1.1.1. Bối cảnh quốc tế và khu vực
Kể từ sau khi kết thúc Chiến tranh lạnh vào đầu thập niên 90 của thế kỷ
XX đến nay, khu vực châu Á - Thái Bình Dương và thế giới nói chung, cũng
như khu vực Đông Á nói riêng đã có nhiều biến đổi sâu sắc trên tất cả các lĩnh
vực chính trị, kinh tế, xã hội,… khiến cho hầu hết các quốc gia, lãnh thổ bị
cuốn vào dòng chảy hội nhập của xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá, cũng vì
vậy, sự liên kết, hợp tác cùng phát triển giữa các quốc gia, lãnh thổ ngày càng
gia tăng mạnh mẽ hơn. Thế giới đang chứng kiến sự lớn mạnh của các khối
liên kết khu vực như EU, NAFTA, APEC, ASEAN và các tổ chức liên kết
khác ở châu Phi và Mỹ Latinh. Chỉ tính riêng liên kết giữa ASEAN với các
nước Đông Bắc Á tạo thành ASEAN + 1, ASEAN + 3…cùng với đó là sự
hình thành các khu vực thương mại tự do của các khối liên kết đã khiến cho
hoạt động kinh tế của nhiều khu vực trên thế giới, trong đó có Đông Á trở nên
sôi động hơn bao giờ hết.
7
Từ thế giới hai cực trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, thế giới ngày nay đã
trở thành thế giới của nhất siêu (Mỹ) và đa cường. Ngoài các cường quốc cũ
như Nhật Bản, Anh, Pháp, Đức, Nga,… đã nổi lên một cường quốc mới đầy
và thách thức, vì trước mắt cần phải giải quyết ổn thỏa cuộc khủng hoảng hạt
nhân ở CHDCND Triều Tiên - vấn đề nan giải nhất đang đe doạ an ninh Đông
Á và cả khu vực châu Á - Thái Bình Dương hiện nay.
Liên quan đến một số vấn đề chung khác của thế giới, trong đó có khu
vực Đông Á, hiện đang đòi hỏi tất cả các quốc gia, lãnh thổ khác nhau phải
cùng giải quyết - đó là các vấn đề an ninh môi trường, sinh thái với các những
hiểm hoạ thiên tai, dịch bệnh lan tràn như hạn hán, lũ lụt, các bệnh dịch
HIV/AIDS, SARS, v.v… Ngoài ra, một vấn đề chung khác và cũng là nguyên
nhân khiến cho nhiều quốc gia, lãnh thổ phải xích lại gần nhau hơn nữa (như
trên đã phần nào đề cập đến), đó là chủ nghĩa khủng bố đang trở thành hiểm
hoạ lớn nhất của thời đại ngày nay đối với hoà bình, an ninh chính trị, kinh tế,
xã hội. Ở khu vực Đông Á, đặc biệt là Đông Nam Á, vấn đề này cũng đang
rất nan giải trước nguy cơ tiềm ẩn của những mâu thuẫn tôn giáo, sắc tộc,
trong đó có một số điểm nóng như Indonesia, Philippin và kể cả Thái Lan…
Thực tế cho thấy việc chống lại chủ nghĩa khủng bố không còn là vấn đề quan
tâm của riêng quốc gia, lãnh thổ nào mà đã trở thành vấn đề quan tâm chung
của cả khu vực và thế giới.
Có thể thấy rằng, tình hình quốc tế và khu vực những năm 1990 của thế
kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI có những biến đổi sâu sắc: Chiến tranh
lạnh kết thúc, sức mạnh kinh tế trở nên quan trọng hơn sức mạnh quân sự, xu
hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa diễn ra phổ biến, sự lớn mạnh của Trung
Quốc, những bất ổn về an ninh trên thế giới và khu vực Đông Á là những
9
yếu tố quan trọng buộc Nhật Bản phải quan tâm khi hoạch định chính sách
đối ngoại.
1.1.2. Tình hình Nhật Bản
Thực trạng kinh tế, chính trị và xã hội ở Nhật Bản cũng là những cơ sở
trọng yếu tạo lập nền tảng cho Nhật Bản điều chỉnh và thực thi chính sách đối
ngoại. Sự điều chỉnh trước hết và căn bản là phục vụ nhu cầu nội tại của Nhật
XXI về chính sách kinh tế đối ngoại". Cuốn sách này cho thấy thời đại mô
hình kinh tế "đàn nhạn bay" của châu Á mà con chim đầu đàn là Nhật Bản đã
chấm dứt.
Chính tình trạng kinh tế suy thoái sau hơn 1 thập kỷ vẫn chưa có lối
thoát là nguyên nhân gây những biến đổi chính trị và bất ổn xã hội ở Nhật
Bản.
Về chính trị - an ninh
Trước khi Koizumi lên nắm quyền, nền chính trị Nhật Bản trong thời
gian dài luôn biến động với việc thay đổi liên tục người ở cương vị Thủ
tướng. Cuộc bầu cử Hạ viện Nhật Bản năm 1993 đánh dấu một bước ngoặt
quan trọng trong nền chính trị Nhật Bản thời kỳ sau chiến tranh lạnh. Đó là sự
kiện đảng Dân chủ Tự do (DCTD) mất vai trò lãnh đạo sau 38 năm cầm
quyền liên tục. Mặc dù dưới sự lãnh đạo của đảng DCTD trong gần 4 thập kỷ
nước Nhật đã đạt được những tiến bộ thần kỳ, nhưng hệ thống chính trị đã
bộc lộ những khuyết tật lớn dẫn đến tham nhũng chính trị tràn lan, bê bối tài
chính liên tục liên quan đến nhiều chính khách, lãnh đạo đất nước. Những
hiện tượng này gây bất bình lớn trong dân chúng đòi hỏi ban lãnh đạo Nhật
Bản phải có những thay đổi trong cách thức điều hành đất nước.
Một vấn đề nổi cộm nữa là việc sửa đổi Hiến pháp. Trong quá trình
thực thi Hiến pháp từ năm 1946 đến nay, vấn đề sửa đổi Hiến pháp đã nhiều
11
lần được đặt ra. Có nhiều lý do khiến người Nhật muốn sửa đổi Hiến pháp
nhưng trong đó có hai lý do chính: thứ nhất là người Nhật cho rằng bản Hiến
pháp này là kết quả áp đặt từ bên ngoài (thực chất tác giả của bản Hiến pháp
là người Mỹ); thứ hai là bản Hiến pháp cấm Nhật Bản trở thành một quốc gia
bình thường, có lực lượng quân sự riêng. Lý do thứ hai gắn với việc phải sửa
đổi điều 9. Nếu điều này được sửa đổi, Nhật Bản sẽ có lực lượng quân đội, sẽ
dễ dàng đưa quân ra nước ngoài, phối hợp hành động với Mỹ trong việc thực
hiện Hiệp ước an ninh quân sự, tăng cường vai trò của Nhật Bản trong an ninh
Về xã hội
Tình trạng thất nghiệp gia tăng với tỷ lệ kỷ lục trên 5% , một tỷ lệ được
ghi nhận là tồi tệ nhất trong lịch sử kinh tế Nhật Bản kể từ sau thế chiến thứ
hai. So với mức tiêu chuẩn của thế giới thì tỷ lệ này vẫn không phải là cao
nhưng đối với Nhật Bản thì đó là con số khổng lồ, bởi tỷ lệ thất nghiệp tại
Nhật Bản chưa bao giờ quá mức 2,8% trong thập niên 1980. Nhật Bản vốn tự
hào về nền kinh tế mạnh, xã hội ổn định, người dân có đủ công ăn việc làm và
thất nghiệp được kiểm soát ở mức độ thấp nhất trong các nước tư bản chủ
nghĩa. Nhưng đánh giá như vậy chỉ phù hợp với hình ảnh nước Nhật của thời
kỳ tăng trưởng cao.
Cùng với tỷ lệ thất nghiệp tăng, số công ăn việc làm mới được tạo ra
trong toàn bộ nền kinh tế lại giảm đi. Nếu lấy năm 2000 làm cơ sở thì năm
2001 con số này giảm 1,1%. Lý do có thể tìm thấy là sự cắt giảm 49% nhu
cầu tạo công việc mới trong ngành điện máy và có một sự sụt giảm ghê gớm
trong ngành cung cấp dịch vụ thông tin do nhu cầu thị trường co hẹp. Ở một
số khu vực kinh tế, những người lao động có thâm niên công tác từ 25 đến 34
năm, được khuyến khích nghỉ việc tự nguyện. Con số tự nguyện nghỉ việc 2
Gồm: Luật đặc biệt chống khủng bố, Luật sửa đổi Lực lượng phòng vệ và Luật sửa đổi Cục bảo an trên
biển
13
trong nửa năm đầu 2001 tăng từ 160.000 lên 520.000 người. Các tập đoàn
công nghiệp lớn như Fujitsu, Toshiba hay Matsushita đã phải cắt giảm hàng
loạt công ăn việc làm để đối phó với tình trạng tăng trưởng âm của nền kinh
tế.
Tình trạng thất nghiệp cũng góp phần gây nên những hậu quả xấu trong
xã hội. Các vụ tự tử vẫn ở mức độ cao - hiện tượng không có gì mới lạ đối với
thấy sơ qua tình hình nước Nhật khi bước sang thế kỷ XXI. Chính những
những khó khăn, bất ổn trong nước cùng với những thay đổi của tình hình
quốc tế đã tạo lập cơ sở để Nhật Bản điều chỉnh chính sách đối ngoại với thế
giới nói chung, và với khu vực Đông Á nói riêng.
1.1.3. Vài nét về Thủ tƣớng J. Koizumi
Chính sách đối ngoại của Nhật Bản với Đông Á không chỉ phụ thuộc
vào bối cảnh trong và ngoài nước, mà nó còn liên quan đến vai trò to lớn của
người đảm nhiệm vị trí lãnh đạo đất nước, cụ thể ở đây là Thủ tướng Nhật
Bản J. Koizumi. Giữ chức Thủ tướng trong khoảng thời gian 5 năm (2001-
2006), Junichiro Koizumi trở thành thủ tướng đầu tiên của Nhật Bản trong thế
kỷ XXI và cũng là người đầu tiên giữ ghế lãnh đạo đất nước lâu nhất kể từ
năm 1972
3
.
J. Koizumi sinh ngày 8 tháng 1 năm 1942 tại thành phố Yokosuka,
thuộc tỉnh Kanagawa. Ông xuất thân trong một gia đình có truyền thống chính
trị lâu đời. Ông nội của ông từng là Bộ trưởng Bộ Bưu chính Viễn thông
những năm đầu thập niên 30 của thế kỷ 20. Bố ông từng giữ chức Cục trưởng
Phòng vệ Nhật Bản dưới thời Thủ tướng Ikeda (1960-1964) và Sato (1964-
1972). Năm 1978, ông lập gia đình với Kayoko Miyamoto và có 3 người con 3
Trước khi ông lên nắm quyền, Nhật Bản đã trải qua 10 đời thủ tướng trong vòng chỉ có 12 năm. 15
trai. Cuộc hôn nhân đã kết thúc năm 1982 và ông ở với 2 người con trai. Theo
những nhà nghiên cứu về Koizumi và gia thế của ông thì tính cách Koizumi
được thừa hưởng từ người cha.
trên cơ sở đồng thuận về hệ tư tưởng chính trị và được duy trì trên cơ sở Hiệp
ước an ninh Nhật - Mỹ ký năm 1951. Theo hiệp ước này, các lực lượng vũ
trang Mỹ được phép sử dụng các cơ sở, lãnh thổ của Nhật Bản và hiện khoảng
47.000 quân Mỹ đang đồn trú tại Nhật. Thay vào đó Mỹ có trách nhiệm phải
phản ứng lại trước các cuộc tấn công vào Nhật và bảo vệ Nhật dưới tấm lá
chắn hạt nhân của mình. Hơn một nửa số binh sỹ trên hiện đang đồn trú ở đảo
Okinawa, miền nam Nhật Bản.
Sự tồn tại của Liên minh Nhật Bản - Mỹ về quan hệ an ninh và những
lý do để giải thích cho việc cả Nhật Bản và Mỹ coi trọng mối quan hệ này
trong thời kỳ Chiến tranh lạnh là sự đe dọa của Liên Xô. Nhưng khi sự đe dọa
này không còn, đã không ít lần cả hai nước xem xét lại mối quan hệ an ninh
song phương. Vấn đề này được đưa ra bàn luận khá nhiều và hai nước đã
nhiều lần điều chỉnh nội dung hợp tác an ninh, trong đó đặc biệt là việc đưa ra
Tuyên bố chung về “An ninh Nhật - Mỹ trong thế kỷ XXI” năm 1996 và
Phương châm phòng thủ mới Nhật - Mỹ vào năm 1997. Lý do điều chỉnh
chính sách an ninh là thế giới và khu vực châu Á - Thái Bình Dương sau
Chiến tranh lạnh vẫn tiềm ẩn nguy cơ xung đột và sự hiện diện của Mỹ về
quân sự ở Đông Á là cần thiết để duy trì an ninh và ổn định ở khu vực này. Sự
ổn định của khu vực này và lợi ích của Nhật Bản sẽ không được bảo vệ nếu
thiếu nhân tố Mỹ.
Lợi ích trong việc đồng hành cùng Mỹ là điều không thể bác bỏ. Sự
thần kỳ về kinh tế của Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai có được là
17
nhờ ô bảo vệ của Mỹ. Liên minh Nhật - Mỹ đã tạo điều kiện cho Nhật Bản cả
về an ninh quốc gia cũng như thị trường kinh tế cho các sản phẩm của Nhật
Bản. Sự thịnh vượng của Nhật Bản một phần là nhờ đi theo sự lãnh đạo của
cường quốc kinh tế Hoa Kỳ. Bởi vậy, các Chính phủ tiền nhiệm đã nhấn
mạnh tầm quan trọng của liên minh Nhật - Mỹ và duy trì hiện trạng quan hệ
thân cận với Mỹ nhằm phục vụ lợi ích của Nhật Bản. Thủ tướng Koizumi là
Người Nhật không chỉ là những ông chủ tài chính của các ngân hàng mà còn
có vai trò thực sự trong việc điều hành hoạt động của các tổ chức này. Họ cho
rằng các ngân hàng phát triển đa phương là diễn đàn thích hợp để Nhật Bản
bày tỏ quan điểm và chính sách của mình; là công cụ tài chính quan trọng
đem lại phồn vinh cho các nước cũng như cho chính Nhật Bản.
Hai là, sử dụng viện trợ với tư cách là công cụ để thực hiện mục tiêu
chính trị: nâng cao vị thế của Nhật Bản trên trường quốc tế. Dù Nhật Bản
không coi các điều kiện chính trị là tiên quyết đối với việc nhận viện trợ song
thực tế đây là công cụ quan trọng để mở rộng ảnh hưởng và gia tăng vị thế
của Nhật Bản trên trường quốc tế. Nhật Bản là một trong những nước đứng
đầu về ODA cho các nước đang phát triển. Năm 2004, Nhật Bản viện trợ cho
các nước này 8.169 tỷ yên, năm 2005 là 7.862 tỷ yên và năm 2006 là 7.597 tỷ
yên. Không chỉ tăng quy mô, Nhật Bản còn điều chỉnh về phân bổ ODA.
Theo đó châu Á luôn là khu vực nhận nhiều ODA nhất, tiếp đó là châu Phi,
Mỹ Latinh, Sự điều chỉnh này quyết định bởi mức độ quan trọng và sự quan
tâm của Nhật Bản ở từng khu vực. ODA trở thành kênh quan trọng để tăng vị
thế của Nhật Bản và để thể hiện thái độ tích cực của Nhật Bản trong việc hợp
tác cùng các nước và toàn cầu giải quyết các vấn đề chung của thế giới.
19
Ba là, tích cực tham gia vào các hoạt động của Liên Hợp Quốc với
mong muốn trở thành Ủy viên thường trực của tổ chức này. Nhật Bản chủ
động tham gia hoạt động giữ gìn hoà bình của Liên Hợp Quốc, tham gia giải
quyết các tranh chấp khu vực, cắt giảm vũ khí chiến lược, chống khủng bố,
phối hợp quốc tế giúp cho các nước đang phát triển giải quyết vấn đề lương
thực, năng lượng, môi trường,… Bên cạnh đó, Nhật Bản tích cực đóng góp
ngân sách cho Liên Hợp Quốc, là nước đóng góp lớn thứ hai sau Mỹ. Nhật
Bản còn tăng cường vận động tiến hành cải tổ cơ chế tổ chức của Liên Hợp
Quốc theo hướng mở rộng nhóm thường trực Hội đồng Bảo an để tạo cơ hội
cho Nhật Bản thành một ủy viên thường trực, có vai trò trong cơ cấu đầy
quốc chính trị tương xứng với sức mạnh kinh tế. Có thể nói rằng, sự điều
chỉnh chính sách đối ngoại của Nhật Bản nói chung, với khu vực Đông Á nói
riêng những năm đầu thế kỷ XXI là kết quả của những thay đổi trong môi
trường quốc tế và khu vực cùng với những đòi hỏi mang tính nội tại của Nhật
Bản. Đồng thời sự điều chỉnh còn bị chi phối bởi quan điểm, tính cách của
người lãnh đạo đất nước lúc đó là Thủ tướng Koizumi. Giới phân tích chính
trị cho rằng Thủ tướng Koizumi đề xuất quan điểm theo một cách thức mới,
nhưng về cơ bản vẫn kế thừa các quan điểm trước đây của các chính phủ tiền
nhiệm.
21
CHƢƠNG 2
CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA NHẬT BẢN ĐỐI VỚI
ĐÔNG Á DƢỚI THỜI THỦ TƢỚNG KOIZUMI (2001-2006)
Mặc dù chỉ là một khu vực của châu Á song Đông Á là một khu vực
trọng yếu, tập trung khoảng 65% GDP của thế giới, 55% giá trị thương mại
toàn cầu, 50% tổng giá trị các nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài, đang được
mệnh danh là "khu vực của thế kỷ XXI"[32,Tr.19]. Hơn nữa, khu vực Đông Á
là điểm giao thoa, đan xen lợi ích chiến lược của các nước lớn hàng đầu thế
giới như Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ. Do đó, mối quan hệ quốc
tế trong khu vực Đông Á cũng chứa đựng những tính chất, những biến đổi
cũng như những xu hướng của quan hệ quốc tế nói chung. Chính vì thế mà
cục diện chính trị Đông Á, ở mức độ nào đó là hình ảnh thu nhỏ của cục diện
thế giới.
Nhật Bản là nước nằm trong khu vực Đông Á nên những lợi ích chiến
lược về kinh tế, chính trị và an ninh của Nhật Bản ở Đông Á có đặc điểm
nhiều bước thăng trầm khác nhau. Là hai nước láng giềng có nhiều nét tương
đồng về các điều kiện địa lý tự nhiên, nhất là về đời sống văn hoá - xã hội,
song lịch sử cũng đã ghi nhận giữa hai nước này có suốt một thời kỳ dài có
quan hệ thù địch, do quân đội phát xít Nhật xâm lược đã từng đã gây ra nhiều
tội ác đối với nhân dân Trung Quốc thời kỳ thế chiến thứ hai. Tiếp đó, trong
suốt thời kỳ Chiến tranh lạnh, do đối kháng về hệ thống chính trị, một bên là
đồng minh của Mỹ (Nhật Bản), còn một bên là liên minh với Liên Xô cũ
(Trung Quốc), vì thế cho nên về thực chất quan hệ Nhật - Trung khi đó tuy dù
đã được chính thức có thiết lập chính thức quan hệ ngoại giao, song vẫn có
khoảng cách trong quan hệ giữa hai nước.
23
Chiến tranh lạnh kết thúc, bước vào thập niên 1990, trong bối cảnh hoà
bình, hợp tác cùng phát triển là xu thế chung của thế giới và khu vực, quan hệ
giữa hai nước đã "nồng ấm" dần lên, đặc biệt là kể từ nửa đầu thập niên này
90, quan hệ Nhật - Trung trên thực tế đã có nhiều chuyển biến ngày càng tích
cực hơn. Cả hai bên đều đã nhận thức được cần phải tạm gác lại những mâu
thuẫn, bất đồng để xích lại gần nhau trong liên kết, hợp tác cùng phát triển.
Nguyên nhân của sự có được dẫn đến nhận thức này, ngoài lý do tác động của
những nhân tố bối cảnh quốc tế và khu vực Đông Á như đã đề cập ở trên, còn
có một lý do rất quan trọng, đó là hai bên đều thấy cần phải tranh thủ hợp tác
khai thác các những lợi thế so sánh của mỗi bên để trao đổi với nhau trong tất
cả các lĩnh vực, nhất là về lĩnh vực kinh tế, khoa học và công nghệ. Nhật Bản
rất cần Trung Quốc, ở với lợi thế là một thị trường thương mại, đầu tư và lao
động khổng lồ với có sức mua lớn và giá nhân công rẻ. Ngược lại Trung Quốc
rất cần Nhật Bản ở lợi thế về vốn đầu tư và khoa học - công nghệ cao.
Trong Sách Xanh của Bộ Ngoại giao Nhật Bản năm 2002 cũng nói rõ
quan điểm đối ngoại của Nhật Bản đối với Trung Quốc: "Quan hệ Nhật Bản -
Trung Quốc là một trong những mối quan hệ song phương quan trọng nhất
cũng như Trung Quốc là nước láng giềng thân thiết của Nhật Bản. Việc Trung