ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THIỆN THANH
CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ
ĐỐI VỚI NHẬT BẢN TRONG NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ HÀ NỘI – 2008
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1
PHẦN MỞ ĐẦU
4
CHƢƠNG 1: CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ TRƯỚC SỰ VƯƠN
LÊN THÀNH MỘT CƯỜNG QUỐC CỦA NHẬT BẢN (1905 - 1930)
23
1.1. Nhìn lại chính sách của Mỹ đối với Nhật Bản trước năm 1905
23
1.1.1. Chính sách đối ngoại của Mỹ từ chủ trương ngoại giao biệt lập
đến Học thuyết Monroe
23
1.1.2. Nhật Bản trong chính sách đối ngoại của Mỹ
25
1.2. Sự cạnh tranh Mỹ - Nhật Bản 1905 - 1930
39
1.2.1. Sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa đế quốc ở Mỹ và Nhật Bản
- nguồn gốc sâu xa của những xung đột lợi ích Mỹ-Nhật Bản
39
1.2.2. Bối cảnh quốc tế và khu vực
53
1.2.3. Sự bành trướng của Nhật Bản ở Viễn Đông - mối lo ngại lớn của Mỹ
57
1.2.4. Chính sách của Mỹ đối với Nhật Bản
60
3.1. Mỹ với quá trình “phi quân sự hóa” và “dân chủ hoá”
Nhật Bản 1945-1947
135
3.1.1. Bối cảnh quốc tế và khu vực
135
3.1.2. Tiềm lực và tham vọng thống trị thế giới của Mỹ
139
3.1.3. Chính sách của Mỹ đối với Nhật Bản
142
3.1.3.1. Cơ sở pháp lý của chính sách chiếm đóng Nhật Bản
142
3.1.3.2. Quá trình “phi quân sự hóa “và “dân chủ hoá” Nhật Bản
147
3.2. Mỹ với việc thực hiện mục tiêu phục hồi kinh tế Nhật Bản 1947-1952
160
3.2.1. Bối cảnh quốc tế và khu vực
160
3.2.2. Chính sách của Mỹ đối với Nhật Bản
163
3.2.2.1. Chiến tranh lạnh và sự điều chỉnh chính sách của Mỹ đối
với Nhật Bản
163
3.2.2.2. Quá trình thực hiện mục tiêu phục hồi kinh tế Nhật Bản
174
3.2.2.3. Các hiệp ƣớc hoà bình, an ninh năm 1951 và sự xác lập
quan hệ đồng minh Mỹ - Nhật Bản
180
PHẦN KẾT LUẬN
190
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN
274
Phụ lục 12: SWNCC 150/4/A
287
Phụ lục 13: JSC 1380/15
295
Phụ lục 14: Hiến pháp Nhật Bản 1946
340
Phụ lục 15: Hiệp định hòa bình với Nhật Bản 8-9-1951
361
Phụ lục 16: Hiệp ước an ninh Mỹ-Nhật Bản 8-9-1951
381
1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ACJ
Allied Council for Japan
Hội đồng các lực lượng đồng minh
về vấn đề Nhật Bản
ANZUS
Australia-New Zealand-United
States Security Treaty
Hiệp ước an ninh tay ba Mỹ -
Australia - New Zealand
CIA
Central Intelligent Agency
Cục Tình báo trung ương, Mỹ
Economic and Scientific Section
Ban Kinh tế - Khoa học, thuộc
SCAP
FEA
Foreign Economic
Administration
Ban Kinh tế đối ngoại, trực thuộc
Chính phủ Mỹ
FEAC
Far Eastern Advisory
Commission
Ủy ban Tư vấn Viễn Đông
FEC
Far Eastern Commission
Ủy ban Viễn Đông
GARIOA
Government Aid and Relief in
Occupied Areas
Chương trình Viện trợ chính phủ và
cứu tế ở những khu vực bị chiếm
đóng
2
HCLC
Holding Company Liquidation
Commission
Ủy ban thanh lý các công ty cổ
phần mẹ, trực thuộc Chính phủ
Nhật Bản
IDACFE
nghiệp Nhật Bản
NATO
North Atlantic Treaty
Organization
Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây
Dương
NPR
Natinonal Police Reserve
Lực lượng cảnh sát dự phòng quốc
gia Nhật Bản
NSC
National Security Council
Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ
OAS
Occupied Areas Section
Ban Các khu vực bị chiếm đóng,
thuộc Bộ Hải quân Mỹ
OIC
Overseas Consultants
Incorporation
Liên hiệp công ty tư vấn nước
ngoài
OJEIRF
Occupied Japan Export-Import
Revolving Fund
Quỹ Xuất-Nhập khẩu tuần hoàn
Nhật Bản
OWI
Office of War Information
Văn phòng Thông tin chiến tranh
Selective Service System
Hệ thống làm công tác tuyển quân
SWIC
Senate War Investigating
Committee
Ủy ban điều tra chiến tranh của
Quốc hội
SWNCC
States-War-Navy Coordinating
Committee
Ủy ban Quốc gia Điều phối chiến
tranh - hải quân
WAC
Women’s Army Corp
Đoàn quân nữ của quân đội
WB
World Bank
Ngân hàng thế giới
WMC
War Manpower Commision
Ban Nhân lực thời chiến
WPB
War Production Board
Ủy ban sản xuất quân sự
Nhật Bản, trong đó “Mỹ đã trở thành trọng tâm hàng đầu trong chiến lược phát triển
quân sự và ngoại giao của Nhật Bản” [31, tr.56].
Đến đầu thế kỷ XX, trong khi ở châu Á có nhiều dân tộc yếu đi thì Nhật Bản
lại là một trong số rất ít quốc gia mạnh lên. Với sức mạnh của một đất nước công
nghiệp hóa đầu tiên ở châu Á, Nhật Bản đã tích cực tham gia vào “những cơn kịch
phát thực dân hóa” với các cường quốc châu Âu và nhanh chóng bước lên vị trí “hội
viên chính thức” của câu lạc bộ các cường quốc đế quốc sau chiến thắng vang dội
đánh bại nước Nga Sa hoàng “da trắng” trong cuộc chiến tranh Nga - Nhật (1904 -
1905). Sự kiện này không những củng cố tham vọng thay đổi địa vị của Nhật Bản
trong đời sống chính trị quốc tế của giới cầm quyền Tokyo mà còn khiến cho các
5
cường quốc phương Tây trong đó có Mỹ “cảnh giác” hơn và có những đối sách cụ
thể trước tham vọng dần bộc lộ rõ của Nhật Bản: bá chủ Đông Á và thế giới. Không
coi Nhật Bản là một thành viêný ngang hàng trên bàn cờ quốc tế, giới cầm quyền
Mỹ đã chuyển sang thực hiện chính sách kiềm chế, chèn ép và bắt Nhật Bản phải
chấp nhận những nhượng bộ thua thiệt. Từ thời điểm đó cho đến giữa thế kỷ XX,
dưới tác động của nhiều yếu tố, chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Nhật Bản tiếp
tục có những điều chỉnh khác nhau qua từng thời kỳ. Quá trình hoạch định và kết
quả của việc thực hiện những điều chỉnh này không những có tác động trở lại to lớn
đối với chính sách đối nội của Mỹ mà còn là một trong những tác nhân quan trọng
trong tiến trình phát triển và xác định quyết sách ngoại giao, kinh tế của Nhật Bản
cũng như có ảnh hưởng mạnh mẽ tới các xu thế quan hệ quốc tế ở khu vực châu Á -
Thái Bình Dương.
Vậy, đâu là nhân tố chủ yếu quyết định chính sách của Mỹ đối với Nhật Bản?
Phải chăng là do sự thay đổi địa vị quốc tế của Nhật Bản trên bàn cờ quốc tế? Chính
sách đó có tác động như thế nào đối với bản thân hai chủ thể của mối quan hệ này?
Vị trí của quan hệ giữa Mỹ với Nhật Bản trong tổng thể mối quan hệ với một số
quốc gia châu Âu, châu Á khác trong chính sách đối ngoại của Mỹ nói chung?
Với mục đích góp phần nhìn nhận, lý giải các vấn đề phức tạp nêu trên, chúng
của Mỹ đối với Nhật Bản nói riêng là mảng đề tài rất được quan tâm nghiên cứu.
Tại Mỹ, các trung tâm, viện nghiên cứu và nhiều trường đại học đã thực hiện
nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến mảng đề tài này. Những công trình đó
được triển khai theo hai hướng chính. Một là nghiên cứu về các lĩnh vực khác nhau
của lịch sử nước Mỹ. Hai là nghiên cứu trực tiếp về chính sách đối ngoại của Mỹ
đối với Nhật Bản.
Trong nhóm thứ nhất, đáng chú ý là các công trình nghiên cứu tổng quan như
“Outline political history of the Americas” (Đại cương lịch sử chính trị châu Mỹ
từ Chiến tranh thế giới thứ I đến năm 1951) (1951) của William Z.Foster, xuất bản
bằng tiếng Việt năm 1960); “The American pageant - A History of the Republic”
(Hoạt cảnh nước Mỹ - Lịch sử nước Cộng hòa Mỹ) (1998) của Thomas A.Bailey,
David M.Kennedy và Elizabeth Cohen; “An outline of American History” (Khái
quát về lịch sử nước Mỹ) (1994, xuất bản bằng tiếng Việt năm 2000) của Howard
Cincotta; “America” (Nước Mỹ) (2000) của George Brown Tindall và David Emory
7
Shi Trong những công trình này, do phạm vi nghiên cứu rộng cả về không gian và
thời gian, phần viết về chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Nhật Bản chỉ được đề
cập ở những chừng mực nhất định. Tuy nhiên, những nội dung khái quát về lịch sử,
đất nước, con người và đời sống được phản ánh trong đó đã cung cấp những cơ sở
quan trọng để nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển chính sách đối ngoại
Mỹ.
Với nhóm nghiên cứu trực tiếp về chính sách đối ngoại của Mỹ, có thể nêu
một số công trình tiêu biểu như “The growth of American foreign policy - A history”
(Lịch sử hình thành và phát triển chính sách đối ngoại của Mỹ” (1962) của Richard
W. Leopold; “Major problems in American foreign policy” (Những vấn đề chính
trong chính sách đối ngoại của Mỹ) (1978) do Thomas G.Paterson biên
soạn;“America in the twentieth century” (Nước Mỹ trong thế kỷ XX) (1982) của
Frank Freidel và Alan Brinkley. Ngoài ra còn có nhiều tác giả khác nghiên cứu về
vấn đề này như Walter Lafeber với “The American age - US foreign policy at home
đến các tác giả khác như Lawrence H.Battistini, William Newmann, Edwin
O.Reischauer, Raymond A.Esthus, Howard B.Schonberger Các tác phẩm của họ
như “Japan and America from earliest times to the present” (Nhật Bản và Mỹ từ
những tiếp xúc đầu tiên tới nay” (1953); “American encounters Japan from Perry to
MacArthur” (Sự tiếp xúc giữa Mỹ và Nhật Bản từ Perry tới MacArthur( (1963);
“The United States and Japan” ( Mỹ và Nhật Bản) (1965); “Theodore Roosevelt
and Japan” (Theodore Roosevelt và Nhật Bản) (1967); “Aftermath of war -
Americans and the Remaking of Japan, 1945-1952” ( Mỹ và sự tái thiết Nhật Bản
sau chiến tranh, 1945-1952) ((1989) là chỗ dựa quan trọng trong việc nhìn nhận,
đối chiếu và so sánh các quan điểm đánh giá chính sách đối ngoại của Mỹ đối với
Nhật Bản trong phạm vi nghiên cứu của đề tài. Đáng chú ýý nhất trong đó là các
công trình của Edwin O.Reischauer. Là một học giả rất có uy tín về lịch sử Nhật
Bản và Đông Á, đồng thời cũng là chuyên gia về Nhật Bản của Cục tình báo quân
đội trong Chiến tranh thế giới thứ hai, chuyên viên Bộ Ngoại giao về soạn thảo
chính sách đối với Nhật Bản và Hàn Quốc, một trong những đại diện của Bộ Ngoại
giao trong Ủy ban Quốc gia Điều phối chiến tranh - hải quân - cơ quan đứng đầu về
hoạch định chính sách đối ngoại của nước Mỹ từ 1945 đến 1946, sau đó là Đại sứ
Mỹ tại Nhật Bản từ 1961-1966, Edwin O.Reischauer đã viết nhiều công trình có giá
trị về Nhật Bản và quan hệ Mỹ - Nhật Bản. Một trong số đó là “The United States
and Japan” (Mỹ và Nhật Bản) (1965) - thuộc Thư viện sách về chính sách đối ngoại
của Mỹ của trường Đại học Harvard. Với trình độ và khả năng bao quát của một
học giả có uy tín trong nghiên cứu Nhật Bản, của một nhà ngoại giao đã nhiều năm
9
sống, làm việc tại Nhật và tham gia vào quá trình hoạch định chính sách đối ngoại
của Mỹ với quốc gia này, công trình nghiên cứu của Edwin O.Reischauer đã đề cập
tương đối toàn diện về một trong những giai đoạn rất quan trọng trong mối quan hệ
Mỹ - Nhật Bản - thời kỳ Mỹ chiếm đóng Nhật Bản từ năm 1945 - 1952. Công trình
cũng phân tích các nhân tố tác động đến mối quan hệ này như hoàn cảnh tự nhiên,
đặc tính dân tộc Nhật Bản, đồng thời đưa ra một số nhận định về khuynh hướng
của Geral E.Wheeler
Về khía cạnh kinh tế, có các bài viết như “American-Japanese direct foreign
investment relationships, 1930-1952” (Quan hệ đầu tư trực tiếp nước ngoài Mỹ-
Nhật Bản, 1930-1952) (1982) của Mira Wilkins tập trung nghiên cứu quan hệ đầu
tư trực tiếp của Mỹ ở Nhật Bản và ngược lại trong hơn hai thập kỷ đầy biến động
trong quan hệ hai nước từ 1930-1952 Bài viết “International Economic Structures
and American foreign economic policy, 1887 - 1934” (Cấu trúc kinh tế thế giới và
chính sách đối ngoại của Mỹ 1887-1934) (1983) của David A.Lake đề cập chính
sách kinh tế đối ngoại của Mỹ từ lý thuyết đến thực tiễn qua các thời kỳ 1887-1897,
1897-1912, 1912-1929, 1930-1934. Bên cạnh đó là một số bài đáng chú ý khác như
“Sectoral conflict and foreign economic policy, 1914-1940” (Chính sách kinh tế đối
ngoại và xung đột cục bộ, 1914-1940) (1988) của Jeff Frieden đề cập chính sách
kinh tế đối ngoại của Mỹ dưới tác động của các cuộc khủng hoảng khu vực
Không đề cập các khía cạnh trong chính sách đối ngoại hay trong quan hệ Mỹ
- Nhật Bản như trên mà tập trung nghiên cứu từng sự kiện cụ thể diễn ra trong quan
hệ giữa hai nước là nội dung của nhóm bài viết về Mãn Châu, Trân Châu Cảng
Trong đó, đáng chú ý là các bài “Japan and Manchuria. Ambassador Forbes’
Appraisal of American policy toward Japan in the years 1931-1932” (Nhật Bản và
Mãn Châu: Đánh giá của đại sứ Forbes về chính sách của Mỹ đối với Nhật Bản
trong những năm 1931-1932) (1968) của G.A.Lessen. Thông qua việc tiếp cận
những ghi chép không được công bố của W.Cameron Forbes, đại sứ Mỹ tại Nhật từ
1930-1932, Lessen nghiên cứu tác động của sự kiện Nhật Bản chiếm Mãn Châu
năm 1931 và những sự kiện khác diễn ra ở Thượng Hải cùng thời gian này đến sự
chuyển hướng chính sách của Mỹ đối với Nhật. Bài viết “The Road to Pearl
Harbor: A reexamination of American Far Eastern Policy, July 1937-December
1938” (Đường đến Trân Châu Cảng: xem xét lại chính sách Viễn Đông của Mỹ từ
11
7-1937 đến 12-1938) (1971) của Frederick C.Adam. Trên cơ sở phân tích thực trạng
quan hệ Mỹ - Nhật Bản trong giai đoạn nêu trên, Frederick cho rằng chính sách của
Nhật trước khi diễn ra sự kiện Trân Châu Cảng. Bài viết “German Welpolitik and
the American two-front dilemma: The “Japanese Peril” in German-American
relations, 194-1917” (Chính sách toàn cầu của Đức và tình trạng lưỡng nan của Mỹ:
mối “hiểm họa Nhật Bản” trong quan hệ Đức - Mỹ 1904 -1917) (1996) của Ute
Mehnert bàn về tác động của “yếu tố Nhật Bản” đối với việc hoạch định chính sách
đối ngoại của Đế chế Đức và tình trạng lưỡng nan của Mỹ khi phải chọn lựa giải
pháp tập trung lực lượng ở Thái Bình Dương hay Đại Tây Dương. Bài viết “We
have opened the door to Tokyo: US plans to seize the Kurile Islands, 1943-1945”
(Kế hoạch đánh chiếm quần đảo Kurile của Mỹ 1943-1945) (1997) của Galen Roger
Perras nghiên cứu kế hoạch đánh chiếm quần đảo Kurile của Mỹ
2.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Trước năm 1975, để phục vụ công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, việc
nghiên cứu về Mỹ, đặc biệt là chính sách đối ngoại của Mỹ đã bước đầu được chú ý.
Các tác phẩm viết về Mỹ thời kỳ này chủ yếu là các bài nghiên cứu đăng trên các
tạp chí, thông báo khoa học đề cập chính sách xâm lược của chủ nghĩa đế quốc Mỹ
nói chung hoặc khai thác một số khía cạnh trong chính sách đối ngoại của Mỹ đối
với khu vực Đông Nam Á, Đông Á, Mỹ La tinh hay châu Phi. Có thể kể ra các bài
viết “Nhìn lại con đường xâm lược của chủ nghĩa đế quốc Mỹ trong thời kỳ lịch sử
cận đại” (1966), “Bước đầu xâm nhập của Mỹ vào Đông Nam Á” (1969) của Vũ
Dương Ninh; “Vài nét về chủ nghĩa thực dân kiểu mới của đế quốc Mỹ ở Đông
Nam Á từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai” (1969), của Nguyễn Quốc Hùng; “Vài
suy nghĩ về đặc điểm của chủ nghĩa thực dân Mỹ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX”
(1971) của Vũ Dương Ninh; “Chính sách của Mỹ ở Đông Nam Á trong thời kỳ
chiến tranh Thái Bình Dương 1941-1945” (1975) của Nguyễn Quốc Hùng; “Mâu
thuẫn Nhật - Mỹ quanh vấn đề Nhật chiếm Đông Dương” (1975) của Nguyễn Huy
Quýý Bên cạnh đó, cũng có một số cuốn sách ít nhiều đề cập chính sách đối ngoại
của Mỹ thông qua việc phân tích một số sự kiện và hội nghị quan trọng trong quan
hệ quốc tế như “Hội nghị Tê hê ran (28-11-1943 - 1-12-1943” (1962) của Nhà xuất
bản Sự thật, “Lịch sử chính trị và bang giao quốc tế (từ năm 1890 đến năm
1914)”(1972) của Ban Sử học - Đại học Văn khoa Sài Gòn, “Trận Trân Châu
Tuy chính sách của Mỹ đối với Nhật Bản chỉ được đề cập khái quát và chiếm một tỉ
lệ rất nhỏ nhưng những tác phẩm này đã cung cấp những kiến thức phong phú về
14
nhiều mặt của nước Mỹ, qua đó giúp người đọc có cái nhìn tổng thể và sâu sắc hơn
về vấn đề mà đề tài đặt ra.
Trong nhóm này, cũng có một số công trình nghiên cứu về chính sách đối
ngoại của Mỹ. Nhưng đặc điểm chung của những công trình này là không đề cập
hoặc đề cập rất ít về chính sách đối ngoại của Mỹ nửa đầu thế kỷ XX, mà tập trung
vào một thời kỳ lịch sử khác - thời kỳ sau chiến tranh lạnh.
Trong nhóm tác phẩm thứ hai, việc nghiên cứu được triển khai theo hai hướng
chính. Hướng thứ nhất là nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Nhật
Bản như một phần trong tổng thể các mối quan hệ quốc tế của các quốc gia trên thế
giới. Đó là “Lịch sử chiến tranh thế giới thứ hai” (1985) của Nguyễn Huy Quý,
“Quan hệ quốc tế thế kỷ XX” (2000) của Nguyễn Quốc Hùng, “Lịch sử quan hệ
quốc tế từ Chiến tranh thế giới thứ hai đến chiến tranh Triều Tiên (giai đoạn 1939-
1952)” (2005) của Phạm Giảng, “Sự thất bại của chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản”
(2005) của Nguyễn Quốc Hùng và Nguyễn Huy Quý, “Lịch sử quan hệ quốc tế:
Tập I” (tái bản lần thứ nhất năm 2006) do Vũ Dương Ninh chủ biên Hướng thứ
hai là nghiên cứu trực tiếp về chính sách đối ngoại và lịch sử quan hệ Mỹ - Nhật
Bản. Nhìn chung, những tác phẩm này đều tập trung nghiên cứu về một hoặc một số
mối quan hệ cơ bản giữa Mỹ và Nhật Bản (thông qua chính sách của từng nước thời
kỳ sau chiến tranh lạnh), từ đó rút ra những đặc điểm của mối quan hệ này và đưa ra
những nhận định về ảnh hưởng của mối quan hệ đó đối với sự phát triển của khu
vực châu Á - Thái Bình Dương trong tương lai.
Như vậy, có thể nói, trong khoảng hơn 20 năm trở lại đây đã có khá nhiều
công trình nghiên cứu ở dạng sách về Mỹ và chính sách đối ngoại của Mỹ đối với
Nhật Bản được xuất bản ở nước ta. Tuy nhiên, chưa có một công trình nào nghiên
cứu toàn diện về chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Nhật Bản trong nửa đầu thế
kỷ XX. Các công trình đã có hoặc nghiên cứu tổng thể các mặt của nước Mỹ hoặc
nghiên cứu các yếu tố chi phối chính sách đối ngoại Mỹ, bài viết “Chủ nghĩa biệt lệ
trong chính sách đối ngoại của Mỹ ” (2004) của Nguyễn Thị Nga lại đề cập đến yếu
tố khác. Đó là nguồn gốc, nội dung cơ bản và sự thay đổi ý nghĩa của chủ nghĩa biệt
lệ - một trong bốn tư tưởng chủ đạo chi phối chính sách đối ngoại của Mỹ qua các
đời tổng thống.
16
Không đi vào trình bày những vấn đề chung như các công trình nêu trên, một
số nhà nghiên cứu khác trực tiếp viết về nhiều khía cạnh khác nhau trong chính sách
đối ngoại của Mỹ nói chung, chính sách của Mỹ với Nhật Bản nói riêng. Có thể kể đến
một số bài đáng chú ý như “Sự hình thành tam giác quyền lực Đức - Mỹ - Nhật trong
những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và hệ quả của nó” (2001) của Nguyễn Văn
Tận; “Mỹ và Đông Á: nhìn từ lịch sử và hiện tại” (2006) của Nguyễn Quốc Hùng.
Ngoài ra, Nguyễn Kim Thoa cũng đề cập chính sách đối ngoại của Mỹ với Nhật
Bản những năm 1945-1952 trong luận văn thạc sĩ “Chính sách đối ngoại Mỹ trong thời
kỳ cầm quyền của Harry Truman (1945-1952)”. Tuy nhiên, nội dung này chỉ chiếm tỉ
lệ rất nhỏ (6 trên tổng số 112 trang chính văn).
Từ những công trình nghiên cứu trên, có thể rút ra một số nhận xét sau:
Một là, tại Mỹ và một số nước khác, chính sách đối ngoại của Mỹ và quan hệ
quốc tế giữa Mỹ với Nhật Bản được giới nghiên cứu rất quan tâm và đã đạt được
những kết quả nghiên cứu đáng kể. Tuy nhiên, những công trình này thiên về việc
nghiên cứu những nét khái quát của chính sách đối ngoại Mỹ nói chung hoặc về
từng khía cạnh, sự kiện cụ thể trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách đối
ngoại của Mỹ đối với Nhật Bản. Hơn nữa, do đây là những công trình nghiên cứu
của giới học giả nước ngoài nên dĩ nhiên phản ánh quan điểm và cách nhìn nhận của
giới nghiên cứu ở những nước đó.
Hai là, ở trong nước, đề tài “Chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Nhật Bản
nửa đầu thế kỷ XX” hầu như chưa được khai thác. Mặc dù cho đến nay, việc nghiên
cứu về Mỹ, chính sách đối ngoại của Mỹ nói chung và chính sách của Mỹ đối với
động gián tiếp đến Mỹ như cuộc chiến tranh Nga - Nhật. Vì vậy, chúng tôi cũng sẽ
đề cập thái độ và chính sách của Mỹ đối với những vấn đề ở Viễn Đông vào những
thời điểm có liên quan.
Về thời gian:Phạm vi nghiên cứu của đề tài là nửa đầu thế kỷ XX. Mốc mở
đầu cụ thể là từ chiến thắng của Nhật Bản đối với nước Nga Sa hoàng trong cuộc
chiến tranh 1904-1905. Tuy đây là sự kiện diễn ra ngoài nước Mỹ và chỉ liên quan
trực tiếp tới Nhật Bản, nhưng lại có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình hoạch
định chính sách của Mỹ đối với Nhật Bản. Việc nước Nhật vươn lên vị trí một
18
cường quốc trên Thái Bình Dương và trở thành thành viên “câu lạc bộ” các cường
quốc thế giới cùng với Anh, Đức, Mỹ đã khiến Nhật Bản trở thành một đối thủ,
một mối “hiểm họa‟ thực sự đối với Mỹ, đặc biệt là ở Thái Bình Dương.
Trải qua gần 50 năm với những thăng trầm, đến ngày 8-9-1951, Hiệp ước hòa
bình với Nhật Bản và Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật được ký kết. Tiếp đó, ngày 19-1-
1952, Hiệp ước hoà bình và Hiệp ước an ninh được Thượng viện Mỹ thông qua với
số phiếu thuận lần lượt là 66/10 và 58/9. Những hiệp ước này đã biến Nhật Bản
thành một “đồng minh phụ thuộc của Mỹ”, đặt nước Nhật dưới “ô bảo vệ hạt nhân”
của Mỹ, một khâu trọng yếu trong vành đai chống phá chủ nghĩa xã hội và phong
trào giải phóng dân tộc ở châu Á. Từ đây, quan hệ giữa hai nước bước sang một
trang mới. Tuy có những thăng trầm nhưng Mỹ luôn coi sự hợp tác Mỹ - Nhật là
nền tảng trong quan hệ quốc tế ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Vì những lý do
trên, chúng tôi giới hạn mốc cuối của luận án vào năm 1952.
Về vấn đề nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu quá trình hoạch định, thực thi và kết
quả của chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Nhật Bản nửa đầu thế kỷ XX. Việc tái
hiện này được thực hiện chủ yếu dựa trên những chính sách do Mỹ đề ra, những yếu
tố tác động đến việc đưa ra những chính sách cụ thể của Mỹ trong quan hệ với Nhật
Bản. Nhưng, trong trường hợp cần thiết, để làm sáng tỏ cơ chế vận hành của quá
trình này cũng như tác động qua lại trong quan hệ hai nước, luận án cũng khái quát
những nét cơ bản về chính sách đối ngoại của Nhật Bản qua từng giai đoạn lịch sử.
trước hết chúng tôi dựa trên các phương pháp nghiên cứu cơ bản của chủ nghĩa
Mác-Lênin là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Những
quan điểm về sự vận động của lịch sử loài người, phép biện chứng của sự phát triển,
các quy luật vận động, nguyên lý phát triển, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và
phát triển là nền tảng để chúng tôi xử lý các nguồn tài liệu và phân tích, đánh giá
các sự kiện, vấn đề nảy sinh trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách đối
ngoại của Mỹ đối với Nhật Bản. Theo đó, mọi vấn đề liên quan đến chính sách của
Mỹ đối với Nhật Bản đều được xem xét, đánh giá trong xu thế phát triển của lịch
sử, trong tổng hòa các mối liên hệ và dưới tác động của các yếu tố trong và ngoài
nước ở từng thời điểm lịch sử cụ thể.
“Chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Nhật Bản trong nửa đầu thế kỷ XX” là
một đề tài lịch sử, nên các phương pháp nghiên cứu lịch sử và phương pháp logic
20
luôn được sử dụng chủ yếu trong luận án. Với phương pháp lịch sử, quá trình hoạch
định và thực thi chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Nhật Bản được tái hiện theo
trình tự thời gian với những chi tiết, những thành tố cụ thể cũng như vai trò của
những chi tiết, thành tố ấy. Với phương pháp logic, dựa trên các tư liệu về chính
sách đối ngoại của Mỹ, lịch sử phát triển của chính sách này sẽ được phản ánh một
cách khái quát trên những giai đoạn chủ yếu nhằm lý giải các hiện tượng, tìm hiểu
nguyên nhân chi phối quá trình hoạch định chính sách đối ngoại của Mỹ và bản chất
của chính sách này.
Bên cạnh việc sử dụng những phương pháp chủ yếu nêu trên, với đối tượng
nghiên cứu “Chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Nhật Bản trong nửa đầu thế kỷ
XX” - cũng là một hiện tượng quan hệ quốc tế, chúng tôi kết hợp vận dụng những
phương pháp riêng của môn khoa học này như phương pháp nghiên cứu quan hệ
quốc tế, phương pháp khảo sát kinh tế, phương pháp phân tích tổng thể và toàn cục,
phương pháp phân tích so sánh, lý thuyết về nguyên nhân xung đột quốc tế, các
quan điểm về chủ thể và lợi ích trong quan hệ quốc tế Theo đó, chính sách đối
ngoại của Mỹ đối với Nhật Bản được đặt trong bối cảnh quan hệ quốc tế; được xem